Download Tiểu luận Pháp luật Việt Nam về các loại hình doanh nghiệp miễn phí
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
NỘI DUNG CHÍNH 3
I. Những vấn đề lý luận về doanh nghiệp 3
1. Khái niệm doanh nghiệp 3
2. Phân loại doanh nghiệp 6
II. Tổng quan pháp luật Việt Nam về các loại hình doanh nghiệp 8
1. Những quy định chung của pháp luật Việt Nam về doanh nghiệp 8
2. Vai trò của pháp luật về doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường 10
III. Đánh giá hệ thống pháp luật Việt Nam về các loại hình doanh nghiệp 12
1. Đánh giá chung về hệ thống pháp luật doanh nghiệp 12
2. Đánh giá đối với từng loại doanh nghiệp 13
IV.Định hướng và giải pháp hoàn thiện hệ thống pháp luật về
doanh nghiệp ở Việt Nam 16
1. Định hướng hoàn thiện hệ thống pháp luật về doanh nghiệp 16
2. Một số giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật về doanh nghiệp 17
KẾT LUẬN 25
TÀI LIỆU THAM KHẢO 26
/tai-lieu/de-tai-ung-dung-tren-liketly-38921/
Để tải bản DOC Đầy Đủ thì Trả lời bài viết này, mình sẽ gửi Link download choTóm tắt nội dung:
ản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vị số vốn đã góp vào doanh nghiệp. Cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 điều 81 và khoản 5 điều 84 của Luật doanh nghiệp 2005.
Công ty trách nhiệm hữu hạn, theo quy định tại khoản 1 điều 38 Luật Doanh nghiệp 2005, là doanh nghiệp trong đó thành viên có thể là tổ chức, cá nhân, số lượng thành viên không vượt quá 50. Thành viên chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn cam kết góp vào doanh nghiệp. Phần vốn góp của thành viên chỉ được chuyển nhượng theo quy định tại các điều 43, 44, và 45 của Luật này. Đây là mô hình tổ chức kinh doanh phổ biến nhất ở Việt Nam hiện nay.
- Ba là, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Về bản chất, doanh nghiệp có vốn đầu tư nươc ngoài là công ty, tuy nhiên quy chế pháp lý cho các doanh nghiệp này không giống như các công ty có vốn đầu tư trong nước. Nhiều ràng buộc pháp lý được đặt ra đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Theo pháp luật hiện hành, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài gồm 2 loại doanh nghiệp:
Doanh nghiệp liên doanh là doanh nghiệp cho hai bên hay nhiều bên hợp tác thành lập tại Việt Nam trên cơ sở hợp đồng liên doanh hay hiệp định ký giữa Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt nam và Chính phủ nước ngoài; hay là doanh ngiệp do doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hợp tác với doanh nghiệp Việt Nam; hay do doanh nghiệp liên doanh hợp tác với nhà đầu tư nước ngoài trên cơ sở hợp đồng liên doanh.
Doanh nghiệp có 100% vốn đầu tư nước ngoài là doanh nghiệp do nhà đầu tư nước ngoài đầu tư 100% vốn tại Việt Nam.
- Bốn là, doanh nghiệp Nhà nước. Doanh nghiệp Nhà nước có lịch sử tồn tại khá lâu đời và hiện đang giữ vai trò quan trọng trong nền kinh tế theo quan điểm kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Theo điều 1 của Luật doanh nghiệp Nhà nước 2003, doanh nghiệp nhà nước là tổ chức kinh tế do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ hay có cổ phần, vốn góp chi phối, được tổ chức dưới hình thức công ty Nhà nước, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn.
II/ Tổng quan pháp luật Việt Nam về các loại hình doanh nghiệp:
1/ Những quy định chung của pháp luật Việt Nam về doanh nghiệp:
Theo nghĩa rộng, đối tượng điều chỉnh của pháp luật về doanh nghiệp là các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình tổ chức và hoạt động của doanh nghiệp. Còn theo nghĩa hẹp, đối tượng điều chỉnh của pháp luật về doanh nghiệp là các quan hệ pháp luật về tổ chức doanh nghiệp, đó là các quan hệ phát sinh trong các giai đoạn: gia nhập thị trường, quản trị doanh nghiệp, rút khỏi thị trường.
Những quy định về doanh nghiệp được nêu trong hệ thống văn bản pháp luật về doanh nghiệp. Nội dung của pháp luật về doanh nghiệp chủ yếu là những quy phạm ghi nhận và đảm bảo quyền, đồng thời xác định trách nhiệm của nàh đầu tư trong việc tổ chức, vận hành doanh nghiệp. Các nhóm quy phạm của pháp luật Việt Nam về doanh nghiệp bao gồm:
- Một là, các quy định về bản chất pháp lý của loại hình doanh nghiệp. Các quy định này đưa ra những dấu hiệu pháp lý để xác định loại hình doanh nghiệp. Mỗi loại hình doanh nghiệp có những đặc điểm pháp lý nhất định và cần được xác định trong luật pháp. Các nhà đầu tư có quyền lựa chọn loại hình doanh nghiệp phù hợp với nhu cầu và điều kiện của mình, song trong quá trình tổ chức vận hành doanh nghiệp, phải tuân thủ những quy định vể bản chất của loại hình doanh nghiệp đã lựa chọn.
- Hai là, các quy định về thành lập doanh nghiệp và đăng ký kinh doanh. Thành lập doanh nghiệp có ỹ nghĩa xác lập tư cách pháp lý cho doanh nghiệp. Trong nền kinh tế thị trường, với yêu cầu của nguyên tắc tự do kinh doanh, thành lập doanh nghiệp được coi là quyền cơ bản của nhà đầu tư. Tuy nhiên, sự hiện diện của doanh nghiệp trên thương trường luôn tiềm ẩn nguy cơ ảnh hưởng đến những lợi ích của các chủ thể có liên quan, vì vậy việc thành lập doanh nghiệp phải được thực hiện trên khuôn khổ pháp luật. Chế định thành lập doanh nghiệp thường bao gồm những nội dung cơ bản là: đối tượng có quyền thành lập doanh nghiệp, ngành nghề kinh doanh, thủ tục đăng ký kinh doanh.
- Ba là, các quy định về tổ chức quản lý doanh nghiệp. Với yêu cầu của nguyên tắc tự do kinh doanh, việc tổ chức quản lý (nội bộ) doanh nghiệp trước hết và chủ yếu thuộc quyền quyết định của chủ sở hữu các doanh nghiệp. Pháp luật chỉ quy định ràng buộc những vấn đề cơ bản, mang tính nguyên tắc, xác lập khung pháp lý cho việc tổ chức quản lý doanh nghiệp. Nội dung của chế định tổ chức quản lý doanh nghiệp bao gồm các vấn đề là: cơ cấu bộ máy tổ chức quản lý, thẩm quyền và thể thức hoạt động của bộ máy quản lý doanh nghiệp, nghĩa vụ của người quản lý doanh nghiệp, kiểm soát giao dịch tư lợi.
- Bốn là, các quy định về cấu trúc vốn của doanh nghiệp. Vốn là cơ sở vật chất không thể thiếu cho sự tồn tại và hoạt động của doanh nghiệp. Vốn của doanh nghiệp được quan niệm là vốn kinh doanh, là giá trị của toàn bộ tài sản được đầu tư vào hoạt động của doanh nghiệp nhằm mục đích sinh lời. Việc xác định cấu trúc vốn của doanh nghiệp phải tuân thủ những ràng buộc của pháp luật ở các mức độ khác nhau, tùy thuộc vào loại hình doanh nghiệp và lĩnh vực hoạt động của doanh nghiệp. Nội dung của các quy định về cấu trúc vốn của doanh nghiệp bao gồm hai nội dung cơ bản là: cơ sở hình thành, mối quan hệ (tỷ lệ) giữa vốn chủ sở hữu và vốn tín dụng; và cơ chế điều chỉnh, huy động vốn của doanh nghiệp trong quá trình hoạt động.
- Năm là, các quy định về tổ chức lại doanh nghiệp. Tổ chức lại doanh nghiệp là một nhu cầu chính đáng của các nhà đầu tư, nó có thể xuất hiện trong quá trình tự nhiên của doanh nghiệp. Nội dung của việc tổ chức lại doanh nghiệp chính là sự biến đổi của doanh nghiệp cho phù hợp với môi trường và điều kiện kinh doanh cụ thể, nhằm đạt được hiệu quả kinh doanh cao hơn. Các biện pháp tổ chức lại doanh nghiệp về cơ bản bao gồm: chia, tách, sáp nhập, hợp nhất doanh nghiệp và chuyển đổi hình thức pháp lý của doanh nghiệp. Biện pháp tổ chức lại doanh nghiệp cho từng loại hình doanh nghiệp khác nhau thì khác nhau.
- Sáu là, các quy định về giải thể doanh nghiệp. Giải thể doanh nghiệp là một trong những thủ tục pháp lý dẫn đến chấm dứt tồn tại của doanh nghiệp. Các quy định pháp luật về giải thể doanh nghiệp bao gồm hai nội dung cơ bản là: các trường hợp giải thể và thủ tục giải thể. Về nguyên tắc, việc quyết định giải thể doanh nghiệp thuộc quyền của chủ sở hữu doanh nghiệp. Tuy nhiên, khi doanh nghiệp không còn thỏa mãn các điều kiện tồn tại theo quy định của pháp luật hay kinh doanh vi phạm pháp luật thì doanh nghiệp sẽ bị bắt buộc phải giải thể.
Như vậy, phụ thuộc vào các loại hình doanh nghiệp, hệ thống pháp luật về doanh nghiệp được cấu trúc với những chế đ