1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN HÀ THỊ HƯƠNG HOA
NGHIÊN CỨU MỐI QUAN HỆ GIỮA FOLKLORE
VÀ VĂN HỌC VIẾT QUA TRƯỜNG HỢP THƠ Á NAM
TRẦN TUẤN KHẢI VÀ TẢN ĐÀ NGUYỄN KHẮC HIẾU
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Văn học
LUẬN VĂN THẠCH SĨ CHUYÊN NGÀNH VĂN HỌC
MÃ SỐ: 60.22.36
Người hướng dẫn: PGS. TS Nguyễn Phạm Hùng Hà Nội - 2011
5
2.2. Ảnh hưởng của văn học dân gian trong thơ của nhà thơ Á Nam Trần
Tuấn Khải 44
2.2.1. Nội dung tư tưởng 44
2.2.2. Nghệ thuật 53
2.2.2.1. Ngôn ngữ thơ 53
2.2.2.2. Thể loại thơ 56
Tiểu kết chương 2: 65
CHƯƠNG 3: ẢNH HƯỞNG CỦA VĂN HỌC DÂN GIAN TRONG THƠ
CỦA TẢN ĐÀ NGUYỄN KHẮC HIẾU 66
3.1. Cuộc đời và sự nghiệp sáng tác 66
3.1.1. Cuộc đời 66
3.1.2. Sự nghiệp sáng tác 67
3.2. Ảnh hưởng của văn học dân gian trong thơ của nhà thơ Tản Đà 69
3.2.1. Nội dung tư tưởng 69
3.2.2. Nghệ thuật 79
3.2.2.1. Ngôn ngữ thơ 79
3.2.2.2. Thể loại thơ 84
Tiểu kết chương 3: 96
KẾT LUẬN 97
TÀI LIỆU THAM KHẢO 100 MỞ ĐẦU
một cách bao quát, toàn diện để chỉ ra một cách có hệ thống ảnh
hưởng đa dạng của văn học dân gian trong tác phẩm nghệ thuật của
văn học viết.
Chính vì vậy, luận văn của chúng tôi hướng tới nghiên cứu
mối quan hệ giữa folklore và văn học viết, trong đó tập trung vào
nghiên cứu mối quan hệ giữa văn học dân gian và văn học viết, cụ
thể nghiên cứu trường hợp thơ Á Nam Trần Tuấn Khải và thơ Tản
Đà Nguyễn Khắc Hiếu. Để từ đó tìm ra mối quan hệ đa dạng và
phong phú của hai phương thức nghệ thuật này.
Tản Đà là nhà thơ lớn của dân tộc Việt Nam. Đã có nhiều công
trình nghiên cứu, giới thiệu về thơ Tản Đà. Song, có thể nói từ trước
tới nay hầu như ít có công trình nào đặt vấn đề nghiên cứu thơ Tản
Đà như một hệ thống nghệ thuật trong mối tương quan với văn học
dân gian nói riêng và văn hóa dân gian nói chung. Nghiên cứu về nhà
thơ Tản Đà, phần lớn các nhà nghiên cứu quan tâm đến Tản Đà –
kiểu nhà thơ giao thời, chú ý đến Tản Đà với những cái mới lạ không
ai có mà quên mất rằng chính những nét dân gian trong thơ ông mới
tạo nên những giá trị nghệ thuật đặc sắc.
Cũng như Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu, Á Nam Trần Tuấn Khải
là chiếc cầu nối giữa thế hệ các nhà thơ cũ đang tàn lụi và các nhà
thơ mới trong bước đầu khởi sắc. Cả hai đều là những nhà thơ có tinh
thần dân tộc, đưa thơ về với các thể tài ca dao, dân ca và các thể tài
dân tộc,
Vì những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài cho luận văn Thạc sĩ
của mình: Nghiên cứu mối quan hệ giữa folklore và văn học viết
qua trường hợp thơ Á Nam Trần Tuấn Khải và Tản Đà Nguyễn
Khắc Hiếu
2. Lịch sử vấn đề
Trên thế giới, vấn đề ảnh hưởng qua lại giữa folkore và văn
Anđrêép, L.I. Êmêlianốp…
Ở Việt Nam, việc nghiên cứu mối quan hệ giữa văn học dân
gian và văn học viết được tiến hành tương đối muộn so với ở Nga và
một số nước khác trên thế giới. Chúng ta có thể kể đến công trình
nghiên cứu của Đinh Gia Khánh, Chu Xuân Diên, Võ Quang Nhơn,
Đỗ Bình Trị, Cao Huy Đỉnh, Lê Chí Quế…
3. Mục đích nghiên cứu
Qua việc nghiên cứu mối quan hệ giữa fofklore và văn học
viết; nghiên cứu ảnh hưởng của văn học dân gian, thơ ca dân gian đối
với thơ Á Nam Trần Tuấn Khải và Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu, luận
văn hướng tới việc xác định rõ vai trò của văn học dân gian nói
chung, thơ ca dân gian nói riêng đối với sáng tác của các tác phẩm
văn học thành văn. Mặt khác, có thể làm nổi bật tài năng nghệ thuật
của hai nhà thơ lớn của dân tộc Việt Nam: Á Nam và Tản Đà.
4. Phạm vi đề tài và phương pháp nghiên cứu.
4.1. Phạm vi đề tài
Tiêu điểm của đề tài là trên cơ sở lý luận chung của mối quan
hệ giữa hai hệ thống thẩm mỹ văn học dân gian và văn học viết, áp
dụng nghiên cứu trường hợp của hai nhà thơ nổi tiếng, đó là Á Nam
Trần Tuấn Khải và Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu.
Hơn nữa, với những hạn chế về mặt thời gian và cấu trúc luận
văn, chúng tôi xin giới hạn chỉ nghiên cứu tác động của văn học dân
gian tới thơ của hai nhà thơ này mà chưa nghiên cứu chiều hướng
ngược lại.
4.2. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu: Phương pháp
nghiên cứu văn học sử, Phương pháp nghiên cứu loại hình học. Bên
cạnh đó chúng tôi cũng sử dụng các thao tác khảo sát, so sánh, đối
Thuật ngữ folklore do nhà nhân chủng học người Anh, ông
William Thoms sử dụng đầu tiên vào năm 1846 với ý nghĩa là những
di tích của nền văn hóa vật chất và chủ yếu là di tích của nền văn hóa
tinh thần như phong tục, đạo đức, tín ngưỡng, những bài dân ca,
những câu chuyện kể của cộng đồng.
Nghiên cứu về folklore các nhà nghiên cứu trên thế giới có
nhiều quan niệm khác nhau. Ở Việt Nam đáng chú ý là quan niệm
của Đinh Gia Khánh: folklore (văn hoá dân gian) bao gồm toàn bộ
văn hóa tinh thần của nhân dân được tiếp cận dưới giác độ thẩm mĩ.
1.1.2. Văn học dân gian
Ở Việt Nam, văn học dân gian còn được gọi là văn chương
bình dân (hoặc văn học bình dân, văn chương hoặc văn học đại
chúng), văn chương truyền khẩu (hoặc văn học truyền khẩu, văn
chương hoặc văn học truyền miệng), văn nghệ dân gian, sáng tác
dân gian, v.v…
Khái niệm văn học dân gian mà các nhà nghiên cứu hiện nay
sử dụng khác với khái niệm văn hóa dân gian, cũng khác với khái
niệm văn nghệ dân gian.
Theo các nhà nghiên cứu Đinh Gia Khánh, Chu Xuân Diên,
Võ Quang Nhơn: “Văn học dân gian là sáng tác tập thể, truyền
miệng của nhân dân lao động, ra đời từ thời kỳ công xã nguyên thủy,
trải qua các thời kỳ phát triển lâu dài trong các chế độ xã hội có giai
cấp, tiếp tục tồn tại trong thời đại hiện nay”
Văn học dân gian có các đặc trưng cơ bản sau: Tính nguyên
hợp, tính tập thể, gắn liền với sinh hoạt của nhân dân.
1.1.3. Văn học viết
Nền văn học viết Việt Nam bắt đầu bằng văn học chữ Hán, đến
văn học được viết bằng chữ Nôm và sau đó là văn học viết bằng chữ
quốc ngữ.
thức dân tộc, lòng yêu nước trực tiếp hoặc gián tiếp qua từng chi tiết,
hình ảnh.
Tóm lại, văn học dân gian và văn học viết vừa có điểm tương
đồng vừa có điểm dị biệt. Đó là hai loại hình nghệ thuật, hai hệ thống
thẩm mỹ độc lập có tác động qua lại lẫn nhau.
1.3. Mối quan hệ giữa văn học dân gian và văn học viết
trong lịch sử văn học.
1.3.1. Quy luật chung
Từ xa xưa, không ai là không thể phủ nhận vai trò của nền văn
học dân gian, nó có vai trò to lớn đối với văn học viết. Mối quan hệ
giữa văn học dân gian và văn học viết có tính chất nhiều giai đoạn,
tính chất nhiều mặt. Do vậy, khó có thể tìm ra một quy luật tổng
quát, vừa bao trùm được nhiều phương diện. Vừa phản ánh được tính
lịch sử của mối quan hệ đó. Theo Lê Kinh Khiên, có thể nêu lên quy
luật của mối quan hệ giữa văn học dân gian và văn học viết trên các
mặt sau:
Trên bình diện nội dung ý thức hệ:
- Dưới chế độ xã hội cũ, mối quan hệ giữa văn học dân gian –
văn học viết nằm trong quy luật chung về mối liên hệ tác động qua
lại giữa “hai nền văn hóa trong mỗi nền văn hóa dân tộc”
- Trong thời kỳ nhân dân lao động đã làm chủ xã hội, mối
quan hệ giữa văn học viết hiện đại – văn học cách mạng, văn học
hiện thực xã hội chủ nghĩa với bộ phận văn học dân gian cổ truyền
nằm trong quy luật của mối quan hệ kế thừa và cách tân, kế thừa có
chọn lọc, có phê phán và có sáng tạo vốn văn học dân gian.
Trên bình diện sáng tạo nghệ thuật, quy luật của mối quan hệ
về mặt ngôn ngữ, giọng điệu và các biện pháp tu từ. Các tác giả của
nền văn chương bác học đã lấy những thành ngữ, tục ngữ, những lời
ăn tiếng nói hàng ngày của quần chúng nhân dân làm phong phú cho
các tác phẩm của mình.
Ngược lại, các tác giả dân gian đã sử dụng văn liệu, thi liệu của
văn học viết để làm cho đời sống tinh thần của họ ngày càng trở nên
phong phú hơn, sinh động hơn. Hơn nữa, họ cũng học tập được nhiều
điều bổ ích từ sáng tác của các nhà văn, nhà thơ chuyên nghiệp. Họ
đã khai thác không ít điển cố, điển tích, từ ngữ, hình ảnh… trong văn
học viết để đưa vào các bài vè, câu hát… của họ.
Tóm lại, sự ảnh hưởng giữa hai nền văn học, nghệ thuật là diễn
ra theo hai chiều, trên nhiều phương diện, theo nhiều cấp độ khác
nhau. Cũng như nhiều tác phẩm văn học khác, văn học dân gian cũng
ảnh hưởng đến thơ Á Nam Trần Tuấn Khải và thơ Tản Đà Nguyễn
Khắc Hiếu trên nhiều bình diện, và có nhiều phương thức thể hiện
khác nhau
Tiểu kết chương I:
Văn học dân gian và văn học viết là hai loại hình nghệ thuật
khác nhau nhưng có mối quan hệ tương hỗ lẫn nhau. Mối quan hệ
này nằm trong những quy luật nhất định.
Sự tác động của văn học dân gian tới những tác giả của văn
học viết là khác nhau. Riêng đối với Á Nam Trần Tuấn Khải và Tản
Đà Nguyễn Khắc Hiếu, sự ảnh hưởng này diễn ra vô cùng mạnh mẽ,
ở nhiều phương diện.
CHƯƠNG 2
ẢNH HƯỞNG CỦA VĂN HỌC DÂN GIAN
TRONG THƠ CỦA Á NAM TRẦN TUẤN KHẢI
- Năm 1875, Trần Tuấn Khải viết bài thơ Mừng anh khóa về
để tỏ lòng mừng vui trước niềm vui chung của đất nước.
Gần một thế kỷ sống và viết, Á Nam Trần Tuấn Khải đã để
lại một sự nghiệp trước tác không nhỏ: khoảng 30 tác phẩm gồm
nhiều thể loại từ thơ ca, văn xuôi, đến nghiên cứu, dịch thuật. Trong
kho tàng đó, nét đặc sắc làm nên thành công của ông là những đóng
góp về mặt thơ ca.
2.2. Ảnh hưởng của văn học dân gian trong thơ của nhà
thơ Á Nam Trần Tuấn Khải
2.2.1. Ảnh hưởng của văn học dân gian trong nội dung tư
tưởng
Thơ Trần Tuấn Khải thường nói nhiều đến cha con, nghĩa vợ
chồng, tình làng nghĩa nước, nghĩa đồng chủng, đồng bào, lòng thủy
chung, nhân ái… Thơ ông đậm chất dân gian. Điều này thể hiện rõ ở
mảng đề tài, chủ đề mà thi nhân lựa chọn cho những tác phẩm của
mình.
Trước hết, phải kể đến những bài thơ có tiêu đề, đề tài gắn
với cuộc sống sinh hoạt thường nhật của người bình dân: Ở nhà quê,
Khóc cái quạt, Cái quạt giấy…
Có thể nói, đề tài, nhân vật, cảnh vật trong các tập thơ của
nhà thơ Á Nam là những gì rất gần gũi với cuộc sống thôn dã. Mảng
đề tài này xuất hiện nhiều trong thơ ca dân gian, trở nên quen thuộc,
gần gũi và gắn bó sâu sắc với đời sống tinh thần của người dân lao
động
Thứ hai, theo khảo sát chúng tôi Á Nam Trần Tuấn Khải rất
quan tâm, chú ý đến đề tài về người phụ nữ - một mảng đề tài xuất
hiện nhiều và quen thuộc trong ca dao, tục ngữ:
Dưới chế độ cũ, người phụ nữ lao động là nạn nhân của
nhiều tầng lớp áp bức và là hạng người đau khổ nhất. Vì thế trong ca
nước.
Hệ thống chủ đề, đề tài và hình tượng nghệ thuật trong thơ
ca Á Nam Trần Tuấn Khải hết sức đa dạng và phong phú. Thơ ông
đã khắc họa được những nét đẹp vốn có trong dòng thơ ca dân gian,
tái hiện lại cuộc sống của dân tộc Việt Nam với những hình ảnh của
cuộc sống lao động giản dị, gần gủi; với những hình ảnh, sự kiện,
con người hào hùng của lịch sử; với những danh lam thắng cảnh trữ
tình, thiết tha của non sông đất nước… Thơ Á Nam Trần Tuấn Khải
vì vậy mà đậm hồn dân gian và đậm đà bản sắc dân tộc. Ảnh hưởng của văn học dân gian trong nghệ thuật
2.2.2.1. Ngôn ngữ thơ
Ngôn ngữ trong thơ Á Nam Trần Tuấn Khải là ngôn ngữ của
ca dao, dân ca; là ngôn ngữ của những câu ca, điệu múa truyền thống
của dân gian, dân tộc
Thơ của ông là những bài thơ ít đẽo ngọt, tự nhiên, gần gũi với
đời sống của người bình dân, người dân lao động.
Thơ Á Nam sử dụng ngôn ngữ nói, giản dị, tự nhiên của quần
chúng. Nhà thơ, sử dụng tài tình các mô típ, công thức của ca dao,
tục ngữ, thành ngữ Việt Nam: Cố đấm ăn xôi; Xanh như lá, bạc như
vôi…
2.2.2.2. Thể loại thơ
Trong buổi giao thời mưa Âu gió Mỹ, văn học có hai hướng
chuyển mình lớn. Hướng thứ nhất là cách tân theo những trào lưu
mới, những hình thức mới của Tây phương, và hướng thứ hai dựa
vào truyền thống cách tân để sáng tạo. Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu và
Á Nam Trần Tuấn Khải là hai nhà văn tiêu biểu cho trào lưu văn học
thứ hai.
Nhắc đến Á Nam Trần Tuấn Khải, không thể không nhắc đến
thể loại hát ả đào – ca trù. Trần Tuấn Khải sáng tác không nhiều bài
thơ theo thể loại này. Cũng là một điệu nhạc của dân gian truyền
thống, nhưng ở Á Nam thể loại này không thành công bằng các “câu
hát vặt”, và không đặc sắc bằng những điệu hát của Tản Đà. Nhưng
với loại hình biểu diễn nghệ thuật pha trộn giữa âm nhạc và thi ca
này Á Nam cũng đã thể hiện sự ảnh hưởng sâu sắc của các bộ môn
nghệ thuật dân gian dân tộc Kinh nói riêng và văn hóa dân gian của
dân tộc nói chung.
Tiểu kết chương 2:
Chương 2 tập trung tìm hiểu ảnh hưởng của thơ ca dân gian
nói riêng, văn học dân gian nói chung tới thơ ca Á Nam Trần Tuấn
Khải.
Khảo sát thơ Á Nam Trần Tuấn Khải, chúng ta thấy một mặt
thơ ông chịu ảnh hưởng của thơ ca dân gian, văn học dân gian và
thậm chí là văn hóa dân gian. Mặt khác thơ ông cũng ảnh hưởng, tác
động trở lại đối với nền văn học dân gian. Sự tác động ngược lại này
đã khẳng định được tài năng nghệ thuật độc đáo của nhà thơ.
CHƯƠNG 3
ẢNH HƯỞNG CỦA VĂN HỌC DÂN GIAN
TRONG THƠ CỦA TẢN ĐÀ NGUYỄN KHẮC HIẾU
3.1. Cuộc đời và sự nghiệp sáng tác
3.1.1. Cuộc đời
Tản Đà tên thật là Nguyễn Khắc Hiếu, sinh ngày 8 tháng 5
năm 1889 ở làng Khê Thượng, huyện Bất Bạt, tỉnh Sơn Tây.
Nguyễn Khắc Hiếu sinh trưởng trong một gia đình dòng dõi
khoa bảng đời Lê. Thân mẫu là người có ảnh hưởng sâu sắc và vai
trò to lớn trong sự nghiệp văn chương của Tản Đà. Nhờ có bà,
Nguyễn Khắc Hiếu thông thạo cả tuồng chèo và dân ca.
những nhà Nho phong nhã lớp trước, ông thông thạo ca trù, thơ song
thất và lục bát. Đặc biệt, Tản Đà nắm vững các làn điệu dân ca của
nhiều vùng miền khác nhau, am hiểu các thể loại nghệ thuật dân gian
một cách sâu sắc. 3.2. Ảnh hưởng của văn học dân gian trong thơ của nhà
thơ Tản Đà
3.2.1. Ảnh hưởng của văn học dân gian trong nội dung tư
tưởng
Từ một nhà thơ giao thời Tản Đà đã tìm đến thơ ca dân gian
như tìm về với suối nguồn trong mát của quê hương. Từ đó, ông tạo
cho thơ mình tiếng nói tự nhiên, tự do, phóng khoáng, bộc bạch chân
thực tâm tư của mình. Nền văn hóa dân gian của quần chúng nhân
dân lao động ăn sâu và tiềm thức, tâm khảm của Tản Đà. Ông đã
sáng tác nên những áng thơ đậm đà tính dân gian trong nghệ thuật,
đậm đà tính dân tộc và tính nhân dân trong nội dung. Người ta không
chỉ tìm thấy sự ảnh hưởng đơn lẻ, nhỏ lẻ của các tác phẩm dân gian
trong sáng tác của Tản Đà, mà ảnh hưởng đó chạy suốt quá trình
sáng tác của ông. sự ảnh hưởng ấy không chỉ thể hiện ở những câu,
những chữ, những mô típ… mà sâu xa hơn nữa, chúng ta thấy tính
chất dân gian ăn sâu vào tư tưởng, tình cảm của tác giả, ăn sâu vào
mạch nguồn cảm xúc của tác phẩm.
Hệ thống chủ đề, đề tài mà nhà thơ Tản Đà lựa chọn đa dạng,
phong phú, gần gũi với cuộc sống của nhân dân lao động và đây
cũng chính là những nội dung thuộc kiểu nhà thơ dân gian đã sử
dụng.
Thứ nhất, thơ Tản Đà thể hiện lòng yêu nước và tinh thần dân
tộc một cách sâu sắc. Ông thường sử dụng hình tượng nhân vật, chủ
đề, đề tài từ trong các truyền thuyết lịch sử để xây dựng nên các tứ
nói của ca dao, dân ca vào trong sáng tác của mình