Nghiên cứu thành phần loài và đặc điểm sinh học của họ xylariaceae ở vườn quốc gia ba vì, hà nội - Pdf 38

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
---------------------

Trần Tiến Dũng

NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN LOÀI VÀ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC
CỦA HỌ XYLARIACEAE Ở VƢỜN QUỐC GIA BA VÌ – HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC

Hà Nội - 2014


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
---------------------

Trần Tiến Dũng

NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN LOÀI VÀ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC
CỦA HỌ XYLARIACEAE Ở VƢỜN QUỐC GIA BA VÌ – HÀ NỘI
Chuyên ngành: Vi sinh vật học
Mã số: 60 42 40

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC

NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: GS. TSKH. TRỊNH TAM KIỆT

Hà Nội - 2014


3

1.2. Tình hình nghiên cứu Nấm ở Việt Nam

5

1.3. Tình hình nghiên cứu và đặc điểm sinh học họ nấm Xylariaceae

10

1.3.1. Tình hình nghiên cứu họ nấm Xylariaceae

10

1.3.2. Đặc điểm sinh học họ nấm Xylariaceae

11

1.4. Một vài đặc điểm về vườn Quốc gia Ba Vì

16

Chƣơng 2. MỤC TIÊU, ĐỐI TƢỢNG, ĐỊA ĐIỂM, NỘI DUNG VÀ 19
PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Mục tiêu nghiên cứu

19

2.2. Đối tượng nghiên cứu


2.6.2. Phương pháp xử lý và bảo quản mẫu vật

21

2.6.3. Phương pháp phân tích mẫu vật

23

2.6.4. Phương pháp định loại nấm lớn

25

2.6.5. Nghiên cứu sự mọc của nấm trên môi trường thạch và giá thể

25

CHƢƠNG 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

27

3.1. Thu thập mẫu nấm thuộc họ Xylariaceae ở vườn Quốc gia Ba Vì – Hà 27
Nội
3.2. Thành phần loài nấm thuộc họ Xylariaceae ở vườn Quốc gia Ba Vì – Hà 27


Nội và một số đặc điểm sinh học của chúng
3.2.1. Danh lục các loài nấm đã ghi nhận

27



63

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

68

1. Kết luận

68

2. Kiến nghị

68

TÀI LIỆU THAM KHẢO

69


MỞ ĐẦU
Nấm đã và đang có vai trò quan trọng trong tự nhiên, trong nghiên cứu
khoa học cũng như trong đời sống thực tiễn của chúng ta. Nấm làm biến đổi
môi trường sống của con người và không thể thiếu được trong nhiều chức năng
của hệ sinh thái. Nấm hình thành đất, khép kín vòng tuần hoàn vật chất (phân
hủy gỗ, thân và lá cây, xác côn trùng, …), tăng cường sự mọc cho cây và lựa
chọn cây từ môi trường của chúng. Nấm có thể gây ngộ độc, ký sinh trên cơ
thể con người nhưng cũng cung cấp thực phẩm, chữa lành các vết thương và
nhiều bệnh hiểm nghèo. Chính vì dựa trên cả hai phương diện khoa học và
thực tiễn, việc đẩy mạnh nghiên cứu nấm đều có ý nghĩa to lớn và ngày càng

giá tính đa dạng sinh học, xác định loài mới, loài đặc hữu là rất cần thiết, có ý
nghĩa rất lớn trong việc bảo tồn đa dạng sinh vật tại Việt Nam và trên thế giới.
Xuất phát từ những lí do trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:
"Nghiên cứu thành phần loài và đặc điểm sinh học của họ Xylariaceae ở
vườn quốc gia Ba Vì, Hà Nội".

2


Chƣơng 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Lịch sử nghiên cứu nấm trên thế giới
Nấm được xem là sinh vật có kích thước hệ sợi lớn nhất trên hành tinh
chúng ta (ở Armillaria bulbosa hệ sợi lan rộng tới 15ha, trọng lượng ước tính 10
tấn, thời gian tới 1.500 tuổi) và có giá trị to lớn trong đời sống con người từ xa
xưa [57].
Thế kỷ XVIII - XIX là giai đoạn Nấm học phát triển mạnh mẽ với nhiều
công trình nổi tiếng của các tác giả như: Bulliard (1791, 1813, 1815), Elias Fries
(1821, 1830, 1832, 1838), Saccardo (1888), Karsten (1881, 1889), Patouillard
(1890 - 1928).
Vào đầu thế kỷ XX, Nấm học phát triển rực rỡ, trở thành một ngành khoa
học thực sự [12]. Nhiều công trình nghiên cứu về nấm xuất hiện ở nhiều khu vực
khác nhau trên thế giới. Trong một thời gian ngắn (30 - 40 năm) nhiều chi nấm
mới đã được mô tả dựa vào các đặc điểm hiển vi và nhiều chi nấm cũ được xem
xét lại trên cơ sở các tiêu chuẩn phân loại hiện đại. Kết quả là đã hình thành
được một số hệ thống nấm học khá ổn định ở châu Âu, Bắc Mỹ như hệ thống
của Domanski (1960), Jahn (1963), Gilbertson and Ryvarden (1993) [53]. Trong
thế kỷ XX nhiều công trình nghiên cứu về nấm học đã được công bố, tiêu biểu
như: C. Rea (1922) [52] với công trình nghiên cứu “British Basidiomycetes”;
Rolf Singer (1986) [56] nghiên cứu bộ Agaricales trên toàn thế giới “The

Trong công bố về hệ thống phân loại nấm túi Ascomycetes năm 1993,
Eriksson và Hawksworth đã ghi nhận họ Xylariaceae có 38 chi. Đến năm 1996,
Whalley đã tổng hợp các nghiên cứu trước và công bố họ Xylariaceae có 41 chi.
Tiếp tục những nghiên cứu về hệ thống phân loại nấm túi họ Xylariaceae,
năm 2001, Kirk và cs đã công bố 48 chi được công nhận trong họ Xylariaceae.
Con số này được tăng lên 64 chi vào năm 2004. Đến năm 2006, trong công bố
tiếp theo của Eriksson và cs, họ Xylariaceae đã lên tới 73 chi. Gần đây nhất,
4


Lumbsch và Huhndorf đã hệ thống lại và xác định được 77 chi (2010) trong họ
nấm túi Xylariaceae. Như vậy với 18 chi mới được phát hiện và công nhận thì
tính đến năm 2013, số lượng chi trong họ Xylariaceae đã lên 95 chi với 1354
loài được chấp nhận.
Như vậy, nấm túi Xylariaceae là họ có số lượng loài lớn nhất trong ngành
nấm túi Ascomycota với 95 chi và 1354 loài được chấp nhận. Hệ thống phân
loại của họ Xylariaceae của Lumbchs và Huhndorf (2010) là một hệ thống khá
đầy đủ, kế thừa được những nghiên cứu đi trước đồng thời tổng kết được các kết
quả nghiên cứu về phân loại phân tử và phân loại hóa học. Hệ thống này đang
được các nhà khoa học sử dụng rộng rãi trong nghiên cứu phân loại nấm túi trên
thế giới.
Ngoài những nghiên cứu về khu hệ, các nhà khoa học cũng đã chú trọng
hơn những nghiên cứu thành phần loài trên cơ chất sinh trưởng của nấm. Năm
1974, khi nghiên cứu thành phần loài nấm sống trên phân động vật ăn cỏ ở vùng
Bắc Mỹ và Bắc Âu, Krug và cs đã bổ sung thêm 5 loài thuộc chi Hypocopra.
Đây cũng là công trình đầu tiên nghiên cứu về nấm túi sống trên phân động vật
và cũng là một hướng trong nghiên cứu, đánh giá đa dạng sinh học.
Năm 2007, Ju đã công bố những nghiên cứu rất thú vị về khả năng sống
trên tổ mối của 9 loài Xylaria thu được, tại Đài Loan.
1.2. Tình hình nghiên cứu Nấm ở Việt Nam

4.

Nguyễn Thị Đức Huệ (2000), Góp phần nghiên cứu nấm lớn ở một số địa
điểm trong tỉnh Tây Ninh, Luận văn thạc sĩ khoa học, Trường Đại học
Khoa học, Đại học Huế. Thừa Thiên Huế.

5.

Trịnh Tam Kiệt (1966), Sơ bộ điều tra nghiên cứu các loài nấm ăn và nấm
độc chính ở một số vùng miền Bắc Việt Nam, Luận văn tốt nghiệp Trường
Đại học Tổng hợp Hà Nội, Hà Nội.

6.

Trịnh Tam Kiệt (1970), Những dẫn liệu về khu hệ nấm lớn vùng Đông Bắc
Tam Đảo, Báo cáo khoa học, Khoa Sinh vật, Trường Đại học Tổng hợp Hà
Nội, lần thứ X, Hà Nội.

7.

Trịnh Tam Kiệt (1977), Những yếu tố hình thành khu hệ nấm lớn miền Bắc
Việt Nam và các nhóm sinh thái của chúng, Báo cáo khoa học Khoa Sinh
học, Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, Hà Nội.

8.

Trịnh Tam Kiệt (1977), Đặc điểm khu hệ nấm phá gỗ tre ở Việt Nam, Báo
cáo khoa học - Chuyên đề bảo quản gỗ, Hà Nội.

6

11. Trịnh Tam Kiệt (1978), “Đặc điểm khu hệ nấm lớn sống trên gỗ và tre của

Việt Nam”, Tạp chí Lâm nghiệp, số 10, tr. 20-25.
12. Trịnh Tam Kiệt (1980), “Vị trí của nấm trong sinh giới và hệ thống của

chúng theo quan điểm hiện đại”, Tạp chí Sinh học, Tập 2(4), tr. 11-15.
13. Trịnh Tam Kiệt, Ngô Anh (1982), Góp phần nghiên cứu khu hệ nấm Bình

Trị Thiên, Thông báo khoa học Đại học Huế.
14. Trịnh Tam Kiệt, Phan Huy Dục (1984), “Góp phần nghiên cứu họ nấm

mực Coprinaceae Rose ở vùng Hà Nội”, Tạp chí Sinh học, Tập VI(2), tr.
31-32
15. Trịnh Tam Kiệt, Vũ Mai Liên, Đoàn Văn Vệ (1986), Sinh học và kỹ thuật

nuôi trồng nấm ăn, Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội.
16. Trịnh Tam Kiệt (1996), Danh lục nấm lớn Việt Nam, Nhà xuất bản Nông

nghiệp, Hà Nội.
17. Trịnh Tam Kiệt, Ngô Anh, U. Grafe, H. Dorfelt (2000), “Những dẫn liệu

bổ sung về thành phần loài và hóa các hợp chất tự nhiên của khu hệ nấm
lớn Việt Nam”, Báo cáo khoa học - Hội nghị Sinh học Quốc gia: Những
vấn đề nghiên cứu cơ bản trong sinh học, Hà Nội, tr. 247-250.
18. Trịnh Tam Kiệt, Herich Dorfelt (2001), “Các taxon mới ghi nhận cho khu

hệ nấm Việt Nam và ý nghĩa của hệ thống sinh thái của chúng”, Hội thảo
Quốc tế Sinh học, Hà Nội, Tập 1, tr. 132-135.

7


điểm hiện đại”, Tạp chí Di truyền & ứng dụng – Chuyên san Công nghệ
Sinh học, số 6, tr. 72-77.
27. Trịnh Tam Kiệt (2011), Nấm lớn ở Việt Nam, Tập 1 (Tái bản lần thứ 2),

Nhà xuất bản Khoa học tự nhiên và Công nghệ.
28. Trịnh Tam Kiệt (2012), Nấm lớn ở Việt Nam, Tập 2, Nhà xuất bản Khoa

học tự nhiên và Công nghệ.

8


29. Trịnh Tam Kiệt, Trần Đông Anh, Trịnh Tam Anh (2012), “Một số loài nấm

tán mới ghi nhận cho khu hệ nấm Việt Nam”, Tạp chí Di truyền & ứng
dụng – Chuyên san Công nghệ Sinh học, số 8, tr. 111-116.
30. Lê Văn Liễu (1977), Một số nấm ăn được và nấm độc ở rừng, Nhà xuất bản

Nông nghiệp, Hà Nội.
31. Đoàn Văn Vệ, Trịnh Tam Kiệt (2008), “Nghiên cứu thành phần loài nấm

Mộc nhĩ Auricularia của Việt Nam”, Tạp chí Di truyền & ứng dụng –
Chuyên san Công nghệ Sinh học, số 4, tr. 47-51.
32. Đoàn Văn Vệ, Trịnh Tam Kiệt (2008), “Nghiên cứu thành phần loài nấm

Ngân nhĩ Tremella của Việt Nam”, Tạp chí Di truyền & ứng dụng –
Chuyên san Công nghệ Sinh học, số 4, tr. 52-55.
33. Cổ Đức Trọng, Trịnh Tam Kiệt (2012), “Một số loài nấm mới thu thập ở


O., Malysheva E., Contu M., Ghignone S., Hibbett D. S. (2010),
“Phylogeny of the Pluteaceae (Agaricales, Basidiomycota): taxonomy and
character evolution”, Fungal Biology, XXX, pp. 1-20.
41. Justo A., Minnis A. M., Ghignone S., Menolli N. Jr., Capelari M.,

Rodriguez O., Malysheva E., Contu M., Vizzini A. (2011), “Species
recognition in Pluteus and Volvopluteus (Pluteaceae, Agaricales):
morphology, geography and phylogeny”, Mycol Progress, 10, pp. 453-479.
42. Kauffman C. H. (1918), The Agaricaceae of Michigan, Vol. 1. Wynkoop

Hallenback Crawford Co., State Printers, Lansing, Michigan. 924 p.
43. Kiet T. T. (1998), “Preliminary checklist of macrofungi of Vietnam”,

Feddes Repertorium, Berlin, 109(3-4), pp. 257-277.
44. Trinh Tam Kiet (2008), “Poisonous mushrooms of Vietnam”, Genetics and

Applications, No 4, pp. 70-73.
45. Kirk P. M., Connon P. E., Minter D. W. and Stalpers J. A. (2008),

Dictionary of the Fungi, Tenth Edition BABI Europe-UK.
46. Kleinwächter P., Ngo Anh, Trinh Tam Kiet, Schlegel B., Dahse H. M., Härtl

A., Gräfer U. (2001), “Colossolactones, New Triterpenoid Metabolites from a
Vietnamese Mushroom Ganoderma colossum”, J. Nat. Prod. 64(2), pp. 236239.
47. Kobayashi T. (2002), “Type studies of the new species of Pluteus described

by Seiya Ito and Sanshi Imai from Japan”, Mycoscience, Volume 43, Issue
5, pp 0411-0415.

10

57. Smith Myron L., Johann N. Bruhn & James B. Anderson (1992), “The

fungus Armillaria bulbosa in among the largest and oldest living
organisms”, Nature 356, pp. 428-431.
58. Teng S. C. (1996), Fungi of China, Mycotaxon Ltd., New York.
59. Yang Z. L. (2007), “Type studies on Chamaeota species described from

China”, Mycotaxon 100: 279-287.

11


TÀI LIỆU INTERNET
60.

http://en.wikipedia.org/wiki/Xylaria

61.

http://mycology.sinica.edu.tw/xylariaceae

62.

http://www.catalogueoflife.org/

63.

http://www.indexfungorum.org

64.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status