Báo cáo nghiên cứu khoa học: " KHẢO SÁT THÀNH PHẦN LOÀI VÀ PHÂN BỐ CỦA RONG BIỂN TẠI CÙ LAO CHÀM – QUẢNG NAM" - Pdf 19

TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 5(40).2010

1
KHẢO SÁT THÀNH PHẦN LOÀI VÀ PHÂN BỐ CỦA RONG BIỂN
TẠI CÙ LAO CHÀM – QUẢNG NAM
A SURVEY ON THE SPECIES COMPOSITION AND DISTRIBUTION
OF SEAWEEDS IN CU LAO CHAM – QUANG NAM

Đinh Thị Phương Anh
Đại Học Đà Nẵng
Hoàng Thị Ngọc Hiếu
Công ty TNHH MTV Môi trường Đô thị Đà Nẵng

TÓM TẮT
Rong biển là một hợp phần quan trọng của nguồn lợi sinh vật biển, chúng là bãi đẻ và
nơi cư trú cho các loài động vật biển, có khả năng hấp thụ khả năng hấp thu mạnh các chất
dinh dưỡng trong môi trường, chế biến và sử dụng trong nhiều lĩnh vực như thực phẩm, y
dược, mỹ phẩm, nông nghiệp , và có thể cân bằng sinh thái bền vững. Trong bài viết này, các
tác giả
đã đề cập đến thành phần loài, đa dạng các loài rong biển và phân bố của rong biển tại
Cù Lao Chàm – Quảng Nam. Kết quả khảo sát đã xác định được 4 ngành: ngành Vi khuẩn Lam
(Cyanobacteria), ngành rong Đỏ (Rhodophyta), ngành rong Nâu (Heterokontophyta), ngành
rong Lục (Chlorophyta) với 6 lớp, 18 bộ, 21 họ, 49 loài, trong đó có 31 loài có giá trị kinh tế.
Chúng phân bố từ vùng triều cao đến vùng dưới triều luôn ngập nước. Nền đáy phân bố ở vùng
triều cao với giá thể cứng là đá tảng, vùng giữ
a triều và triều thấp với giá thể cứng là đá tảng và
giá thể mềm là san hô chết thành các mảnh vụn có pha cát, lẫn bùn.
ABSTRACT
Seaweeds are important components of marine creatures. They are the breeding
grounds and habitats for marine animals and can strongly absorb nutrients in the marine
environment. They are processed and used as food, medicine, cosmetics and in agriculture…

* Trong phòng thí nghiệm:
- Lên tiêu bản mẫu rong theo phương pháp làm trong nước của Quy Phạm Việt
Nam (1981). Dùng giấy bìa cứng để ép mẫu rong.
- Sử dụng các khóa phân loại của Dawson (1954), Nguyễn Hữu Đại (1997),
Nguyễn Hữu Đại (2007), Phạm Hoàng Hộ (1969), Tseng, C. K. (1983).
- Mẫu rong được dán nhãn tên khoa học, tên Việt Nam (nếu có), nơi, ngày thu hái
và được thẩm định bởi PGS-TS Nguyễn Hữu Đại, Viện Hải Dương học Nha Trang.
* So sánh đa dạng loài:
So sánh theo hệ số Sorensen, 1948, phản ảnh mức độ giống nhau giữa 2 khu
vực. [6]
2.2. Phương pháp xác định phân bố của rong biển
Tiến hành xác định nền đáy và độ sâu để xác định phân bố của rong biển theo Quy
phạm Việt Nam (1981), Qui phạm tạm thời điều tra tổng hợp biển, Phần rong biển. [5]
3. Kết quả nghiên cứu
3.1. Thành phần loài rong biển tại Cù Lao Chàm
3.1.1. Danh mục thành phần loài rong biển
Qua quá trình điều tra với 9 đợt khảo sát tại vùng biển Cù Lao Chàm (mỗi đợt 4
- 5 ngày), chúng tôi đã thu được hơn 200 mẫu rong. Kết quả giám định đã xác định
được 49 loài rong biển thuộc 4 ngành, 6 lớp, 18 bộ, 21 họ. Trong đó:
- Ngành Vi khuẩn Lam (Cyanobacteria): 1 loài, chiếm 2%;
- Ngành rong Đỏ (Rhodophyta) 20 loài, chiếm 40%;
- Ngành rong Nâu (Heterokontophyta) có 15 loài, chiếm 31%;
- Ngành rong Lục (Chlorophyta) có 13 loài, chiếm 27%.
3.1.2. Đa dạng các bậc taxon của rong biển
Phân tích mức độ đa dạng các bậc taxon của rong biển ở Cù Lao Chàm được ghi
nhận trong bảng 1:
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 5(40).2010

3
Bảng 1. Đa dạng các bậc taxon của rong biển thuộc 4 ngành rong ở Cù Lao Chàm

ng Nam
với vùng lân cận:
Để làm rõ sự đa dạng rong biển ở vùng nghiên cứu, chúng tôi tiến hành so sánh
sự đa dạng các loài rong biển ở khu vực Cù Lao với 2 khu vực: Nam Ô và Bãi Rạn –
Thành phố Đà Nẵng vùng lân cận, kết quả được ghi nhận ở bảng 2 và bảng 3:
* So sánh sự đa dạng loài rong biển ở khu vực CLC – Quảng Nam với khu vực
Bãi Rạn – Đà Nẵng:

TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 5(40).2010

4
Bảng 2. So sánh sự đa dạng loài rong biển ở khu vực CLC – Quảng Nam với khu vực Bãi Rạn – Đà Nẵng:
Bậc quan hệ Cù Lao Chàm Bãi Rạn Trùng nhau Hệ số S
Ngành 4 3 3 0,85
Lớp 6 4 4 0,80
Bộ 18 14 11 0,68
Họ 21 16 8 0,43
Loài 49 39 14 0,32
Nhận xét: Qua bảng 2 ta nhận thấy:
Rong biển ở CLC được so sánh với rong biển ở Bãi Rạn – Đà Nẵng. Hệ số S
càng cao thì mức độ gần nhau càng lớn.
Hệ số giống nhau ở các mức độ: Ngành, Lớp, Bộ, Họ và Loài. Mức độ giống
nhau ở Ngành, Lớp, Bộ khá cao giữa hai khu vực tương ứng với hệ số S là 0,85, 0,80.
Trong đó, Ngành rong Lam không tìm thấy ở khu vực so sánh; Ngành rong Nâu ở Bãi
Rạn chiếm ưu thế hơn; Ngành rong Đỏ và ngành rong Lục thì CLC chiếm ưu thế hơn.
Tuy nhiên ở mức độ Họ và Loài thì hệ số giống nhau thấp tương ứng 0,43 và
0,32, số họ và loài ở 2 vùng giống nhau thấp. Số loài của khu vực CLC nhiều hơn, đa
dạng hơn.
* So sánh sự đa dạng loài rong biển ở khu vực CLC – Quảng Nam với khu vực
Nam Ô – Đà Nẵng:

Porphyra crispata (Rong Mứt dúng), Dermonema frappierii (Rong Bông trang),
Dermonema sp (Rong Bông trang), Gelidiella acerosa (Rong Câu Rễ tre), Grateloupia
phuquocensis (Rong Cát liệt Phú quốc), Gracilaria salicornia (Rong Câu đốt), Hypnea
boergesenii (Rong Đông gai), Hypnea pannosa (Rong Đông dày), Hypnea japonica
(Rong đông móc câu), Hypnea sp, Ulva kylinii, Ulva intestinalis, Caulerpa racemosa
(Rong Cầu lục chùm).

3.2.2. Rong dùng làm nguyên liệu chế biến các loại keo rong bao gồm
+ Rong dùng cho sản xuất Agar như: Gelidiella acerosa (Rong Câu Rễ tre),
Gelidium sp, Gracilaria salicornia (Rong Câu đốt), Hypnea boergesenii (Rong Đông
gai), Hypnea pannosa (Rong Đông dày), Hypnea japonica (Rong đông móc câu),
Hypnea sp
+ Rong dùng cho sản xuất Alginat như: Hydroclathrus clathratus (Rong Ruột
heo), Colpomenia sinuosa (Rong Bao tử), Chnoospora minima (Rong Mao tử nhỏ),
Dictyota sp (Rong Võng tảo), Dicctyoteris woodwardi (Brown) J.Ag, Turbinaria ornata
(Rong Chùy diệp đẹp), Sargassum binderi (Rong Mơ binderi, Sargassum namoense
(Rong Mơ Nam Ô), Sargassum oligocystum, Sargassum crassifolium, Sargassum
serratum, Sargassum flavicans, Sargassum mcclurei (Rong Mơ Mcclurei), Sargassum
sp.
+ Rong dùng cho chế biến Carrageenan: Hypnea boergesenii
(Rong Đông gai),
Hypnea pannosa (Rong Đông dày), Hypnea japonica (Rong đông móc câu), Hypnea sp.
3.2.3. Rong dùng làm dược liệu:
Porphyra crispata (Rong Mứt dúng), Gelidiella acerosa (Rong Câu Rễ tre),
Sargassum binderi (Rong Mơ binderi, Sargassum namoense (Rong Mơ Nam Ô),
Sargassum oligocystum, Sargassum crassifolium, Sargassum serratum, Sargassum
flavicans, Sargassum mcclurei (Rong Mơ Mcclurei), Sargassum sp.
3.2.4. Rong dùng trong nông nghiệp:
Dictyota sp (Rong Võng tảo), Dicctyoteris woodwardi (Brown) J.Ag, Turbinaria
ornata (Rong Chùy diệp đẹp), Sargassum binderi (Rong Mơ binderi, Sargassum

Kết quả khảo sát của rong biển tại Cù Lao Chàm theo vùng triều:
- Tầng trên triều: có 1 loài rong biển, chiếm 2,9%.
- Tầng triều:
- Vùng triều thấp: có 12 loài rong biển, chiếm 24,5 %
- Tầng dưới triều: có 3 loài rong biển, chiếm 6,1%
Ngoài ra, trong quá trình nghiên cứu chúng tôi thấy có một số loài phân bố trung
gian giữa các vùng triều, bao gồm:
- Vùng triều cao và triều giữa: có 6 loài rong biển, chiếm12,2%
- Vùng triều giữa và triều thấp: có 5 loài rong biển, chiếm 10,2%.
- Vùng triều giữa đến dưới tri
ều: có 1 loài rong biển, chiếm 2,9%.
- Vùng triều thấp và vùng dưới triều: 24 loài rong biển, chiếm 41,2%.
Ngoài ra, rong biển cũng có phân bố điển hình cho từng khu vực như tại Vũng
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 5(40).2010

7
Đá Bàn rong biển phân bố chủ yếu là các loài chịu được sóng đập mạnh, nền đáy là đá:
Porphyra crispata, Dermonema sp, Dermonema frappierii, Gracilaria salicornia,
Hypnea jaonica, Sargassum crassifolium, Chaetomorpha antennina; các loài rong bún
Liagora orientalis, Liagora divaricata, Liagora sp chỉ mọc ở một số khu vực yên sóng
là Bãi Bắc và Bãi Ông; một số loài rong chỉ phân bố ở khu vực có dân cư sinh sống như
bãi Ông, Bãi Làng, Bãi Hương: Ulva kylinii, Ulva intestinalis f. Ulvaiforme, Ulva sp1,
Ulva sp2.
4. Kết luận
Kết quả nghiên cứu thành phần loài và sự phân bố của các loài rong biển tại Cù
Lao Chàm – Quảng Nam từ tháng 3 đến tháng 8 năm 2010, chúng tôi rút ra kết luận sau:
4.1. Thành phần loài rong biển Cù Lao Chàm – Quảng Nam khá đa dạng. Đã xác
định được 49 loài rong biển thuộc 4 ngành, 6 lớp, 18 bộ, 21 họ. Trong đó:
- Ngành Vi khuẩn Lam (Cyanobacteria) có 1 lớp, 1 bộ, 1 họ và 1 loài, chiếm
2%;

[1]. Nguyễn Hữu Đại (2007), Thực vật chí Việt Nam – Tập 11, Bộ rong Mơ –Fucales
Kylin. NXB Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội. tr. 1-117.
[2]. Nguyễn Hữu Đại (1997), Rong Mơ Việt Nam. Nguồn lợi và sử dụng, NXB Nông
nghiệp, TP HCM.
[3]. Phạm Hoàng Hộ (1969), Rong biển Việt Nam (Marine algae South Vietnam), Trung
tâm học liệu Sài Gòn xuất bản.
[4]. Trần Ngọc Lâm (2006), Điều tra thành phần các loài rong biển thường gặp ven
biển vùng Nam Ô - Thành phố Đà Nẵ
ng, Luận văn tốt nghiệp, Khoa Sinh - Môi
trường, Trường Đại học Sư phạm, ĐH Đà Nẵng.
[5]. Qui Phạm Việt Nam (1981), Qui phạm tạm thời điều tra tổng hợp biển, Viện
Nghiên Cứu Biển biên soạn, UBKH và KTNN xuất bản, NXB Hà Nội, Phần rong
biển, QPVN 17 - 19 ÷ QPVN, tr 21 - 79.
[6] Vũ Trung Tạng (2000), Cơ sở sinh thái học, NXB Giáo dục.
[7]. Nguyễn Thị Phương Trà (2007), Điều tra thành phần loài rong biể
n thường gặp ở
Bãi Rạn - bán đảo Sơn Trà - Đà Nẵng, Luận văn tốt nghiệp, Khoa Sinh - Môi
trường, Trường Đại học Sư phạm, ĐH Đà Nẵng.
[8]. Dawson E.Y. (1954), “Marine plants vincinity Institute Oceanography Nha Trang
VietNam”, Pac. Sci., vol.8, N
o
4, pp.373 - 481.
[9]. Tseng, C. K. (1983), Common seaweeds of China, Science, Beijing Press.


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status