Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học và thực trạng bảo tồn loài Pơ mu (Fokienia hodginsii (Dunn) A. Henry et Thomas) - Pdf 33

i


ii

MỤC LỤC
MỤC LỤC ................................................................................................................. ii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT...........................................................................iv
DANH MỤC BẢNG .................................................................................................. v
DANH MỤC HÌNHMỞ ĐẦU ..................................................................................vi
MỞ ĐẦU .................................................................................................................... 1
1. Lý do chọn đề tài .................................................................................................... 1
2. Mục tiêu của đề tài ................................................................................................. 3
3. Nhiệm vụ nghiên cứu ............................................................................................. 3
Chương I. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU ............................................. 4
1.1. Nghiên cứu trên thế giới ...................................................................................... 4
1.1.1. Những nghiên cứu về sinh thái học thực vật .................................................... 4
1.1.2. Nghiên cứu về loài Pơ mu ................................................................................ 6
1.1.3. Nghiên cứu về loài Sa mộc dầu ........................................................................ 7
1.2. Nghiên cứu ở trong nước ..................................................................................... 8
1.2.1. Những nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái .............................................. 8
1.2.2. Nghiên cứu về loài Pơ mu ................................................................................ 9
1.2.3. Nghiên cứu về loài Sa mộc dầu ...................................................................... 12
Chương II. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ, XÃ HỘI KHU VỰC
NGHIÊN CỨU ........................................................................................................ 16
2.1. Đặc điểm tự nhiên ............................................................................................. 16
2.1.1. Vị trí địa lý...................................................................................................... 16
2.1.2. Địa hình .......................................................................................................... 16
2.1.3. Đặc điểm thổ nhưỡng ..................................................................................... 17
2.1.4. Đặc điểm khí hậu ............................................................................................ 17
2.2. Tình hình dân sinh, kinh tế - xã hội................................................................... 18

4.3. Thành phần các loài thực vật phân bố cùng với Pơ mu và Sa mộc dầu .............. 39
4.3.1. Phân bố cùng với loài Pơ mu ......................................................................... 39
4.3.1. Phân bố cùng với loài Sa mộc dầu ................................................................. 43
4.4. Đánh giá ảnh hưởng của một số nhân tố đến loài Pơ mu và Sa mộc dầu ............. 46
4.4.1. Ảnh hưởng của một số nhân tố tự nhiên ........................................................ 46
4.4.2. Ảnh hưởng của yếu tố con người ................................................................... 47
4.5. Xác định tình trạng bảo tồn hiện nay và mức độ đe doạ của loài Pơ mu và Sa
mộc dầu tự nhiên theo Sách đỏ Việt Nam và tiêu chuẩn IUCN (2012) ................... 49
4.5.1. Tình trạng bảo tồn hiện nay của loài Pơ mu................................................... 49
4.5.3. Tình trạng bảo tồn loài Pơ mu và Sa mộc dầu tại KBTTN Pù Huống ........... 50
4.6. Đề xuất biện pháp bảo tồn loài Pơ mu và Sa mộc dầu tại Khu BTTN Pù
Huống, tỉnh Nghệ An ............................................................................................... 51
4.6.1. Thực hiện có hiệu quả các cơ chế chính sách, pháp luật của Nhà nước............. 51
4.6.2. Nâng cao hiệu quả quản lý, bảo vệ rừng của Chủ rừng ................................. 52
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ .................................................................................... 53
TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................................................... 55
PHỤ LỤC ................................................................................................................ 59


iv

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Viết tắt

Viết đầy đủ

IUCN

Danh lục Đỏ các loài có nguy cơ bị diệt vong
của Hiệp hội Bảo vệ Thiên nhiên thế giới


Cực kỳ nguy cấp

BQL

Ban quản lý

QLBVR

Quản lý bảo vệ rừng


v

DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1. Đặc điểm khí hậu tại khu vực nghiên cứu ............................................... 18
Bảng 2.2. Dân số, dân tộc và lao động ..................................................................... 19
Bảng 2.3. Hiện trạng rừngKhu BTTN Pù Huống .................................................... 20
Bảng 3.1: Mẫu biểu điều tra đặc điểm phân bố ........................................................ 24
Bảng 3.2. Mẫu biểu điều tra thành phần loài trong ÔTC ......................................... 24
Bảng 4.1. Phân bố Pơ mu ở KBTTN Pù Huống ...................................................... 32
Bảng 4.2: Đặc điểm phân bố của Pơ mu theo đai cao ở KBTTN Pù Huống ........... 33
Bảng 4.3: Đặc điểm phân bố của loài Pơ mu theo loại đất tại KBTTN Pù Huống .. 34
Bảng 4.4. Đặc điểm phân bố của loài Pơ mu theo độ dốc và hướng phơi ............... 35
Bảng 4.5. Mật độ quần thể Pơ mu ở KBTTN Pù Huống ......................................... 35
Bảng 4.6. Đặc điểm phân bố của loài Sa mộc dầu ở KBTTN Pù Huống ................ 36
Bảng 4.7.Đặc điểm phân bố của loài Sa mộc dầu theo đai cao................................ 37
Bảng 4.8. Đặc điểm phân bố Sa mộc dầu theo loại đất ở KBTTN Pù Huống. ........ 37
Bảng 4.9: Đặc điểm phân bố của Sa mộc dầu theo độ dốc và hướng phơi .............. 38
Bảng 4.10.Mật độ quần thể Sa mộc dầu ở KBTTN Pù Huống ................................ 38


1

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Ở Việt Namcó 33 loài thông bản địa thuộc 19 chi, 5 họ thì có đến 22 loài bị đe
doạ tuyệt chủng ở mức quốc tế như: Dẻ tùng sọc trắng (Amentotaxus argotaenia),
Thông tre lá ngắn (Podocarpus pilgeri), Đỉnh tùng (Cephalotaxus hainanensis),
Thông pà cò (Pinus kwangtungensis) vv... và 8 loài khác bị đe doạ tuyệt chủng ở
mức quốc gia như: Sa mộc dầu (C. konishii Hayata), Pơ mu (F. hodginsii (Dunn)
A. Henry et Thomas), Du sam đá vôi (Keteleeria davidiana (Bertrand) Besn), v.v..
Việt Nam là một trong 10 điểm nóng của Thông trên thế giới với 40% số loài được
xếp vào danh sách các loài bị đe dọa tuyệt chủng trên thế giới và 90% số loài được
đánh giá là bị đe dọa tuyệt chủng ở mức quốc gia (trong đó 9% đang bị tuyệt chủng
trầm trọng (CR), 33% đang bị tuyệt chủng (EN) và 45% sắp bị tuyệt chủng) [17].
Trước thực trạng chung của loài Thông Việt Nam đã đặt thách thức không nhỏ về
vấn đề bảo tồn các nguồn gen quý hiếm hiện nay trên cả nước.
Ở Việt Nam, Pơ mu được coi là một loài gỗ quý, có mùi thơm đặc trưng, vân
gỗ đẹp, bền, nhẹ, không bị mối mọt phá hoại vì thế nó được sử dụng vào nhiều mục
đích khác nhau như dùng để tạc tượng, làm lục bình, đóng gường, tủ, bàn ghế, sập
cao cấp, ốp lát sàn nhà và trang trí trần nhà đều rất bền đẹp. Sản phẩm chưng cất,
đặc biệt từ rễ Pơ mu là tinh dầu được dùng trong hoá mỹ phẩm và y học. Tinh dầu
Pơ mu được sử dụng làm hương liệu nước hoa, vì nó có mùi hương nồng dễ chịu
nên được dùng để pha chế nước hoa cao cấp. Dầu Pơ mu cũng được dùng làm
thuốc sát trùng chữa sưng tấy, có tác dụng sát khuẩn và giảm đau. Trong trị liệu
massage hoặc xông hơi tinh dầu Pơ mu giúp tăng cường sinh lực, làm khoẻ mạnh
gân cốt và làm giảm sự viêm da. Khi xông hương giúp diệt khuẩn làm thanh lọc
không khí, tẩy uế. Có tác dụng đuổi muỗi và côn trùng [19].
Gỗ Sa mộc dầu có màu vàng nhạt, tỷ trọng gỗ 0,4-0,5; gỗ mềm nhưng bền, dễ
gia công chế biến, có khả năng chống mối mọt tốt. Gỗ Sa mộc dầu thường được sử

nguồn gen quý hiếm của KBTTN Pù Huống, tuy nhiên từ trước đến nay chưa có
một nghiên cứu chuyên sâu nào về đặc điểm sinh học, sinh thái, phân bố và thực
trạng bảo tồn của hai loài này tại đây.
Với lý do trên, chúng tôi chọn đề tài “Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học và
thực trạng bảo tồn loài Pơ mu (Fokienia hodginsii (Dunn) A. Henry et Thomas), Sa
mộc dầu (Cunninghamia konishii Hayata) tại Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Huống,
tỉnh Nghệ An” nhằm góp phần bảo tồn loài Pơ mu và Sa mộc dầu đang có nguy cơ
bị đe dọa hiện nay.


3

2. Mục tiêu của đề tài
Bổ sung một số dẫn liệu về đặc điểm sinh thái học và thực trạng bảo tồn loài
Pơ mu (Fokienia hodginsii (Dunn) A. Henry et Thomas) và Sa mộc dầu
(Cunninghamia konishii Hayata) làm cơ sở đề xuất giải pháp bảo tồn và phát triển
hai loài trên tại Khu BTTN Pù Huống.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu trên, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài là:
- Mô tả một số đặc điểm sinh học;
- Xác định đặc điểm phân bố, mật độ;
- Nghiên cứu những loài thường gặp mọc cùng;
- Làm rõ một số nhân tố ảnh hưởng (nhân tố tự nhiên và con người);
- Nêu thực trạng bảo tồn;
- Đề xuất biện pháp bảo tồn.
Đối với loài Pơ mu và Sa mộc dầu tại Khu BTTN Pù Huống, tỉnh Nghệ An.


4


nghiên cứu các nhân tố về cấu trúc rừng, các kiểu xử lý về mặt lâm sinh áp dụng


5

cho rừng mưa tự nhiên. Catinot (1965) [13], Plaudy J. [28] đã nghiên cứu cấu trúc
hình thái rừng thông qua việc biểu diễn các phẫu đồ rừng, nghiên cứu các nhân tố
cấu trúc sinh thái thông qua việc mô tả phân loại theo các khái niệm dạng sống,
tầng phiến, … Sampion Gripfit (1948) khi nghiên cứu rừng tự nhiên ở Ấn Độ và
rừng ẩm nhiệt đới ở Tây Phi, đã kiến nghị phân cấp cây rừng thành 5 cấp [14].
Odum E. P (1971) nghi ngờ sự phân tầng rừng rậm nơi có độ cao dưới 600m ở
Puecto Rico và cho rằng không có sự tập trung khối tán ở 1 tầng riêng biệt nào cả
[39]. Richards P. W (1968) đã xác định, đặc điểm nổi bật của rừng mưa nhiệt đới là
tuyệt đại bộ phận thực vật đều thuộc thân gỗ và thường có nhiều tầng. Ông nhận
định: “Rừng mưa thực sự là 1 quần lạc hoàn chỉnh và cầu kỳ nhất về mặt cấu tạo
và cũng phong phú nhất về mặt loại cây” [29].
Từ việc vận dụng các lý luận về sinh thái, tái sinh, cấu trúc rừng trên, nhiều
nhà khoa học trên thế giới đã vận dụng vào nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái
cho từng loại cây, một vài công trình nghiên cứu có thể kể tới như:
Anon (1996), Keble và Sidiyasa (1994) đã nghiên cứu đặc điểm hình thái của
loại Vối thuốc (Schima wallichii) và đã mô tả tương đối chi tiết về đặc điểm hình
thái thân, lá, hoa, quả, hạt của loại cây này, góp phần cung cấp cơ sở cho việc gây
trồng và nhân rộng loại vối thuốc trong các dự án trồng rừng (theo Hoàng Văn
Chúc, 2009) [11].
Ở Trung Quốc, cây Lim xanh xuất hiện ở vùng Lưỡng Quảng (Quảng Đông,
Quảng Tây), Đông Nam Quế Lâm, cây này được mô tả là cây ưa sáng, đường kính
từ 50-60cm, chiều cao 35-38m, sống lâu năm (111-161 năm) và ít bị sâu bệnh. Cây
con mọc quần tụ, chịu bóng, tốc độ sinh trưởng trung bình, có thể trồng thuần loài
hoặc hỗn loài, nếu mọc đơn lẻ sinh trưởng rất chậm. Đây là một trong những loài
quý hiếm có giá trị kinh tế rất cao. Lim xanh phân bố ở độ cao dưới 600m (Quảng

bóng che, sống trong điều kiện lượng mưa cao trong năm. Xuất hiện trên đất mùn
trên núi cao. Ở Việt Nam, Pơ mu xuất hiện trên đất hình thành trên đá limestone
hoặc granite ở độ cao trên 900 m so với mặt nước biển [22]. Về nghiên cứu hệ sinh
thái rừng và các mối quan hệ sinh thái giữa các loài cho thấy hệ sinh thái rừng là
một tổng hợp phức tạp các mối quan hệ lẫn nhau của các quá trình, trong đó sự trao
đổi vật chất và năng lượng với môi trường là quá trình cơ bản nhất. Nhiều nhà khoa
học đã dày công nghiên cứu về sinh thái, đặc biệt là mối quan hệ giữa các loài thực
vật, các quần thể đối với rừng mưa nhiệt đới, trong đó đáng chú ý là công trình cấu
trúc rừng mưa đã mang lại kết quả có giá trị như Baur G. N (1964) [2] đã nghiên
cứu các vấn đề về sinh thái trong kinh doanh rừng mưa, phục hồi và quản lý rừng


7

mưa nhiệt đới. Odum E. P (1971) đã nghiên cứu các vấn đề về sinh thái nói chung
và sinh thái trong rừng mưa nhiệt đới làm cơ sở khoa học cho việc nghiên cứu sinh
thái loài và cấu trúc rừng [39].
1.1.3. Nghiên cứu về loài Sa mộc dầu
Sa mộc dầu có tên khoa học là Cunninghamia konishii Hayata, là cây gỗ lớn
thuộc chi Sa mộc hay Sa mu (Cunninghamia) họ Hoàng đàn (Cupressaceae)). Tên
khoa học của chi này được đặt theo tên của Dr. James Cunningham, 1 bác sĩ người
anh đã đưa các loài này vào gieo trồng năm 1702. Sa mộc dầu còn có tên gọi khác
là Cunninghamia lanceolata var. konishii (Hayata) Fujita. Tuy nhiên, tên khoa học
Cunninghamia konishii Hayata được các nhà khoa học về phân loại thực vật trên
thế giới sử dụng phổ biến hiện nay (theo Nguyễn Hoàng Nghĩa, 2004) [25].
Nhóm tác giả Sen-Sung Cheng, Chun-Ya Lin, Ying-Ju Chen, Min-Jay
Chungand Shang-Tzen Chang (2014) đã nghiên cứu tác dụng của tinh dầu Sa mộc
dầu trong việc chống lại mối ngầm. Kết quả nghiên cứu cho thấy các loại tinh dầu
chiết xuất từ gỗ và lá Sa mộc dầu có tác dụng hiệu quả và thân thiện môi trường
trong việc chống lại loài mối ngầm gây hại lớn cho các đô thị lớn ở nhiều nước trên

tạo cây con từ hạt đối với loài cây Chò đãi [6].
Nguyễn Bá Chất (1996) đã nghiên cứu đặc điểm lâm học và biện pháp gây
trồng, nuôi dưỡng cây Lát hoa, ngoài những kết quả nghiên cứu về đặc điểm phân
bố, sinh thái, tái sinh, … tác giả cũng đưa ra một số biện pháp kỹ thuật gieo ươm
cây con và trồng rừng đối với Lát hoa [9].
Nguyễn Thanh Bình (2003) đã nghiên cứu một số đặc điểm lâm học của loài
Dẻ ăn quả phục hồi tự nhiên tại Bắc Giang. Với những kết quả nghiên cứu đạt được,
tác giả đã đưa ra nhiều kết luận, ngoài những đặc điểm về hình thái, vật hậu, phân
bố, cấu trúc và tái sinh tự nhiên của loài, tác giả còn cho rằng phân bố N-H và N-D
đều có một đỉnh; tương quan giữa Hvn và D1.3 có dạng phương trình Logarit [3].
Lê Phương Triều (2003) đã nghiên cứu một số đặc điểm sinh vật học của loài
Trai lý tại VQG Cúc Phương, tác giả đã đưa ra một số kết quả nghiên cứu về đặc
điểm hình thái, vật hậu và sinh thái của loài, ngoài ra tác giả còn kết luận là có thể
dùng hàm khoảng cách để biểu thị phân bố N-D1.3, N-Hvn, các mối quan hệ H-D1.3,
Dt-D1.3 [36].
Vương Hữu Nhị (2003) đã nghiên cứu một số đặc điểm sinh học và kỹ thuật
tạo cây con Căm xe góp phần phục hồi trồng rừng ở Đắk Lắk, Tây Nguyên, ngoài
kết quả nghiên cứu về đặc điểm hình thái, phân bố, cấu trúc, tái sinh tự nhiên, …
tác giả còn đưa ra những kỹ thuật gây trồng đối với loài cây này [26].


9

Trần Minh Tuấn (1997) đã nghiên cứu một số đặc tính sinh vật học loài Phỉ ba
mũi làm cơ sở cho việc bảo tồn và gây trồng tại vườn quốc gia Ba Vì, ngoài những
kết quả về các đặc điểm hình thái, tái sinh tự nhiên, sinh trưởng và phân bố của
loài, tác giả còn đưa ra một số định hướng về kỹ thuật lâm sinh để tạo cây con từ
hạt và trồng rừng đối với loài cây này [37].
Nguyễn Toàn Thắng (2008) đã nghiên cứu một số đặc điểm lâm học của loài
Dẻ anh (Captanopsis piriformis Hickel & A. Camus) tại Lâm Đồng. Tác giả đã có

Trong cuốn “Các loài cây lá kim ở Việt Nam”, Nguyễn Hoàng Nghĩa (2004)
đã xác định Pơ mu (tên gọi khác là Mạy long lanh) có tên khoa học là Fokienia
hodginsii (Dunn) A. Henry & H. H. Thomas thuộc Họ Hoàng đàn - Trắc bách
(Cupressaceae). Về đặc điểm sinh học - sinh thái, hiện trạng và phương án bảo tồn
loài cây Pơ mu ở Việt Nam cũng đã được Nguyễn Hoàng Nghĩa (2004) đề cập khá
đầy đủ. Đặc biệt, tác giả cho rằng, cây Pơ mu mọc với mật độ thưa, tái sinh tự
nhiên kém, thiếu hẳn thế hệ trung gian để có thể thay thế những cây già cỗi. Đồng
thời cũng khẳng định cây Pơ mu có thể nhân giống bằng hom với tỷ lệ ra rễ cao, có
thể góp phần đắc lực vào công tác nhân giống phục vụ trồng rừng [25].
Trần Hợp (2002) trong cuốn “Tài nguyên cây gỗ Việt Nam” đã mô tả cây Pơ
mu (Fokienia hodginsii) cao tới 30 - 35 m, đường kính 1m. Thân thẳng, có bạnh to.
Vỏ màu xám xanh, bong thành mảnh, có mùi thơm dịu, cành nhỏ dẹt, lá hình vảy,
cây non hay cành không mang nón có lá to, hai bên xòe rộng, còn ở cành già hay
cành mang nón lá nhỏ hơn, mặt dưới lá màu trắng xanh. Nón đực mọc ở nách lá dài
1cm. Nón cái mọc ở đầu cành có đế mập nhỏ. Nón hình cầu, khi chín nứt, màu nâu
đỏ. Hạt hình trứng tròn, có hai cánh không đều nhau. Hai lá mần hình dải, lá mới
sinh gần đối, 4 lá sau mọc vòng [19].
Đặng Hùng Phi (2010) đã tiến hành nghiên cứu xác định các nhận tố sinh thái
ảnh hưởng đến phân bố, tái sinh tự nhiên loài Pơ mu tại VQG Chư Yang Sin, tỉnh
Đắk Lắk. Kết quả nghiên cứu của tác giả đã rút ra các kết luận quan trọng như sau:
Các nhân tố sinh thái chủ đạo ảnh hưởng đến mật độ phân bố: Mật độ phân bố loài
Pơ mu bị chi phối bởi 2 nhân tố chủ đạo là độ cao và kiểu rừng thông qua hàm đa
biến sau:Y = -4E-05x3 + 0,0041x2 – 0,1128x + 1,0089 với R2 = 0,5706.Trong đó,
Y = 1/Exp (Npomu); X = (Do cao^Kieu rung) là tổ hợp biến giữa độ cao và kiểu
rừng. Từ mô hình này chỉ ra được các vùng phân bố thích hợp cho loài Pơ mu dựa
vào tổ hợp 2 nhân tố chủ đạo là kiểu rừng và độ cao. Mật độ phân bố loài Pơ mu
tập trung nhiều ở kiểu rừng hỗn giao lá rộng lá kim với độ cao từ 1.400 đến 2.000m
so mặt nước biển và ở rừng thường xanh với độ cao 2.000 - 2.200m; ở rừng lá kim
hoàn toàn thì mật độ Pơ mu không đáng kể. Trong các lâm phần có phân bố Pơ mu


bình 60 cá thể/quần thể, tỷ lệ cây tài sinh tự nhiên thấp (5%), độ cao là yếu tố quyết
định đến sự phân bố của Pơ mu, Pơ mu thường mọc chung với các loài như Thông
lá dẹt, Thông nàng, Hoàng đàn, Kim giao, Sâng, Long não, Chẹo, … [35].


12

Nguyễn Ngọc Lâm (2012) đã nghiên cứu một số đặc điểm tái sinh tự nhiên của
loài Pơ mu tại KBTTN Nà Hẩu, huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái. Tác giả đã rút ra một
số kết luận về đặc điểm tái sinh tự nhiên của loài Pơ mu tại đây là: Mật độ cây tái
sinh ở các ÔTC là ở mức trung bình từ 7.760 - 12.400 cây/ha; số cây tái sinh có
nguồn gốc tái sinh bằng hạt nhiều hơn so với cây tái sinh bằng chồi và chiếm tỷ lệ từ
69,28% đến 85,58%; chất lượng cây tái sinh ở đai cao 1100 - 1400m tốt hơn ở đai
cao từ 800 - 1.000m và loài Pơ mu phát triển tốt ở đai cao trên 1.000m [22].
Vũ Đình Thắng (2010) đã nghiên cứu ảnh hưởng của điều kiện khí hậu đến sinh
trưởng vòng năm của cây Pơ mu tại huyện Bắc Yên, tỉnh Sơn La. Tác giả đã rút ra
kết luận: Bề rộng vòng năm Pơ mu biến động mạnh theo thời gian và mang tính quy
luật theo chu kỳ với chu kỳ dao động trong khoảng từ 9 năm đến 14 năm và tác giả
cũng đưa ra công thức tính giá trị tương đối của bề rộng vòng năm cây Pơ mu với
mới tương quan với các yếu tố khí hậu, nhiệt độ, độ ẩm của môi trường [32].
Về nghiên cứu tinh dầu trong rễ cây Pơ mu ở Việt Nam đã được Dominique
Lesueur, Ninh Khac Ban, Ange Bighelli, Alain Muselli và Joseph Casanova (2005)
nghiên cứu (theo Nguyễn Văn Chất, 1996) [9].
Ở Việt Nam Pơ mu gặp ở Điện Biên, Lai Châu, Lào Cai, Sơn La, Yên Bái, Hà
Giang, Bắc Kạn, Phú Thọ, Hoà Bình, Nghệ An, Hà Tĩnh, Thừa Thiên-Huế,
KonTum, Gia Lai, Đắk Lắk, Lâm Đồng, Ninh Thuận và Khánh Hoà. Trên thế giới
loài này có từ cực Nam Trung Quốc sang tới Lào. Ở tất cả các nước này phạm vi
của các khu rừng còn lại đều không được xác định. Điều này làm cho việc ước
lượng tỷ lệ các quần thể ở Việt Nam so với quốc tế trở nên khó khăn [17]. Ở Việt
Nam loài này đã được xếp ở mức đang bị tuyệt chủng (Nguyễn Đức Tố Lưu

vùng ôn đới Bắc bán cầu. Ở Việt Nam, họ Bụt mọc có 3 chi và 3 loài [8].
Sa mộc dầu là cây gỗ lớn dùng để cung cấp gỗ lớn, làm cảnh. Loài có phân bố
ở vùng đồng bằng sông Hồng và vùng Bắc Trung bộ ở các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ
An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị [5]. Trong các tài liệu mô tả đặc điểm hình
thái thực vật rừng Việt Nam như: “1.900 loài cây có ích ở Việt Nam”; “Cây cỏ có
ích ở Việt Nam tập I”; “Sách đỏ Việt Nam phần thực vật”; “Giáo trình thực vật
rừng” đều có đề cập và mô tả đặc điểm hình thái của loại Sa mộc dầu là cây gỗ lớn,
thường xanh, cao hơn 30-35m với đường kính 1-1,5m, lá mềm, dài 1,5-2cm, đầu lá
tù, nón cái hinh trứng tròn dài 2-2,5 cm [4], [8], [10], [24].
Trên thế giới, Sa mộc dầu phân bố ở Trung Quốc, Đài Loan, Lào. Ở Việt
Nam, Sa mộc dầu phân bố tự nhiên ở các vùng tỉnh sông Hồng và vùng Bắc Trung
Bộ [5]. Tuy nhiên, theo 1 số tài liệu công bố cho thấy, hiện nay Sa mộc dầu chỉ còn
phát hiện phân bố tự nhiên ở Hà Giang (Tây Côn Lĩnh), Thanh Hóa (Xuân Liên) và


14

Nghệ An (Pù Hoạt, Pù Huống, Pù Mát và Kỳ Sơn). Loài này còn được thông báo là
có ở các khu vực biên giới lân cân phía bên Lào (Hửa Phần) và Đài Loan [6].
Tình trạng bảo tồn Sa mộc dầu là nguồn gen quý hiếm được phân hạng ở cấp VU
trong sách đỏ Việt Nam năm (2007) và xếp nhóm IIA trong danh lục thực vật rừng
nguy cấp quý hiếm của Nghị định số 32/2006/NĐ-CP của Chính phủ. Theo tiêu chuẩn
IUCN (2001) thì Sa mộc dầu đã xếp ở mức độ sắp tuyệt bị tuyệt chủng [21]. Loại cây
này không chỉ có ý nghĩa về mặt khoa học mà còn có giá trị cao về kinh tế [4].
Kết quả nghiên cứu đa dạng di truyền quần thể nhằm mục đích bảo tồn hai
loài Pơ mu (Fokienia hodginsii (Dunn) A. Henry & H. H. Thomas) và Sa mộc dầu
(Cunninghamia konishii Hayata), mối quan hệ họ hàng của một số loài trong họ
Hoàng đàn (Cupressaceae) ở Việt Nam, tác giả Nguyễn Thị Phương Trang (2012)
đã kết luận các quần thể Sa mộc dầu tự nhiên tại Thanh Hoá, Nghệ An phân bố chủ
yếu trên các sườn núi đá vôi và đất granit phong hoá, nhiệt độ trung bình 22-24oc,

chế, sinh trưởng chậm nên hai loài cây này ở Việt Nam và trên thế giới đều xếp vào
một trong những loài quý hiếm, có nguy cơ tuyệt chủng.
Ở Nghệ An, Pơ mu và Sa mộc dầu phân bố ở VQG Pù Mát, KBTTN Pù Hoạt,
ở huyện Kỳ Sơn [17], [20], [25]. Do đường đi lại còn khó khăn, không thuận lợi
cho việc khai thác nên Sa mộc dầu còn khá nhiều tại Nghệ An. Sa mộc dầu hiện
nằm trong khu bảo tồn thì việc bảo tồn không phải là vấn đề nan giải song những
vùng xung quanh và ngoại vi khu bảo tồn thì việc phá rừng làm nương rẫy là mối
đe doạ lớn. Mặt khác Sa mộc dầu chỉ gặp trong một số quần thể nhỏ, phân bố hạn
chế nên được coi là loài đang bị đe doạ ở mức Nguy cấp (EN) [25].
Qua thực tế công tác nhiều năm ở KBTTN Pù Huống, chúng tôi ghi nhận sự
có mặt của cả 2 loài Pơ mu và Sa mộc dầu tại đây. Năm 2013, Trần Đức Dũng đã
có nghiên cứu bảo tồn các loài cây thuộc ngành Thông (Pinophyta) tại KBTTN Pù
Huống trong đó cũng đã ghi nhận sự có mặt của 2 loài này trong tổng số 11 loài
thuộc ngành Thông tại KBTTN Pù Huống. Tuy nhiên, từ trước đến nay chưa có đề
tài nghiên cứu nào sâu hơn về 2 loài Pơ mu và Sa mộc dầu tại KBTTN Pù Huống.
Để có thêm cơ sở đề xuất các giải pháp bảo tồn loài Pơ mu và Sa mộc dầu,
trên cơ sở kế thừa các kết quả, phương pháp nghiên cứu của nhiều tác giả, nhà khoa
học đi trước và thực trạng tại khu vực nghiên cứu chúng tôi tiến hành nghiên cứu
một số đặc điểm sinh học, sinh thái và thực trạng bảo tồn loài Pơ mu và Sa mộc dầu
tại KBTTN Pù Huống, tỉnh Nghệ An.


16

Chương II
ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ, XÃ HỘI
KHU VỰC NGHIÊN CỨU
2.1. Đặc điểm tự nhiên
2.1.1. Vị trí địa lý
Khu vực nghiên cứu của đề tài là KBTTN Pù Huống cách thành phố Vinh

17

mạnh của sông suối đã tạo nên vùng có tính đa dạng sinh học cao và giàu tài
nguyên thiên nhiên.
2.1.3. Đặc điểm thổ nhưỡng
Do ảnh hưởng của cấu trúc địa hình, đặc điểm địa chất, đá mẹ, ảnh hưởng của
khí hậu, thực bì che phủ và tác động của con người đã tạo cho KBTTN Pù Huống
đa dạng về đất đai với sự xuất hiện các nhóm đất chính sau:
- Nhóm dạng đất Feralít mùn trên núi trung bình (FH) : Loại đất này được
hình thành ở độ cao từ 700m trở lên, có diện tích 8.426,8 ha, chiếm 21,0% diện tích
RĐD, phân bố ở hầu hết các xã trong khu vực. Tính chất đặc biệt của đất có mùn là
lớp thảm mục và tầng mùn tương đối dầy, hàm lượng mùn khá cao (7-8%). Nguyên
nhân là do độ ẩm tương đối cao, nhiệt độ thấp, quá trình khoáng hoá yếu. Đất
thường có màu nâu nhạt và hầu như không có kết von. Tuỳ theo từng loại đá mẹ mà
đất Feralít mùn trên núi trung bình có đặc tính về màu sắc, thành phần cơ giới, kết
cấu, độ chua và hàm lượng dinh dưỡng có khác nhau;
- Nhóm dạng đất Feralít điển hình trên vùng đồi và núi thấp (F) : Loại đất này
phân bố ở độ cao dưới 700m có diện tích là 26.083 ha, chiếm 65,0% diện tích. Đặc
biệt nổi bật là có quá trình Feralít xảy ra rất mạnh mẽ, đất có cấu tượng khá bền
vững. Một số diện tích vùng đồi đã bị kết von nhưng không có đá ong chặt. Tuỳ
theo từng loại đá mẹ mà đất có tính chất lý hoá khác nhau;
- Nhóm dạng đất thung lũng (T): Nhóm đất này có diện tích 5.617,9 ha, chiếm
14,0% diện tích tự nhiên khu vực, được hình thành trên các kiểu địa hình máng
trũng, thung lũng, bồn địa. Loại đất này khá tốt, thành phần cơ giới trung bình,
phần lớn là Limon, tầng đất dầy, màu sắc thường nâu nhạt, nâu xám tầng trên mặt
khá tơi xốp.
2.1.4. Đặc điểm khí hậu
Khu BTTN Pù Huống thuộc khí hậu miền Trường sơn Bắc, không những
phân hóa theo độ cao từ 300m đến 1.500m mà còn phân hóa do ảnh hưởng yếu dần
của mùa Đông Bắc tới sườn Bắc Pù Huống và sườn Nam lại chịu ảnh hưởng của


Quế
Phong
23,0
23,5

Nhiệt độ không khí cao nhất tuyệt đối (0c)

41,3

40,8

42,7

42,0

39,5

1.734,5 1.640,9 1.268,3 1.791,0

1800,0

Đặc trưng khí hậu

Lượng mưa trung bình năm (mm)
Số ngày mưa trung bình năm (ngày)
Độ ẩm trung bình năm (%)

Con
Cuông

Ngoài ra trên địa bàn còn phải kể đến tác hại của sương muối, mưa đá.
2.2. Tình hình dân sinh, kinh tế - xã hội
2.2.1. Dân số
Cộng đồng dân cư sinh sống trong vùng lõi và vùng đệm tổng cộng có 135
thôn, bản (có 3 bản nằm trong vùng lõi KBTTN Pù Huống) với 11.071 hộ, 50.831
người. Hiện trạng dân số, dân tộc và lao động được thể hiện ở Bảng 2.2 sau:


19

Bảng 2.2. Dân số, dân tộc và lao động
Nội dung
thống kê

TT

Phân theo thành phần dân tộc

Đơn vị
tính

Tổng

Thái

Hộ

11.071

10.006

46.990

1.493

627

1.097

624

3

Lao động

Người

24.697

22.459

693

706

557

282

-


438

99

-

Lao động NLN

Người

24.697

22.581

670

647

557

242

-

Lao động phi NN

Người

22.919





Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status