Đánh giá thực trạng khai thác và sử dụng lâm sản ngoài gỗ của người dân xã Lục Dạ- huyện Con Cuông- tỉnh Nghệ An - Pdf 68

Phần thứ nhất
ĐẶT VẤN ĐỀ
Việt Nam nằm trong vùng nhiệt đới, có điều kiện tự nhiên thuận lợi nên
tài nguyên rừng rất phong phú, đa dạng. Từ xa xưa tài nguyên rừng đã gắn bó
với đời sống của nhân dân ta, đặc biệt đối với đồng bào các dân tộc sống ở
vùng núi và trung du. Rừng không chỉ có giá trị to lớn trong việc bảo vệ môi
trường sinh thái, phòng hộ, an ninh quốc phòng… mà rừng còn giữ vai trò
quan trọng trong việc cung cấp gỗ và LSNG.
Trong những năm trước đây, khi tài nguyên gỗ của rừng Việt Nam còn
nhiều, người dân chỉ tập trung khai thác gỗ, còn LSNG được coi như là sản
phẩm phụ của rừng, do doanh thu từ nguồn lâm sản này thấp hơn so với gỗ.
Nhưng hiện nay, do số lượng và chất lượng rừng đang bị suy giảm mạnh, hơn
nữa chính sách đóng cửa rừng của Nhà nước đã làm cho nguồn cung cấp gỗ
ngày càng khan hiếm, điều này đã tác động mạnh đến thu nhập của người dân
sống gần rừng, phụ thuộc vào rừng. Lúc này, hoạt động khai thác rừng của
người dân lại tập trung vào các loại LSNG. Nhu cầu sản phẩm này không
những ngày càng lớn đối với thị trường trong nước mà giá trị xuất khẩu của
chúng ngày một tăng. Ngoài ra, LSNG còn có vai trò xã hội lớn, chúng mang
lại công ăn việc làm cho hàng triệu người và góp phần tích cực trong chương
trình xóa đói giảm nghèo ở các vùng nông thôn và miền núi. Do đó, cách nhìn
nhận về vai trò của nguồn tài nguyên LSNG ở Việt Nam đã thay đổi. LSNG
ngày càng khẳng định vai trò của nó đối với sinh kế của người dân nông thôn,
đặc biệt là người dân vùng cao, vùng sâu, vùng xa.
Giá trị kinh tế - xã hội của các loài thực vật cho LSNG thể hiện ở nhiều
khía cạnh khác nhau, từ cung cấp lương thực thực phẩm, vật liệu xây dựng,
nguyên liệu thủ công mỹ nghệ, dược phẩm đến giải quyết công ăn việc làm,
phát triển ngành nghề, bảo tồn và phát huy kiến thức bản địa, tôn tạo nét đẹp
văn hóa, xóa đói giảm nghèo, nâng cao đời sống nhiều mặt của người dân, đặc
biệt là những dân nghèo (FAO, 1994). Tuy nhiên, thông tin về các loài thực
1
vật cho LSNG có giá trị kinh tế cao còn rất tản mạn và ít ỏi, nên chưa phát

liệu có nguồn gốc sinh vật, không phải là gỗ, được khai thác từ rừng để phục
vụ con người. Chúng bao gồm thực phẩm, thuốc, gia vị, tinh dầu, nhựa,nhựa
mủ, tanin, thuốc nhuộm, cây cảnh, động vật hoang dã (động vật sống hoặc các
sản phẩm của chúng), củi và các nguyên liệu thô như tre, nứa, mây, song, gỗ
nhỏ và sợi. (JennH.DeBeer, 2000).
LSNG thường được phân chia theo nhóm giá trị sử dụng như sau:
- Nhóm LSNG dùng làm nguyên liệu công nghiệp.
- Nhóm LSNG dùng làm vật liệu thủ công mỹ nghệ.
- Nhóm LSNG dùng làm lương thực, thực phẩm và chăn nuôi.
- Nhóm LSNG dùng làm dược liệu.
- Nhóm LSNG dùng làm cảnh.
LSNG đa dạng về giá trị sử dụng do đó nó có vai trò quan trọng đối với
đời sống xã hội:
+ LSNG có tầm quan trọng về kinh tế và xã hội. Chúng có giá trị lớn và
có thể tạo ra nhiều công ăn việc làm.
+ LSNG có giá trị đối với sự giàu có của hệ sinh thái rừng. Chúng đóng
góp vào sự đa dạng sinh học của rừng. Chúng là nguồn gen hoang dã quí, có
thể bảo tồn phục vụ gây trồng công nghiệp.
+ LSNG hiện bị cạn kiệt cùng với sự suy thoái của rừng bởi ảnh hưởng
của sự tăng dân số, mở rộng canh tác nông nghiệp, chăn thả gia súc không
kiểm soát, khai thác gỗ, thu hái chất đốt.
2.2 Những nghiên cứu về LSNG trên thế giới
Từ những năm 1980 trở lại đây có nhiều nghiên cứu trên thế giới đã
chứng minh được giá trị thực của thực vật cho LSNG, cũng như đã chỉ rõ vai
trò to lớn của nó đối với sự nghiệp phát triển rừng bền vững. Đầu tiên phải kể
đến những phát hiện về khả năng đặc biệt của thực vật LSNG như phục hồi
nhanh, cho thu hoạch sớm, năng suất kinh tế cao, ổn định, có thể kinh doanh
3
liên tục và việc khai thác chúng thường ít phá hủy hệ sinh thái. Vì vậy, bằng
cách duy trì tính nguyên vẹn của rừng tự nhiên, việc bảo tồn có khai thác có

4
dầu, nhựa, nhựa mủ, tanin, thuốc nhuộm, cây cảnh, động vật hoang dã (động
vật sống hoặc các sản phẩm của chúng), củi và các nguyên liệu thô như tre,
nứa, song mây, gỗ nhỏ và sợi.”
Như vậy, việc định nghĩa cho rõ ràng thế nào là LSNG là vấn đề khó
khăn và không thể có một định nghĩa duy nhất đúng. Nó có thể thay đổi chút
ít phụ thuộc vào điều kiện kinh tế, xã hội, quan điểm và nhu cầu khác nhau
của các địa phương cũng như các thời điểm. Tuy nhiên qua các khái niệm trên
có thể đưa ra những cách nhìn chung về LSNG, và qua đó giúp chúng ta nhận
thức một cách đúng đắn về giá trị của nó.
Cũng đã có nhiều nghiên cứu cho thấy giá trị của LSNG về kinh tế rất lớn.
Nghiên cứu của Peter (1989) đã chỉ ra giá trị thu nhập hiện tại từ LSNG có thể
lớn hơn giá trị thu nhập hiện tại từ bất kì loại hình thức sử dụng đất nào. Hay
như Balic và Mendelsohn (1992) đã khẳng định trong công trình nghiên cứu
của mình ở một số nước nhiệt đới rằng: chỉ riêng thu nhập dược liệu từ 1ha
rừng thứ sinh cũng có thu nhập cao hơn giá trị thu nhập từ các sản phẩm nông
nghiệp trên cùng diện tích. Ở một số vùng LSNG có thể mang lại nguồn tài
chính hơn cả gỗ. Nghiên cứu của Heinzman (1990) cho biết việc kinh doanh
các sản phẩm từ các cây họ cau dừa ở Guatemala cho hiệu quả cao hơn nhiều
so với kiểu rừng kinh doanh gỗ. Ở Zimbabwe có 237.000 người làm việc liên
quan tới LSNG, trong khi đó chỉ có 16.000 người làm trong ngành lâm nghiệp,
khai thác và chế biến gỗ (FAO, 1975). Cơ quan y tế thế giới (WHO) đánh giá
là 80% dân số các nước đang phát triển dùng LSNG để chữa bệnh và làm thực
phẩm, vài triệu gia đình phụ thuộc vào những sản phẩm loại này của rừng để
tiêu dùng và là nguồn thu nhập. Nhưng theo nghiên cứu của CIFOR thì giá trị
LSNG tính qua thu nhập phải theo cách nghĩ khác:
- Thứ nhất, LSNG quan trọng vì chức năng an toàn và sinh tồn, nhiều
loại không chắc có giá trị về thu nhập.
- Thứ hai, có loại LSNG có giá trị về thu nhập nhưng hiện thời chưa
được đầu tư đúng mức, chưa có đủ điều kiện phát triển, ở nơi thiếu hạ tầng cơ

biện pháp chọn lọc và quản lý các loài cây cung cấp thực vật LSNG hoang dại
và xem chúng như là chìa khóa mở đường trong nhiều hoạt động và đã được
áp dụng ở một số mô hình nông lâm kết hợp như mô hình trồng song, mây
dưới tán rừng ở Châu Á, mô hình một số loài cau dừa (đã thuần hóa và bán
hoang dã) được gây trồng cùng các loài thân gỗ và thân thảo ở vùng nhiệt đới.
6
Nhìn chung, những nghiên cứu về LSNG đã cho thấy tiềm năng to lớn
của nó ở các nước nhiệt đới. Do vậy, kinh doanh thực vật LSNG đang mở ra
triển vọng phát triển rừng bền vững, nó có thể kết hợp với kinh doanh rừng gỗ
làm thành mô hình kinh doanh có hiệu quả trên mọi mặt.
2.3 Những nghiên cứu về LSNG ở Việt Nam
LSNG từ xưa đến nay vẫn giữ vai trò rất quan trọng trong đời sống
hàng ngày của các gia đình dân cư vùng trung du và miền núi nước ta. Gần
đây, nhờ việc buôn bán qua biên giới những sản phẩm này được đánh giá
cao hơn. Nhưng thật đáng tiếc là chúng ta còn hiểu biết rất hạn chế về
chúng, về cách thức khai thác và sử dụng của người dân bản địa đối với
nguồn tài nguyên phong phú này. Hầu như chưa có một công trình tổng
quát và sâu sắc nào về loại sản phẩm này, trong khi những kiến thức bản
địa được tích lũy từ xa xưa ngày đang bị mai một dần do sự ra đi của thế hệ
già và nhiều nguyên nhân khác nữa.
Cũng như các nước trong vùng nhiệt đới, Việt Nam có một tập đoàn thực
vật LSNG rất đa dạng và phong phú. Đó là điều kiện thuận lợi cho nhiều
người nghiên cứu, tìm tòi cũng như áp dụng các kết quả đã được nghiên cứu
và thử nghiệm trên thế giới để phát huy hiệu quả nguồn tài nguyên này.
Theo Hoàng Hòe (1998), nguồn tài nguyên LSNG ở nước ta rất lớn, có
nhiều loài và có giá trị cao: số loài cây làm thuốc chiếm tới 22% tổng số loài
thực vật Việt Nam, có khoảng trên 500 loài thực vật cho tinh dầu (chiếm
7,14% tổng số loài), khoảng trên 600 loài cho tanin và rất nhiều loài khác cho
dầu nhờn, dầu béo, cây cảnh. Bên cạnh đó, song mây, tre nứa (hiện nay, tổng
diện tích tre của nước ta là 1.492.000 ha, với khoảng 4.181.800.000 cây)

triển khai như:
1. Dự án nghiên cứu một số vấn đề kinh tế xã hội và vai trò của phụ nữ
trong chế biến song, mây, tre do Viện Khoa Học Lâm Nghiệp Việt Nam thực
hiện từ 1993- 1995.
2. Dự án nghiên cứu thị trường địa phương cho sản phẩm ngoài gỗ ở Bắc
Thái do sở Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn Bắc Thái thực hiện.
8
3. Dự án trồng rừng đặc sản (được lồng ghép trong chương trình 5
triệu ha rừng).
4. Dự án sử dụng bền vững các LSNG do trung tâm nghiên cứu lâm đặc
sản và tổ chức bảo tồn thiên nhiên quốc tế (IUCN) thực thi với sự cộng tác
của trung tâm nghiên cứu tài nguyên môi trường (CRES), viện nghiên cứu
sinh thái (ECO-ECO). Tuy nhiên, dự án này cũng chỉ mới đưa ra các khuyến
nghị cho địa phương nơi tiến hành dự án là vùng đệm khu bảo tồn Kẻ Gỗ và
vùng đệm vườn quốc gia Ba Bể, chưa thuyết minh được một cách thuyết phục
bằng con số là những thực vật LSNG nào sẽ mang lại hiệu quả cao thực sự.
Có thể nói, những chương trình phát triển và nghiên cứu trong nước đã
thể hiện sự quan tâm đối với thực vật LSNG. Tuy nhiên, việc nghiên cứu thực
vật LSNG ở Việt Nam còn thiếu chiều sâu. Do vậy, tuy đã có nhiều nghiên
cứu, chương trình dự án tiến hành ở nhiều nơi song chưa có nơi nào thực sự
phát huy cao được vai trò của thực vật LSNG.
9
Phần thứ ba
MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
3.1. Mục tiêu nghiên cứu
3.1.1. Mục Tiêu Tổng Quát
- Đánh giá tiềm năng, thực trạng của việc khai thác và sử dụng nguồn tài
nguyên thực vật LSNG của người dân địa phương. Từ đó đưa ra những kiến
nghị, giải pháp nhằm bảo tồn và phát triển LSNG tại xã Lục Dạ.

về điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế xã hội, các báo cáo, văn bản có liên
quan đến chuyên đề nghiên cứu đã có ở địa phương.
- Phương pháp đánh giá nông thôn có sự tham gia (PRA):
PRA được tiến hành bằng cách tiến hành phỏng vấn trực tiếp người dân
thông qua các bảng hỏi. Lựa chọn 3 bản tiêu biểu: bản Mét, bản Tân Hợp, bản
Lục Sơn trong xã để làm điểm nghiên cứu, tại mỗi bản có khoảng 10- 15
người được lựa chọn để tiến hành phỏng vấn theo những nội dung sau:
+ Điều tra mức độ tác động của người dân đến việc khai thác:
+ Điều tra chi tiết về sản lượng, giá cả thị trường, thời gian khai thác,…
cho từng sản phẩm.
+ Phân tích, xếp hạng giá trị nhiều mặt của một số loài thực vật cho LSNG.
- Phương pháp điều tra thực địa: Đi tới các khu rừng mà người dân hay
khai thác LSNG để nắm rõ về các sản phẩm mà người dân khai thác.
- Phương pháp cho điểm xếp hạng cây trồng:
Với mỗi loài cây lựa chọn tôi tiến hành cho điểm theo các tiêu chuẩn,
thang điểm cho là từ 1- 10. Sau đó cộng lại và tiến hành xếp hạng. Loài nào
điểm cao sẽ được lựa chọn.
3.4.3. Công tác nội nghiệp
Xử lý số liệu theo phương pháp thống kê mô tả và phương pháp phân
tích định tính, ngoài ra còn sử dung dụng phương pháp phân tích SWOT để
phân tích những điểm manh, điểm yếu, cơ hội, thách thức trong sử dụng và
quản lý LSNG tại Lục Dạ.
Phần thứ tư
11
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
4.1 Một số đặc điểm tự nhiên – xã hội của xã Lục Dạ
4.1.1 Điều kiện tự nhiên
Xã Lục Dạ thuộc vùng đệm vườn quốc gia Pù Mát- là một khu rừng đặc
dụng ở phía tây tỉnh Nghệ An.
Lục Dạ là xã vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn, có tổng diện

Hướng chung của địa hình là hướng nghiêng dần từ Tây Bắc đến Đông Nam.
4.1.1.3 Địa chất thổ nhưỡng
- Đất thuộc hệ feralit và hệ phù sa:
- Đất feralit vùng đồi: tập trung phần lớn ở đồi trọc, đất ít mùn (< 2%),
độ chua cao (pH = 4- 4,5), có hiện tượng đá ong hóa mạnh.
- Đất feralit vùng núi thấp: ở độ cao từ 500- 700 m, có thảm thực vật che
phủ tương đối cao, hàm lượng mùn 2- 4%, thành phần cơ giới từ thịt nặng đến
sét nhẹ.
- Đất feralit trên núi cao từ 700- 1800 m: hàm lượng mùn cao (5- 8%).
12
- Đất feralit mùn trên núi cao (có độ cao trên 1800 m): hàm lượng mùn
cao (8- 12%), đất xốp, giữ nước mạnh, kết cấu tốt.
- Đất phù sa: phân bố rải rác dọc sông Con, sông Cả, sông Giăng. Đất
hàng năm bị ngập do lũ, độ phù sa lớn, độ phì cao. Đây là vùng đất có ý nghĩa
trong sản xuất nông nghiệp, chuyên trồng các loại cây lương thực và cây công
nghiệp ngắn ngày.(ví dụ: lúa, ngô, lạc, mía, dâu tằm…).
4.1.1.4 Khí hậu thuỷ văn
Vườn quốc gia Pù Mát nói chung và xã Lục Dạ nói riêng nằm trong khu
vực nhiệt đới gió mùa, chịu ảnh hưởng sâu sắc của gió mùa Đông Bắc lạnh và
gió mùa Tây Nam ( gió Lào) khô nóng. Các yếu tố khí hậu mang tính chất
phân cực mạnh, hình thành hai mùa rõ rệt: mùa nóng ẩm từ tháng 4 đến tháng
10; mùa khô lạnh từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau.
a. Nhiệt độ
- Nhiệt độ bình quân tháng thấp nhất: 17,25
0
- Nhiệt độ bình quân tháng cao nhất: 29
0
- Trung bình năm: 23,6
0
b. Lượng mưa

4.1.1.5 Thảm thực vật rừng
Khu hệ thực vật vùng núi Tây Nam- Nghệ An nói chung và xã Lục
Dạ nói riêng nằm trong khu vực đa dạng sinh học Bắc Trường Sơn có tính
chất chuyển tiếp, nơi gặp nhau của 3 luồng di cư lớn từ Trung Quốc xuống, từ
Indonesia lên và từ Hymalaya sang. Chính vì vậy, thực vật ở đây rất phong
phú, đa dạng và có nhiều kiểu rừng:
* Rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới: tập trung ở những vùng thấp
dọc theo thung lũng sông Cả, thường là rừng thứ sinh. Nơi ít bị tàn phá có lát
hoa, sến, táu, lim… Đa số cây có bạnh vè, cây ưu thế thường cao khoảng 30 m.
* Rừng kín nửa rụng lá mưa ẩm nhiệt đới: đây là loại rừng phổ biến, hầu
hết là các khu rừng có độ cao từ 900 m trở xuống. Cây nhỏ hơn, tầng thấp hơn
(20- 30m). Số lượng cây rụng lá về mùa đông tăng lên và chiếm đến một nửa
lượng cây rừng. Đặc biệt có Săng lẻ là cây rụng lá điển hình và phát triển tốt.
Tầng 2 chủ yếu là gỗ tạp, tầng 3 là tre, nứa, song, mây… Những dải rừng gần
bản làng, đường giao thông dễ bị khai thác nên đã bị cạn kiệt hoặc do làm
nương rẫy nên đã trở thành rừng thứ sinh.
* Rừng kín thường xanh Á nhiệt đới: phân bố ở độ cao trên 900m với các
loại hạt trần đang chú ý là Pơmu, Sa mộc… Những họ tiêu biểu là:
Lauraceae, Fagaceae, Theaceae, Magnoliaceae, Hamamelidaceae.
14
4.1.1.6 Khu hệ động vật
Do môi trường tự nhiên rất phức tạp và đa dạng nên hệ động vật cũng rất
đa dạng, có thể gặp các loài động vật phương Bắc như: vàng anh, cầy vằn;
động vật phương Nam: Vọoc Chà Và, Cầy bay… Những loài đang bị đe dọa
tuyệt chủng như Voi, Hươu… Một số loài không còn như: Tê Gíac một sừng,
Trâu rừng…
Nhìn chung, điều kiện tự nhiên vùng này tương đối thuận lợi cho các loài
thực vật phát triển, độ ẩm của đất do các con sông, suối mang lại là một đặc
điểm lí tưởng cho sự phát triển của các loài thực vật. Mặt khác, nơi đây là
điểm giao lưu của 3 luồng thực vật do vậy hệ thực vật có nhiều yếu tố địa lí

kinh tế của các hộ gia đình. Nhưng dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy Đảng,
chính quyền, sự nỗ lực phấn đấu của nhân dân toàn xã, năm 2008 cán bộ và
nhân dân trong xã đã phấn đấu đạt được một số thành tựu nhất định:
* Về Trồng Trọt:
- Tổng diện tích gieo trồng: 960 ha.
- Tổng sản lượng lương thực: 3.152,24 tấn.
Bảng 1: Diện tích, năng suất, sản lượng một số cây trồng chủ yếu ở
xã Lục Dạ năm 2008
TT Loại cây trồng Đơn vị Số lượng
1 Lúa vụ xuân:
- Diện tích
- Năng suất
- Sản lượng
ha
tạ/ha
tấn
287,0
60,8
1.744,96
2
a.
b.
c.
Ngô các loại:
Ngô lai:
- Diện tích
- Năng suất
- Sản lượng
Ngô vụ thu:
- Diện tích

Tấn
35,9
17,5
62,825
16
4 Rau các loại:
- Diện tích
- Năng suất
- Sản lượng
Ha
Tạ/ha
Tấn
68,0
90,0
612,0
5 Đậu hè thu:
- Diện tích
- Năng suất
- Sản lượng
Ha
Tạ/ha
Tấn
65,0
8,7
56,55
6 Khoai lang lấy dây:
- Diện tích
- Năng suất
- Sản lượng
Ha

Thực tế đã cho thấy, để tồn tại người dân đã vào rừng khai thác LSNG
khi mà sự khai thác gỗ và động vật hoang dã đã bị quản lý chặt chẽ. Điều
thuận lợi duy nhất mà họ có được đó là xung quanh họ có một diện tích rừng
17
rất rộng lớn, đa dạng phong phú về thành phần loài, rất giàu về các nguồn tài
nguyên, trong đó có LSNG. Tuy nhiên sự khai thác LSNG cũng không phải
đem lại cho họ nguồn thu nhập ổn định do nhiều nguyên nhân như chưa biết
giá trị thực sự của LSNG, chưa biết khai thác hợp lý, nguồn LSNG ngày một
cạn kiệt… Chính vì vậy, hiện nay vẫn còn rất nhiều hộ dân thiếu lương thực
từ 3-4 tháng/năm, vẫn còn rất nhiều hộ dân thường xuyên phải ăn cơm độn
sắn hoặc chỉ ăn sắn thay cơm.
Các chương trình phát triển lâm nghiệp được thực hiện trong những
năm gần đây như chương trình 327, 661… Các hộ gia đình hoặc tập thể đã
được nhận rừng để khoanh nuôi và phát triển. Tuy nhiên, mức sống của người
dân cũng không cải thiện được là bao nhiêu, họ phải lo chạy ăn từng bữa
trong khi đó để thu nhập từ khoanh nuôi rừng phải đợi thời gian lâu dài.
Năm 2008, xã Lục Dạ đã trồng mới được 20 ha rừng. Các lâm trường
trong khu vực đã mở thêm các trung tâm, dịch vụ kĩ thuật, cây giống cho
đồng bào địa phương cùng phát triển lâm nghiệp.
4.1.2.3 Cơ sở hạ tầng
a. Giao thông
Các trục đường chính hầu hết đã được làm bằng bê tông. Còn các đường
nhỏ vào thôn bản thì vẫn chưa được bê tông hoá, đường còn nhiều sỏi đá,
ghập ghềnh khó đi.
b. Thủy lợi
- Xây dựng được 841m kênh mương.
- Tu sửa các phai, đập tạm như: phai Hịa (Hua Nà), phai Mèn (bản Mét),
đập khe Sú (Tân Hợp), đập khe Chảng (bản Mọi).
- Tổng chiều dài nạo vét kênh mương là 1.670m.
c. Y tế

văn hóa, tinh thần.
4.2 Thực trạng khai thác và sử dụng các loại LSNG tại xã Lục Dạ
4.2.1 Các cây làm dược liệu
Nguồn thực vật cho LSNG rất phong phú và đa dạng. Theo thống kê số
loài được sử dụng để làm thuốc chiếm ưu thế nhất về số lượng loài, điều này
cho thấy kiến thức chữa bệnh bằng thuốc nam của người dân rất phong phú,
những kiến thức này đã và đang được sử dụng rộng rãi trong cộng đồng. Kết
quả điều tra về thành phần loài và công dụng của các loài cây dược liệu được
trình bày ở bảng 2.
19
Bảng 2: Thành phần loài và công dụng của các loài cây dược liệu
T
T
Tên loài
Tên Việt
Nam
Tên Khoa Học
Bộ
phận
dùng
Công dụng
Mức
độ
thường
gặp
1
Cam
thảo đất
Scoparia dulcis
Toàn

Alpinia galangal
Thân
rễ
Chữa đau bụng,
tiêu chảy, nôn
mửa, lỵ.
++++
5
Chè
vằng*
Jasminum
subtriplinerve
Thân,
lá,
quả
Tác dụng làm mát
cơ thể, chữa hậu
sản.
+++
6 Ngải cứu Artemisia vulgaris Lá
chữa đau đầu, động
thai
++++
7 Bạc hà Mentha arvensis
Thân,

Có tác dụng hạ sốt,
làm ra mồ hôi, làm
dịu họng, lợi tiêu
hoá, chống ngứa.

Dicranopteris
dichotoma
Thân
rễ (củ
gừng)
Dùng trong trường
hợp kém ăn, ăn
không tiêu, nôn
mửa, đi ngoài tiêu
chảy, làm toát mồ
hôi, chữa ho mất
tiếng.
++++
11
Bổ cốt
toái*
Drynaria fortunei
Thân
rễ
Chữa thận hư, tiêu
chảy kéo dài, đau
lưng mỏi gối, bong
gân, sai khớp, gãy
xương.
+
12
Hoàng
đằng*
Fibraurea sp.
Thân

tê bại.
+++
15 Ích mẫu Leonurus japonicus
Toàn
cây
Chữa các bệnh về
kinh nguyệt, làm
an thai, chữa viêm
thận, phù thũng,
đái ra máu.
++
16 Khôi tía Ardisia sylvestris Lá Chữa đau dạ dày +++
21
17 Gấc
Momordica
cochinchinensis
Qủa
Chữa quai bị, ngộ
độc
++++
18
Thổ
phục
linh
Smilax glabra
Thân
rễ
Chữa thấp khớp,
mụn nhọt, lở ngứa,
giang mai, giải độc

Dùng để chữa
thiếu máu, thần
kinh suy nhược,
ăn ngủ kém, đau
nhức gân xương,
bạc tóc sớm,…
+
22 Nghệ Curcuma longa Củ
Chữa đau dạ dày,
đau bụng, ăn
không tiêu, bế
kinh, kinh nguyệt
không đều, phong
thấp, vàng da,…
+++
23
Chân
chim
Schefflera
heptaphylla
Vỏ
thân,
rễ
Rễ làm thuốc bổ;
vỏ cây chữa cảm
sốt, họng sưng
đau, thấp khớp.
++++
Nguồn: điều tra thực địa và phỏng vấn người dân
Mức độ gặp: ++++: rất nhiều; +++: trung bình; ++: gặp ít; +: hiếm gặp

4 Trám đen*
Canarium
tramdenum
Quả Ăn quả Rừng
5 Sim rừng
Rhodomyrtus
tomentosa
Quả Ăn quả Rừng
6 Rau dớn
Cylosorus
paraciticut
Thân Làm rau
Nương,
bãi
7 Rau má Centella asiatica Cả cây
Rau, nấu
canh
Ven
ruộng
8 Rau sam Portulata oleracea Thân, lá Rau
Nương
bãi
9 Mét Dendrocalamus sp. Măng Làm rau
Rừng,
đồi
10 Rau tàu bay
Erechtites
valerianifolia
Lá Làm rau
Nương,

đồi
18 Mướp đắng
Momordica
charantica
Quả Ăn quả
nương
bãi
19 Măng nứa* Neohouzeana dulloa Măng Làm rau
Rừng,
đồi
20 Chua me đất Oxalis corniculata Thân, lá Nấu canh
Đồi, ven
ruộng
21 Rau bợ
Marcilea
quadripholya
Thân Làm rau
Nương
bãi,
ven
ruộng
22 Chân chim
Schefflera
heptaphylla

Lá non
làm rau
Đồi,
rừng
23 Rau càng cua

Quế Cinnamomum cassia Lauraceae Vỏ thân,

3 Hương lâu Dianella ensifolia Phormiaceae Rễ
4 Bạch đàn Eucalyptus spp. Myrtaceae Lá
5
Chổi xuể Baeckea frutescens Myrtaceae Phần trên
mặt đất
6
Thiên niên
kiện
Homalomena occulta Araceae Thân rễ
7 Gừng Dicranopteris dichotoma Zingiberaceae Củ
8 Sa nhân Amomum villosum Zingiberaceae Quả
9
Hương nhu
tía
Ocium sanctum Lamiaceae Phần trên
mặt đất
10
Hương nhu
trắng
Ocimum grasstisimum Lamiaceae Phần trên
mặt đất
11 Bạc hà Mentha avensis Lamiaceae Toàn cây
12 Hoắc hương Pogostemon cablin Lamiaceae Lá
Nguồn: Nguyễn Anh Dũng, 2007
Đối với cây Hương Lâu ngoài việc cung cấp nguyên liệu cho làm hương, thì
tinh dầu của nó cũng rất có giá trị và được nhiều nước trên thế giới ưa chuộng,
giá xuất khẩu của nó ở Việt Nam là 30USD/kg. Giá trị nhất phải kể đến đó là
tinh dầu Vông Vang, giá trị xuất khẩu đi các nước trên thế giới là


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status