5 MỤC LỤC
MỞ ĐẦU Error! Bookmark not defined.
1.Lý do chọn đề tài Error! Bookmark not defined.
2. Lịch sử vấn đề 4
3. Mục đích nghiên cứu 1Error! Bookmark not defined.
4. Phạm vi đề tài và phương pháp nghiên cứu. 13
5. Cấu trúc luận văn 14
NỘI DUNG Error! Bookmark not defined.
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ MỐI QUAN HỆ
GIỮA FOLKLORE VÀ VĂN HỌC VIẾT 16
1.1. Thuật ngữ 16
1.1.1. Folklore 16
1.1.2. Văn học dân gian Error! Bookmark not defined.0
1.1.3. Văn học viết 2Error! Bookmark not defined.
1.2.Văn học dân gian, văn học viết: điểm khác biệt và tương đồng Error!
Bookmark not defined.4
1.3. Mối quan hệ giữa văn học dân gian và văn học viết trong lịch sử văn
học. Error! Bookmark not defined.9
1.3.1. Quy luật chung Error! Bookmark not defined.9
1.3.2. Các phương thức biểu hiện trong mối quan hệ giữa văn học dân
gian và văn học viết 30
Tiểu kết chương I: 37
CHƯƠNG 2: ẢNH HƯỞNG CỦA VĂN HỌC DÂN GIAN TRONG THƠ
CỦA Á NAM TRẦN TUẤN KHẢI 39
2.1. Cuộc đời và sự nghiệp sáng tác 39
2.1.1. Cuộc đời 39
2.1.2. Sự nghiệp văn chương 41
1
MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài
Trong sự hình thành và phát triển nền văn học của một dân tộc, văn hóa dân
gian đóng vai trò rất quan trọng. Nói cách khác, sáng tác dân gian là một trong
những cơ sở, nền tảng của văn học viết, là chặng đầu của nền văn học của dân
tộc. Chính đời sống tinh thần của mọi thời đại đã chứng kiến mối quan hệ giữa
folklore – văn hóa dân gian và văn học là một quá trình thực tế và liên tục. Sự
ảnh hưởng của sáng tác dân gian truyền thống không chỉ bó hẹp ở một ngành hay
một lĩnh vực nào đó mà diễn ra trên một phạm vi rộng, bao gồm cả văn học, sân
khấu, âm nhạc, vũ đạo, hội họa, kiến trúc, điêu khắc…
Folkore hay còn gọi là văn hóa dân gian, là toàn bộ kho trí thức, trí tuệ, cách
nhận thức của dân chúng, là toàn bộ các lĩnh vực sáng tạo văn hóa của quần
chúng nhân dân. Văn hóa dân gian tồn tại và phát triển từ lâu đời. Thuở mà con
người chưa có chữ viết, văn hóa dân gian được truyền bá chủ yếu bằng phương
pháp truyền miệng, bằng các động tác làm mẫu để người khác làm theo…
Việc tìm hiểu mối quan hệ giữa văn hóa dân gian nói chung với văn học viết
là một vấn đề được giới nghiên cứu ngữ văn và folklore rất quan tâm. Từ trước
tới nay, các nhà nghiên cứu luôn chú ý tới mối quan hệ giữa folklore và văn học
dân gian; mối quan hệ giữa folklore và văn học viết và mối quan hệ giữa văn học
dân gian và văn học viết.
Văn học dân gian, một thành tố của folklore ngôn từ có mối quan hệ chặt
chẽ với các folklore dân gian khác như folklore tạo hình, folklore biểu diễn, lễ
hội dân gian, trò chơi dân gian, và các truyền thống dân gian khác… Đặt tác
phẩm văn học dân gian trong mối quan hệ với văn hóa dân gian, các nhà nghiên
Nghiên cứu mối quan hệ giữa văn học dân gian và văn học viết ở nước ta từ
trước đến nay là một vấn đề thu hút được nhiều nhà khoa học quan tâm. Mối
quan hệ này được nghiên cứu, xem xét trên hai phương diện chính: phương diện
3 lý luận chung và phương diện lịch sử văn học. Nhưng, dù nghiên cứu ở phương
diện nào, thì mục đích cuối cùng của các nhà nghiên cứu là muốn khẳng định vai
trò của mỗi loại hình văn học, qua đó, xem xét số phận lịch sử của những loại
hình nghệ thuật đặc thù này.
Trong khoa nghiên cứu ngữ văn và khoa nghiên cứu Folkore ở Việt Nam,
vấn đề này đã được đặt ra với những gợi mở bước đầu cho những nghiên cứu
đồng bộ và chuyên sâu. Theo ông Võ Quang Trọng: “Một số bài viết trên tạp chí
văn học và trên các tạp chí chuyên ngành khác, một số chương trong các giáo
trình ở bậc đại học và một vài chuyên luận… ít nhiều đã đề cập đến từng khía
cạnh của vấn đề này, nhưng phần lớn các công trình còn giới hạn ở những phạm
vi nhất định” [64; 6]. Người ta quen và thường chú trọng đi tìm những dấu vết
vật chất, tức những dấu hiệu tồn tại dưới hình thức ngôn ngữ của văn học dân
gian trong các tác phẩm văn học. Phổ biến nhất là tìm hiểu cách viện dẫn, tục
ngữ, ca dao, dân ca và việc sử dụng các mô típ, hình ảnh…của văn học dân gian
trong sáng tác của nhà văn. Theo các nhà nghiên cứu, hướng tiếp cận như vậy
thường thiên về những hình thức biểu hiện nghệ thuật mà chưa đi vào tìm hiểu
một cách bao quát, toàn diện để chỉ ra một cách có hệ thống ảnh hưởng đa dạng
của văn học dân gian trong tác phẩm nghệ thuật của văn học viết.
Chính vì vậy, luận văn của chúng tôi hướng tới nghiên cứu mối quan hệ giữa
folklore và văn học viết, trong đó tập trung vào nghiên cứu mối quan hệ giữa văn
học dân gian và văn học viết, cụ thể nghiên cứu trường hợp thơ Á Nam Trần
Tuấn Khải và thơ Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu. Để từ đó tìm ra mối quan hệ đa
dạng và phong phú của hai phương thức nghệ thuật này.
nghiên cứu của nhiều thế hệ các nhà khoa học và đã đạt được nhiều thành tựu
đáng kể. Người ta tiến hành nghiên cứu tiến trình phát triển nền văn học của một
dân tộc trong mối tương quan với sáng tác dân gian; sự ảnh hưởng qua lại của
văn học viết và folkore trong từng giai đoạn, từng thời kỳ; tìm hiểu vai trò của
sáng tác dân gian trong một số tác phẩm của các nhà văn, nhà thơ… Nhiều công
trình nghiên cứu của các nhà folkore và ngữ văn Nga cũng như ở các nước thuộc
Liên Xô (cũ) đã ra đời và được đánh giá cao trong giới khoa học quốc tế.
5 Trong khoa nghiên cứu ngữ văn và khoa nghiên cứu folklore Việt Nam, vấn
đề này đã được đặt ra nhưng chỉ mới là những gợi mở bước đầu mà chưa được
tiến hành một cách đồng bộ và chuyên sâu. Một số bài viết trên Tạp chí Văn học
và trên các tạp chí chuyên ngành khác, một số chương trong các giáo trình ở bậc
đại học và một vài chuyên luận… ít nhiều đã đề cập đến từng khía cạnh của vấn
đề này, nhưng phần lớn các công trình còn giới hạn ở những phạm vi nhất định.
Ở châu Âu, văn học dân gian đã ảnh hưởng đến văn học từ rất sớm và phát
triển mạnh vào thời kỳ xuất hiện chủ nghĩa cổ điển và chủ nghĩa lãng mạn. Sự
phong phú và đa dạng trong việc khai thác chất liệu folklore trong sáng tác văn
học bắt đầu từ thế kỷ XV - XVI. Nhiều vấn đề được đặt ra và thật sự gây một sự
chú ý đối với các nhà văn trong việc tiếp thu kinh nghiệm nghệ thuật dân gian
truyền thống vào sáng tạo văn học. Chẳng hạn như tính đặc thù bản địa, các giá
trị biểu cảm, hệ thống các chất liệu phù hợp với yêu cầu sáng tác văn học… Nhìn
chung folklore truyền thống đã góp phần đắc lực vào việc hình thành nên chủ
nghĩa nhân văn ở châu Âu.
Nền văn học Mỹ - La tinh tiếp thu mạnh mẽ truyền thống sáng tác dân gian
như đề tài, mô típ, từ ngữ, cảm hứng nghệ thuật và phương thức cảm thụ thế giới
của các loại hình tự sự dân gian, nhất là huyền thoại. Từ đó làm nảy sinh trong
văn học các nước này “Chủ nghĩa hiện thực huyền ảo”. Đây là phương thức sáng
cứu tính chất của văn học dân gian là nghiên cứu chính quá trình sáng tạo của nhà
văn.
Về lý luận, đáng quan tâm nhất là bài báo: “Nghiên cứu mối quan hệ giữa
văn học và văn học dân gian”
2
của L.I. Êmêlianốp. Bài báo của ông có ý nghĩa
quan trọng trong việc đặt ra phương pháp luận nghiên cứu mối quan hệ này. Theo
ông, việc nghiên cứu mối quan hệ giữa văn học dân gian và văn học viết cần vận
dụng phương pháp lịch sử - văn học. Và chính những phương pháp đó đã được
nhiều nhà nghiên cứu áp dụng để khám phá tính chất văn học dân gian trong sáng
tác của nhà văn. Chẳng hạn I.X. Prapđina, A.A. Morđivinsep về tính chất văn học
1
. N. P. Andrêép, Văn học dân gian và văn học, Học văn, 1936, số 2
2
. L.I. Êmêlianốp, Nghiên cứu mối quan hệ giữa văn học và văn học dân gian, Trong cuốn
Những vấn đề phương pháp luận nghiên cứu văn học, Matsxcơva – Lêningrát. NXB Khoa
Học, 1966
7 dân gian trong thơ Maiakốpxki; V.P. Anhikin về ý nghĩa của thơ ca dân gian
trong sự phát triển sáng tạo của A.N.Tônxtôi…
Với phương pháp kết hợp phân tích những đặc trưng của sáng tác dân gian
với những đặc điểm dân tộc học, V.K. Xôcôlốp có bài: “Tư liệu folkore và dân
tộc học ở Gôgôn”
1
. Phương pháp này đã xác định được vai trò của lối sống dân
gian và văn hóa dân gian trong hoạt động sáng tạo của nhà văn.
4
. Đ.N. Međris, Văn học và văn học dân gian, Mátxcơva, NXB Khoa học, 1981
8 Trước cách mạng tháng Tám, trong bài báo “Nguồn gốc văn Kiều – Hát
Phường vải”
1
Hoàng Xuân Hãn là một trong số những người đầu tiên nghiên cứu
ảnh hưởng của hát Phường vải đối với kiệt tác Truyện Kiều của nhà văn Nguyễn
Du. Nhưng phải đến mười năm về sau, trong cuốn “Đại cương về văn học sử Việt
Nam”, vấn đề mối quan hệ giữa văn học dân gian và văn học viết lần đầu tiên
được Nguyễn Khánh Toàn đặt ra đúng với tầm quan trọng của nó.
Ở phương diện lý luận về hai hệ thống nghệ thuật của mối quan hệ văn học
dân gian và văn học viết, trước tiên phải kể đến các công trình nghiên cứu của
các tác giả Đinh Gia Khánh, Chu Xuân Diên, Võ Quang Nhơn về "Văn học dân
gian Việt Nam"
2
, công trình nghiên cứu của Cao Huy Đỉnh về "Tìm hiểu tiến
trình văn học dân gian Việt Nam"
3
, công trình của Đỗ Bình Trị về "Nghiên cứu
tiến trình lịch sử của văn học dân gian Việt Nam"
4
. Nhìn chung, các công trình
nói trên không trình bày mối quan hệ này thành một hệ thống chuyên sâu mà rải
rác trong các chương mục, các nhà nghiên cứu đều đề cập đến mối quan hệ giữa
văn học dân gian và văn học viết thông qua đặc trưng của văn học dân gian, về
tính đặc thù của sự phát triển nền văn học viết trong mối tương quan với văn học
của Đỗ Bình Trị; “Vai trò của văn học dân gian trong sự phát
triển văn học dân tộc”
2
của Đặng Văn Lung; “Để nghiên cứu mối quan hệ giữa
văn học dân gian và văn học viết”
3
của Hà Công Tài; “Vài nét ý kiến sơ bộ về mối
quan hệ giữa văn học dân gian và văn học viết hiện nay”
4
của Bùi Công Hùng…
Về sự hình thành thể loại, Kiều Thu Hoạch có bài: “Vai trò của truyện kể
dân gian đối với sự hình thành các thể loại tự sự trong văn học Việt nam”
5
. Gần
đây, có công trình nghiên cứu của Võ Quang Trọng, bàn về: "Vai trò của văn học
dân gian Việt Nam trong văn xuôi hiện đại Việt Nam"
6
.
Trên phương diện lịch sử văn học, có khá nhiều bài viết đi vào khảo sát sự
ảnh hưởng của văn học dân gian đối với sáng tác của một số tác giả tiêu biểu như
Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Đình
Chiểu, Nguyễn Công Trứ, Tản Đà, Hồ Chí Minh Có thể kể ra hàng loạt công
trình nghiên cứu vai trò của folklore trong văn học viết như: "Tìm hiểu quan điểm
biên soạn và phương pháp biên soạn Việt điện u linh tập của Lý Tế Xuyên"
7
của
Nguyễn Đăng Na; “Bàn về yếu tố văn học dân gian trong Truyền kỳ mạn lục của
Nguyễn Dữ”
8
của Bùi Văn Nguyên; “Mối quan hệ giữa truyện nôm bình dân và
văn học dân gian”
1
của Vũ Tố Hảo; Đặc biệt là bài viết “Vai trò văn học học dân
gian trong văn học Việt Nam nói chung, Truyện Kiều nói riêng”
2
của Nguyễn
Khánh Toàn.
Về vấn đề này, Vũ Ngọc Phan viết bài: “Ảnh hưởng qua lại của Truyện Kiều
và thơ ca dân gian Việt Nam”
3
; Đặng Thanh Lê có bài: “Từ một kiệt tác văn học
– suy nghĩ về mối quan hệ ảnh hưởng giữa văn học dân gian và văn học viết”
4
.
Một số nhà nghiên cứu khác lại tìm hiểu ảnh hưởng của sáng tác dân gian
trong sáng tác của Hồ Xuân Hương. Nguyễn Đăng Na viết “Thơ Hồ Xuân Hương
với văn học dân gian”
5
; Đặng Thanh Lê viết: “Hồ Xuân Hương – bài thơ Mời
trầu, cộng đồng truyền thống và cá tính sáng tạo trong mối quan hệ giữa văn học
dân gian và văn học viết”
6
. Nghiên cứu về Nguyễn Đình Chiểu Tác giả Đặng
Văn Lung viết bài: “Nguyễn Đình Chiểu và văn học dân gian”
7
. Tiếp đến là công
công trình nghiên cứu của Trịnh Bá Đĩnh: “Tìm hiểu phong cách dân gian trong
thơ nôm Nguyễn Khuyến”
8
; của Nguyễn Khắc Xương: “Tản Đà và văn học dân
. Nguyễn Khắc Xương, Tản Đà và văn học dân gian, Tạp chí Văn học số 6, 1986
10
. Nguyễn Quốc Túy, Thi pháp dân gian trong thơ Nguyễn Bính, Tạp chí Văn học số 1, 1994
11 Thiền sư Khuông Việt (Thiền uyển tập anh ngữ lục)”
1
, và trực tiếp về ảnh hưởng
của văn học dân gian trong sáng tác của Á Nam Trần Tuấn Khải với bài “Triết lý
nghệ thuật trong thơ Á Nam Trần Tuấn Khải”
2
…
Đề cập đến mối quan hệ giữa văn học dân gian và văn học viết trên góc độ
lịch sử văn học, các nhà nghiên cứu cũng đề cập đến những tác giả lớn như Hồ
Chí Minh, Tố Hữu, Nguyễn Thi… những tác giả đã vận dụng chất dân gian đậm
nét. Tiêu biểu là bài viết của Nguyễn Phú Trọng: “Phong vị ca dao, dân ca trong
thơ Tố Hữu”
3
, của Hà Châu: “Bác Hồ với nguồn tục ngữ của dân tộc”
4
. Ở một
mức độ khái quát hơn, tác giả Nguyễn Xuân Kính có bài: “Về việc vận dụng thi
pháp ca dao trong thơ trữ tình hiện nay”
5
. Ở mảng truyện có bài viết của Đặng
Anh Đào: “Biển không có thủy thần”
6
và “Hai hình thức mới trong truyện ngắn
. Đặng Anh Đào, Hai hình thức mới trong truyện ngắn hiện nay, Tập bài phê bình và nghiên
cứu văn học, NXB Hội nhà văn, Hà Nội, 1995
8
. Lê Đình Kỵ: “Đối thoại với văn học dân gian và bản lĩnh của người viết, Tạp chí Văn học số
5, 1991
12 gian tiêu biểu: V. Ia. Prop, Stith Thompson, Đinh Gia Khánh; và dấu ấn tự sự dân
gian trong các nền văn học…
Trong hội thảo này, phải kể đến các nghiên cứu của Nguyễn Phạm Hùng:
“Yếu tố tự sự dân gian trong ngữ lục Thiền tông thời Lý – Trần” và “Ảnh hưởng
của ngôn ngữ tự sự dân gian trong tác phẩm “Thiền uyển tập anh ngữ lục”; của
Nguyễn Thị Nguyệt với “Yanagita và tự sự học dân gian Nhật Bản; của Phạm
Thị Hồng với “Quan hệ giữa kết cấu cốt truyện và nhân vật anh hùng của Sử thi
Tây Nguyên” …
Trong hội thảo Tự sự học do khoa Văn trường Đại học Sư phạm Hà Nội tổ
chức cũng có một số bài viết đề cập đến mối quan hệ ảnh hưởng của văn học dân
gian đối với văn học viết. Trong đó đáng chú ý là bài viết của Trần Đình Sử về:
“Mô hình tự sự Truyện Kiều”; của Nguyễn Bích Hà về “Tự sự trong loại hình trữ
tình dân gian”; của Chu Văn Sơn về “Truyện cổ tích và hiện thực trong tự sự Tô
Hoài từ điểm nhìn Vợ chồng A Phủ”.
Sau khi điểm các công trình nghiên cứu trên, chúng ta có thể nhận thấy: khi
nghiên cứu các vấn đề về mối quan hệ của văn học dân gian và văn học viết qua
các chuyên luận, các nhà nghiên cứu thường đưa ra các vấn đề có tính chất lý
luận chung. Nghiên cứu những khía cạnh, phương diện của mối quan hệ này
thường còn ở mức độ những bài báo, những tiểu luận khoa học ngắn. Đặc biệt,
những công trình nghiên cứu về mối quan hệ giữa văn học dân gian và văn học
viết qua nghiên cứu trường hợp thơ Á Nam Trần Tuấn Khải và Tản Đà Nguyễn
Đà Nguyễn Khắc Hiếu. Thông qua các sáng tác của hai nhà thơ này, người viết
cố gắng làm nổi bật mối quan hệ giữa hai hình thái nghệ thuật ngôn từ. Qua đó,
một mặt củng cố thêm những vấn đề lý luận chung nhất trong mối quan hệ này,
mặt khác khẳng định tài năng nghệ thuật của các nhà thơ trong dòng văn học viết.
Hơn nữa, với những hạn chế về mặt thời gian và cấu trúc luận văn, thay vì
nghiên cứu mối quan hệ, tác động qua lại giữa văn học dân gian và văn học viết
qua nghiên cứu trường hợp thơ Á Nam Trần Tuấn Khải và thơ Tản Đà Nguyễn
Khắc Hiếu, chúng tôi xin giới hạn chỉ nghiên cứu tác động của văn học dân gian
tới thơ của hai nhà thơ này mà chưa nghiên cứu chiều hướng ngược lại. Sở dĩ như
14 vậy vì chúng tôi thấy để tìm hiểu một cách chính xác ảnh hưởng và tác động trở
lại của thơ Á Nam và thơ Tản Đà đối với nền văn hóa dân gian thì chúng tôi phải
có thời gian đầu tư công sức đi đến nhiều nơi để làm điền dã và khảo sát thực tế.
Quả thực điều này chưa thể thực hiện được trong một luận văn thạc sĩ.
Nói như vậy không phải là luận văn phủ nhận vai trò và sự ảnh hưởng trở lại
của thơ Á Nam và thơ Tản Đà đối với nền văn hóa dân gian. Ngược lại, chúng tôi
khẳng định rằng, thơ của hai nhà thơ này đã đi sâu vào đời sống của quần chúng
nhân dân, được lưu truyền, tiếp nhận và sử dụng sâu rộng trong dân gian.
4.2. Phương pháp nghiên cứu
Với phạm vi nghiên cứu như trên, luận văn sử dụng phương pháp nghiên
cứu:
- Phương pháp nghiên cứu văn học sử
- Phương pháp so sánh lịch sử
- Phương pháp nghiên cứu loại hình học
- Bên cạnh đó, chúng tôi cũng sử dụng các thao tác khảo sát, so sánh, đối
chiếu các tài liệu liên quan.
Tài liệu chúng tôi dùng để khảo sát gồm:
16 CHƯƠNG 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG
VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA FOLKLORE VÀ VĂN HỌC VIẾT 1.1. Thuật ngữ
1.1.1. Folklore
. Thuật ngữ mà Thoms đưa ra có nội hàm rộng, được hiểu với nhiều nghĩa
rộng hẹp khác nhau, liên quan tới đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa
học.
Trước hết, chúng ta cần nhìn nhận sâu sắc rằng folklore là lí trí, là trí tuệ, là
khoa học, là tình cảm và là nghệ thuật của dân gian.
Các nhà nghiên cứu của Tây Âu quan niệm folklore là toàn bộ các giá trị
sáng tạo về tinh thần và các giá trị sáng tạo về vật chất, đó là những giá trị truyền
thống. Ở Việt Nam, những nhà nghiên cứu chịu ảnh hưởng của quan niệm này
đưa ra cách hiểu folklore là những sáng tác dân gian, ngoài những loại hình văn
các thành viên, phản ánh sự chờ đợi , niềm hi vọng của cộng đồng trong những
biểu hiện tương ứng với nó về nhận thức xã hội và văn hoá. Các qui tắc, giá trị
của folklore được truyền đạt qua truyền miệng, mô phỏng hoặc bằng những con
đường khác. Hình thức của nó là ngôn từ, âm nhạc, vũ đạo, trò chơi, thần thoại,
phong tục, nghi lễ, nghề thủ công, kiến trúc và các loại nghệ thuật khác. Đây
cũng là một quan niệm về folklore mang nội hàm khá rộng. Folklore được hiểu là
văn hoá truyền thống, bao gồm cả những giá trị truyền thống về tinh thần và giá
trị truyền thống về vật chất của nhân dân.
Ở Việt Nam, thuật ngữ folklore đã được sử dụng từ lâu và tuỳ theo mỗi thời
kì được dịch ra tiếng Việt là “văn học dân gian”, “văn nghệ dân gian” và nay là
“văn hoá dân gian”. Việc quan niệm rộng hẹp và chuyển ngữ sang tiếng Việt
khác nhau như vậy là do sự thay đổi nhận thức của chúng ta về văn hoá dân gian
18 và cũng do sự tiếp thu ảnh hưởng của các quan niệm folklore từ các trường phái khác
nhau trên thế giới.
Theo Đinh Gia Khánh, văn hoá dân gian (folklore) được quan niệm rất khác
nhau trong giới nghiên cứu văn hoá dân gian quốc tế. Theo chúng tôi văn hoá dân
gian bao gồm toàn bộ văn hoá tinh thần của nhân dân được tiếp cận dưới giác độ
thẩm mỹ. Như vậy văn hoá dân gian bao gồm chủ yếu là văn nghệ dân gian được
nhận thức trong mối quan hệ hữu cơ và nguyên hợp với toàn bộ hoạt động thực
tiễn của nhân dân và mặt khác lại bao gồm cả mọi hiện tượng trong hoạt động
thực tiễn này mà còn chứa đựng cảm xúc thẩm mỹ.
Theo Chu Xuân Diên, folklore thuật ngữ phiên âm từ tiếng Anh (folklore =
sự hiểu biết của nhân dân, trí tuệ của nhân dân) thường được dùng song song với
thuật ngữ văn học dân gian….
Theo Trần Quốc Vượng, nói folklore Việt Nam là nói tổng thế mọi sáng
tạo, mọi thành tựu văn hóa của dân gian ở mọi nơi trong mọi thời của mọi thành
mà cũng có thể là một mẩu huyền thoại hay một câu chuyện thần kỳ… Đây là
cách quan niệm ảnh hưởng của cách quan niệm ở Tây – Âu (chịu ảnh hưởng xã
hội học). Bên cạnh đó, có một số nhà nghiên cứu lại cho rằng folklore cần được
hiểu là toàn bộ những tác phẩm văn hoá tinh thần của nhân dân được tiếp cận
dưới giác độ thẩm mỹ. Những nhà nghiên cứu theo xu hướng này, tiêu biểu là GS
Đinh Gia Khánh cho rằng văn hoá dân gian bao gồm chủ yếu là văn nghệ dân
gian. Đây là cách quan niệm ảnh hưởng của cách quan niệm ở Nga. Ngoài ra, một
số nhà nghiên cứu khác lại muốn thu hẹp hơn nữa nội hàm của thuật ngữ
folklore, coi thuật ngữ folklore tương đương với thuật ngữ văn học dân gian.
Cách quan niệm, theo các nhà nghiên cứu thoả đáng hơn cả là cách quan
niệm của Đinh Gia Khánh: folklore (văn hoá dân gian) bao gồm toàn bộ văn hóa
tinh thần của nhân dân được tiếp cận dưới giác độ thẩm mĩ. Như vậy, văn hoá
dân gian bao gồm chủ yếu là văn nghệ dân gian được nhận thức trong mối quan
hệ hữu cơ và nguyên hợp với toàn bộ hoạt động thực tiễn của nhân dân và mặt
20 khác lại bao gồm cả mọi hiện tượng trong hoạt động thực tiễn này mà còn chứa
đựng cảm xúc thẩm mỹ.
1.1.2. Văn học dân gian
Theo các nhà nghiên cứu Đinh Gia Khánh, Chu Xuân Diên, Võ Quang
Nhơn: “Văn học dân gian là sáng tác tập thể, truyền miệng của nhân dân lao
động, ra đời từ thời kỳ công xã nguyên thủy, trải qua các thời kỳ phát triển lâu
dài trong các chế độ xã hội có giai cấp, tiếp tục tồn tại trong thời đại hiện nay”
[28;7]
Ở Việt Nam, văn học dân gian còn được gọi là văn chương bình dân (hoặc
văn học bình dân, văn chương hoặc văn học đại chúng), văn chương truyền khẩu
(hoặc văn học truyền khẩu, văn chương hoặc văn học truyền miệng), văn nghệ
dân gian, sáng tác dân gian, v.v… Những quan niệm này xuất hiện sớm nhất vào
Văn học dân gian có 3 dạng tồn tại: tồn tại ẩn (tồn tại trong trí nhớ của tác giả
dân gian), tồn tại cố định (tồn tại bằng văn tự), tồn tại hiện (tồn tại thông qua diễn
xướng). Tồn tại bằng diễn xướng là dạng tồn taị đích thực của văn học dân gian.
Trong diễn xướng, các phương tiện nghệ thuật của tác phẩm văn học dân gian
mới có điều kiện kết hợp với nhau tạo nên hiệu quả thẩm mỹ tổng hợp. Sự kết
hợp này một mặt là biểu hiện của tính nguyên hợp, một mặt là lẽ tồn tại của tính
nguyên hợp.
Nói tới tính tập thể trong văn học dân gian, người ta thường hay nghĩ tới tính
vô danh của những tác phẩm văn học dân gian, những tác phẩm ấy kết tinh sự
sáng tạo của tập thể và do đó không mang dấu ấn cá nhân, không có cá tính rõ
rệt. Tuy vậy, không thể phủ nhận hoàn toàn vai trò của cá nhân trong dòng văn
học này. Bởi vì không có một tập thể nào lại không hợp thành bởi những cá nhân
cụ thể, và không có một sáng tác tập thể nào lại không được thực hiện bởi những
cá nhân này hay khác. Nói đúng hơn, tác phẩm văn học dân gian là kết quả của
một quá trình sáng tạo tập thể trong đó mỗi người tham gia vào quá trình là một
cá nhân sáng tạo.
Có thể khẳng định văn học dân gian ra đời, tồn tại và phát triển gắn liền với
những sinh hoạt của quần chúng nhân dân. Hình thức nghệ thuật này ra đời trước
22 hết là vì nhu cầu được sáng tạo của chính những người sáng tác và diễn xướng,
tức bản thân nhân dân lao động rộng rãi, sau đó vì nhu cầu “thưởng thức văn
nghệ” của người xem, người nghe, mà cũng chính là đông đảo quần chúng nhân
dân. Phương thức sáng tác và tồn tại bằng truyền miệng là phương thức chủ yếu,
phương thức duy nhất của văn học dân gian. Chính nhờ phương thức này, văn
học dân gian mới đi sâu vào đời sống của nhân dân và gắn bó mật thiết, trở thành
một món ăn tinh thần không thể thiếu trong cuộc sống của họ.
1.1.3. Văn học viết
thời gian dài văn – sử – triết bất phân. Ba dòng tư tưởng Nho – Phật – Lão trở
thành nguồn cảm hứng cho văn chương học thuật. Bên cạnh đó, đời sống tích cực
gần thiên nhiên của con người thời kỳ này còn mang lại cho văn học nhiều ẩn dụ
cao nhã nhưng cũng rất cận nhân tình.
Từ cuối thể kỷ XVII, bắt đầu có chữ quốc ngữ do các cố đạo phương Tây
sáng chế ra bằng cách dùng mẫu tự la tinh phiên âm tiếng Việt để có công cụ
truyền giáo và ít nhiều có liên quan tới kế hoạch bành trướng của chủ nghĩa tư
bản phương Tây trong đó có thực dân Pháp. Đối với chữ quốc ngữ, buổi đầu bị
một số sĩ phu yêu nước từ chối nhưng sau đó thì dần dần được sử dụng, đặc biệt
với các chí sĩ Đông Kinh Nghĩa Thục thì còn có chủ trương phổ biến trong toàn
dân, tạo điều kiện nâng cao dân trí nhưng bị thực dân Pháp ngăn chặn. Riêng đối
với thực dân Pháp thì trước sau vẫn dùng chính sách nhỏ giọt, cho phổ biến chữ
quốc ngữ trong chừng mực cần cho công cuộc đô hộ của chúng mà thôi. Cho nên
chữ quốc ngữ, dù là thứ văn tự quần chúng đông đảo có thể chiếm lĩnh, nhưng
trong điều kiện như vậy, về cơ bản cũng chưa thể chiếm lĩnh để sáng tác văn học.
Từ khi có việc truyền bá chữ quốc ngữ ở Việt Nam thì diện mạo văn học có
những thay đổi sâu sắc và toàn diện. Ngoài ảnh hưởng của các dòng tư tưởng
truyền thống phương Đông thì sự thâm nhập của phương Tây mang đến cho văn
học viết con đường “hiện đại hóa” từ hình thức, thể loại đến tư tưởng và nội dung
sáng tác.