Quản lý đất rừng cộng đồng, can thiệp từ bên ngoài và
phản hồi địa phương: Nghiên cứu cộng đồng người Thái ở
xã Hạnh Dịch, huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An, Việt Nam
Luận văn
để hoàn thành
Cao học Khoa học Xã hội
tại
Trường Đại học Waikato
của
PHẠM VĂN DŨNG
2014
ii Bản tóm tắt
Trong bối cảnh ngày càng có thêm nhiều tương tác giữa các nhóm dân tộc xa xôi
cách trở với các tác nhân bên ngoài, thì một trong những vấn đề đáng được quan
tâm và bàn luận là quyền về đất rừng của họ chưa được khẳng định. Liệu việc
chiếm giữ đất bởi các chủ thể bên ngoài và việc bảo trợ quản lý rừng theo mệnh
lệnh có đáp ứng được nguyện vọng của người dân bị mất đất? Cộng đồng địa
phương cần được tham gia quản lý đất rừng và có vai trò quyết định đối với tương
lai của mình ra sao và đến mức độ nào? Để trả lời các câu hỏi trên, nghiên cứu
phi tập trung hóa, thì quyền đất đai và quyền luật tục của cộng đồng cần được
chính thức nhận diện và khẳng định. Nhưng không nên nhìn nhận việc chứng thực
bởi chính quyền là mục tiêu cuối cùng, mà chỉ là yếu tố hỗ trợ, trong khi đó sức
mạnh của cộng đồng địa phương để tự thực thi các quyền của mình phải là yếu tố
quyết định. Để nhắm tới đích đó, người bản địa cần thêm cơ hội liên kết mạng
lưới, tăng cường năng lực và tham gia vào các nghiên cứu kỹ lưỡng về văn hóa-xã
hội để bảo đảm rằng tính đại diện của họ ngày càng thực chất và công bằng. iv
LỜI CẢM ƠN
Trước tiên tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới người dân và cán bộ xã Hạnh
Dịch, huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An, Việt Nam, những người đã tạo điều kiện
và cung cấp cho tôi những thông tin quí báu về phong tục tập quán, quản lý đất
rừng, cùng những suy nghĩ, trăn trở của mình. Tôi đặc biệt ghi nhận vai trò của
ông Sầm Quốc Việt, ông Lô Khánh Xuyên, bà Lương Thị Văn và ông Vi Đình
Văn cùng nhiều già làng, những người có nhiều kinh nghiệm trong cộng đồng khi
họ đã nhiệt tình chia sẻ, giúp đỡ và tư vấn để tôi hoàn thành tốt nghiên cứu tại
thực địa.
Tôi có được kết quả nghiên cứu và học tập ngày hôm nay là nhờ những tư vấn,
giúp đỡ rất lớn của bà Trần Thị Lành, người sáng lập và dẫn dắt các Trung tâm
TEW, CIRD và CHESH cùng với viện SPERI ngày nay, những nơi tôi đã công tác
suốt 18 năm qua. Kết quả nghiên cứu trong Luận văn này không phải là của riêng
tôi, mà là kết quả từ những nỗ lực chung của nhiều cán bộ các tổ chức trên.
Tôi xin cảm ơn Tiến sĩ Keith Barber, giảng viên Chương trình Nhân học trường
Đại học Waikato, người đã chỉ dẫn nhiệt tình, kịp thời, cụ thể cho tôi trong suốt
quá trình chuẩn bị nghiên cứu thực địa và hoàn thiện Luận văn này. Tôi cũng cảm
ơn Tiến sĩ Thomas Rayan cùng các giảng viên Chương trình nhân học vì những
động viên về tinh thần đối với tôi. Tôi ghi nhận công lao của bà Sheeba Devan-
Netherlands (Tổ chức Liên giáo hội vì Hợp tác và Phát
triển, Hà Lan),
MECO-ECOTRA Mekong Community Networking and Ecological Trading
(Mạng lưới Thương mại Sinh thái vùng Mê-công)
QHVN Quốc hội Việt Nam
SPERI Social Policy Ecology Research Institute (Viện Nghiên cứu
Sinh thái Chính sách Xã hội),
TEW Towards Ethnic Women (Trung tâm Hướng tới Phụ nữ Dân
tộc)
TK&TD Tiết kiệm & Tín dụng
TNTN Tài nguyên thiên nhiên
TNXP7 Thanh niên Xung phong Xây dựng Kinh tế 7
UBND Ủy ban nhân dân
vi
MỤC LỤC
Bản tóm tắt ii
LỜI CẢM ƠN iv
CHƯƠNG 1. GIỚI THIỆU 1
CHƯƠNG 2. TỔNG LƯỢC CÁC NGHIÊN CỨU ĐÃ CÓ 6
2.1. Tóm lược về người Thái và dân tộc ít người ở Việt Nam 6
2.2. Bàn luận về kiến thức bản địa và quyền về văn hóa 8
2.3. Tranh luận về đất rừng cộng đồng và sinh kế 11
CHƯƠNG 3. THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU 15
3.1. Lựa chọn tài liệu 15
3.2. Sử dụng các dữ liệu phù hợp của SPERI 15
3.3. Phương pháp nghiên cứu tại thực địa 17
CHƯƠNG 4. NHỮNG PHÁT HIỆN 21
4.1. Sơ lược về người Thái ở xã Hạnh Dịch 21
5.3. Áp đặt hay từ dưới lên? 93
5.4. Hướng đi tương lai 98
5.4.1. Khung pháp lý về rừng cộng đồng tại Việt Nam 98
5.4.2. Thực thi pháp luật 101
5.4.3. Vận dụng cho xã Hạnh Dịch 102
CHƯƠNG 6. KẾT LUẬN 105
TÀI LIỆU THAM KHẢO 109
PHỤ LỤC 114
Phụ lục 1. Bản đồ vùng nghiên cứu và vùng dự án của LISO 114
viii
Phụ lục 2. Những thuật ngữ có ích trong nghiên cứu người Thái ở xã Hạnh Dịch, Quế
Phong, Nghệ An 115
Phụ lục 3. Tình hình sử dụng đất tại xã Hạnh Dịch (2002) 117
Phụ lục 4. Phân tích chủ thể trong giao đất giao rừng 2003 118
Phụ lục 5. Kết quả giao đất giao rừng tại xã Hạnh Dịch năm 2003 120
Phụ lục 6. Tình hình sử dụng đất tại huyện Quế Phong (2012) 121
Phụ lục 7. Phân loại đất rừng bởi cộng đồng bản Pỏm Om (2012) 122
1
CHƯƠNG 1. GIỚI THIỆU
Cùng với những tác động từ bên ngoài vào các cộng đồng dân tộc ít người và bản
địa trong suốt mấy chục năm qua, những thuật ngữ như “phát triển”, hay “hiện đại
hóa”, hoặc “xóa đói giảm nghèo” đã được sử dụng rộng rãi ở Việt Nam và trên thế
giới. Tuy nhiên, người ta thường không làm rõ và hiểu sâu hàm nghĩa chính xác
của các thuật ngữ nêu trên. Những tác nhân bên ngoài các cộng đồng, như báo
Mặc dù cộng đồng đã được công nhận là một chủ thể sử dụng đất theo Luật Đất
đai 2003, nhưng đến nay số cộng đồng được nhận giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất rừng vẫn còn quá ít so với mong đợi. Những quy định và việc thực thi chính
sách như trên đã đưa đến hậu quả là các cộng đồng thiếu đất và rừng, nguồn tài
nguyên sống còn để duy trì an toàn sinh kế và giữ gìn bản sắc văn hóa của họ.
Nếu không có sự tham gia rộng rãi của người dân địa phương, thì khó có thể nói
đến phương án các bên cùng có lợi khi giải quyết các vấn đề an toàn sinh kế và
môi trường (cụ thể là bảo vệ rừng). Các vấn đề lớn, ngày càng bức thiết đang đặt
ra trước các nhà hoạch định chính sách, quan chức thực thi chính sách, các tác
nhân về văn hóa và môi trường, đó là làm sao tiếp cận thật phù hợp và hiệu quả ở
từng địa phương trong khi đóng góp giải quyết được những vấn đề lớn toàn cầu
như an toàn sinh kế, bảo tồn đa dạng sinh thái và văn hóa khi có biến đổi khí hậu
và trái đất đang nóng lên.
Các cộng đồng gặp khó khăn đang cần phương pháp tiếp cận và những hỗ trợ phù
hợp để bảo đảm phúc lợi và giữ gìn bản sắc văn hóa của dân tộc mình. Theo đuổi
công việc này, SPERI (Viện Nghiên cứu Sinh thái Chính sách Xã hội) và các tổ
chức tiền thân của mình đã và đang làm việc với nhiều cộng đồng dân tộc ít người
khác nhau, đặc biệt ở Việt Nam và Lào để cải thiện tình hình. SPERI là một tổ
chức nghiên cứu độc lập do tư nhân thành lập tại Việt Nam năm 2006. Các tổ
chức tiền thân của SPERI là TEW (Trung tâm Hướng tới Phụ nữ Dân tộc Thiểu
số), CHESH (Trung tâm Sinh thái Nhân văn Vùng cao), và CIRD (Trung tâm
Nghiên cứu Kiến thức Bản địa và Phát triển), đều là các tổ chức phi chính phủ
(NGOs) được thành lập vào những năm 90 của thế kỷ XX
1
. SPERI ưu tiên các
hoạt động hỗ trợ nâng cao năng lực quản lý tài nguyên thiên nhiên của các dân tộc
ít người bản địa ở Việt Nam và vùng Mê-công. Một mạng lưới của người dân có
tên MECO-ECOTRA (Mạng lưới Thương mại Sinh thái vùng Mê-công) được
hình thành trong quá trình này để chia sẻ các tri thức, luật tục, thuốc nam, thổ cẩm
và thủ công mỹ nghệ, nông nghiệp sinh thái liên thế hệ, liên cộng đồng, và tăng
nước và tư nhân. Việc chuyển quyền sở hữu đất rừng từ cộng đồng sang các chủ
thể nhà nước diễn ra mạnh mẽ nhất ở miền Bắc Việt Nam trong giai đoạn 1960-
1980 cùng với việc thiết lập các hợp tác xã và cơ chế tập trung hóa. Mặc dù quản
lý một lượng rất lớn đất rừng, nhưng đa số các đơn vị quản lý rừng và doanh
nghiệp nhà nước rất khó hoàn thành trách nhiệm của mình; nhiều tổ chức không
đạt được các nghĩa vụ xã hội và môi trường bởi cách hiểu và tiếp cận của họ
không phù hợp với thực tế địa phương. Vì thế hiểu đúng đắn và tiếp cận phù hợp
đối với mỗi cộng đồng dân tộc ít người cụ thể là yêu cầu đặt ra đối với mỗi tổ
4
chức thực thi và hỗ trợ cũng như mỗi nhà nghiên cứu thực thụ. Để tranh luận có
tính thuyết phục trên cơ sở bằng chứng cụ thể, chắc chắn, nghiên cứu này sẽ tập
trung vào trường hợp cụ thể của cộng đồng người Thái ở xã Hạnh Dịch, huyện
Quế Phong, tỉnh Nghệ An ở Việt Nam. Nghiên cứu sẽ đặt vấn đề tranh luận với
các cách hiểu và cách làm quan liêu, và cố gắng hiểu thêm các giá trị văn hóa, luật
tục, thực tiễn sử dụng đất, bảo vệ rừng và sinh kế của người dân địa phương.
Nghiên cứu này hướng tới trả lời hai câu hỏi chính là: 1) Người Thái ở xã Hạnh,
huyện Quế Phong đã và đang sử dụng đất và rừng của cha ông để lại trên cơ sở
giữ gìn luật tục và bảo toàn sinh kế như thế nào? và 2) Người Thái ở xã Hạnh
Dịch đã phản hồi các quan điểm, cách tiếp cận và can thiệp từ bên ngoài như thế
nào? Các câu hỏi phụ và minh họa cụ thể sẽ được trình bày trong các chương và
mục của Luận văn.
Luận văn này bao gồm sáu Chương. Tiếp sau phần Giới thiệu, chương thứ hai
(Tổng lược các nghiên cứu đã có) sẽ tóm lược và đánh giá các tác phẩm xuất bản
về đặc điểm văn hóa, luật tục và tri thức địa phương của người Thái, đặc biệt là
chủ đề bảo vệ rừng. Chương này cũng phân tích các tranh luận về chính sách rừng
cộng đồng và mối liên hệ giữa quyền của cộng đồng về đất rừng, chủ quyền sinh
kế và bảo tồn văn hóa ở địa phương. Chương thứ ba đề cập đến thiết kế nghiên
cứu, mô tả rõ cách thức tác giả tiến hành tổng hợp các nghiên cứu, lựa chọn tư
liệu từ cơ sở dữ liệu của SPERI và nghiên cứu điền dã. Phần Những phát hiện
Cho đến nay đã có khá nhiều nghiên cứu và xuất bản về dân tộc Thái ở Việt Nam.
Đáng chú ý là cuốn sách về luật tục của người Thái của Ngô Đức Thịnh và Cầm
Trọng xuất bản năm 1999. Hai tác giả này đã tập hợp các luật tục truyền miệng và
thành văn của người Thái, đặc biệt là nhóm sinh sống ở vùng Tây bắc Việt Nam.
Các tác giả cũng đề cập đến phong tục cưới xin và đám ma của người Thái Đen và
Thái Trắng. Về đặc trưng văn hóa 54 dân tộc ở Việt Nam, Hoàng Nam (2013) có
một số đoạn viết đáng chú ý về người Thái ở Việt Nam. Theo Hoàng Nam, Tên
gọi Bạch Y Man (Thái Trắng) đã lần đầu tiên trong lịch sử xuất hiện trong thư tịch
thời nhà Đường (618-907). Truyền thuyết của người Thái có nhắc đến nguồn gốc
tổ tiên của mình ở nơi hội tụ của chín con sông chảy qua Tây bắc Việt Nam, miền
bắc Lào và nam Trung Quốc. Từ thế kỉ thứ hai, người Thái Trắng đã di cư đến
miền Bắc Việt Nam, rồi sau đó tiếp tục di cư xuống phía nam, đến tỉnh Thanh Hóa
(2013, trang 655-6), nghĩa là ở phía bắc vùng nghiên cứu của Luận văn này.
Nguồn sinh sống quan trọng đối với người Thái là thức ăn, thuốc nam, măng, cá
và các sản vật khác được thu hái từ rừng, sông suối (trang 658). Một bản làng đặc
trưng của người Thái thường có ruộng lúa, nương rẫy và đất chưa sử dụng. Người
khai hoang đất được thừa nhận quyền sử dụng, và đất chưa sử dụng là của chung
cộng đồng. Mọi người đều có quyền chăn thả gia súc và thu hái sản vật trên đất
cộng đồng (trang 660). Có hai nhân vật quan trọng nhất quản lý đời sống của bản
làng là chảu đin (chủ đất) và thày mo (lãnh đạo tinh thần). Khi cần lập bản mới,
chảu đin dẫn dân đi tìm vùng đất đủ để làm nhà, canh tác và chăn thả gia súc.
Thầy mo làm lễ xin thần đất cho phép lập bản và giúp chảu đin làm lắc mường,
một cây cột tượng trưng cho việc gắn kết và quy tụ cộng đồng (tài liệu đã dẫn,
trang 661).
Phần trích dẫn trên của Hoàng Nam cơ bản phù hợp với những tìm hiểu của tác
giả tại vùng nghiên cứu. Tuy nhiên vẫn cần nghiên cứu thêm để có thể xác định rõ
người Thái sống ở xã Hạnh Dịch và huyện Quế Phong thuộc về phân nhóm nào.
7
Theo Lô Khánh Xuyên (2004b) và một số già làng địa phương, người Thái di cư
Việt là có thể thấy hàng ngàn kết quả gán các phong tục của các dân tộc ít người
với các từ ‘lạc hậu’, ‘ghê rợn’ hoặc ‘man rợ’. Một bài báo trên trang tin điện tử
8
Pháp luật và Xã hội (2012) gán các từ ‘lạc hậu’ và ‘phạm pháp’ vào phong tục và
truyền thuyết của người Đan Lai ở tỉnh Nghệ An. Báo Nghệ An (2011) mô tả
người Đan Lai như những người man rợ, được bộ đội biên phòng ‘phát hiện ra’,
cho gạo ăn, phải định canh và thay đổi hoàn toàn từ ‘lang thang’, ‘săn bắn hái
lượm’ sang canh tác lúa nước để cứu họ khỏi tuyệt chủng! Một bài khác trên Báo
Mới (2012) mô tả phong tục ma chay của người Ba-na, người H’mong và một số
dân tộc khác là ghê rợn và man rợ. Các bài viết theo kiểu nhìn nhận hời hợt và
thiếu đạo đức nghề nghiệp như trên gây ra cách hiểu sai lệch của công chúng đối
với các dân tộc ít người ở Việt Nam.
Các bất cập không chỉ tồn tại ở trên báo chí và nhận thức của công chúng, mà còn
cả trong lập pháp và thực thi chính sách. Mặc dù Hiến pháp Việt Nam cấm kì thị
dân tộc, nhưng một số văn bản quy phạm pháp luật vẫn dùng từ ‘lạc hậu’ để gán
cho thực trạng của các dân tộc ít người. Nhiều chính sách lại dựa trên giả định cho
rằng “các dân tộc ít người sống lang thang, và yêu cầu định canh” (Ngân hàng
Thế giới, 2009, trang 6). Hệ quả là những ‘hỗ trợ’ chính thống thường có cách
tiếp cận và can thiệp mới nhưng không phù hợp, được lấy tên là các dự án ‘phát
triển’. Thật nực cười khi các ‘hỗ trợ’ không giúp phát huy sức mạnh nội tại và tính
tự tin của người dân địa phương, mà thường tạo ra áp lực buộc họ phải thay đổi và
ngày càng phụ thuộc vào bên ngoài. Nhận định này sẽ được bàn kĩ và rõ hơn trong
phần bàn luận về các giá trị văn hóa và quyền đất rừng của cộng đồng.
2.2. Bàn luận về kiến thức bản địa và quyền về văn hóa
Có thể xem xét cuộc tranh luận về kiến thức bản địa và vai trò của nó thông qua
mối quan hệ giữa kiến thức bản địa với kiến thức khoa học và sở hữu trí tuệ. Đã
có nhiều học giả đề cao kiến thức bản địa. Thí dụ, kiến thức bản địa được xem
như có tính xã hội và hội nhập cao (Ross và cộng sự, 2011, trang 35) và giúp
nhưng hệ thống canh tác này vẫn bị số đông gán ghép vào nguyên nhân suy thoái
môi trường, trong khi một số tổ chức quốc tế kiến nghị xóa bỏ hệ thống này. “Các
quyền trên nương rẫy theo phong tục đã không được thừa nhận và nương rẫy bỏ
hóa bị coi là đất hoang và không có chủ” (Latorre & Latorre, 2012, trang 467).
Khi thảo luận về các tiêu chí của Di sản Thế giới, Taylor & Lennon (2011) phê
phán sự thống soái của các giá trị phương Tây với việc nhấn mạnh “di sản văn hóa
chủ yếu dựa trên các bức tượng lớn và địa điểm ấn tượng, và di sản thiên nhiên lệ
thuộc vào ý kiến khoa học tách biệt giữa thiên nhiên và thế giới hoang dã với con
người” (trang 546). Các tác giả cho rằng các nhà quản lý, nhà lập định chính sách
và nhà khoa học đã quá chậm trễ khi công nhận “giá trị trường tồn của truyền
thống trong việc bảo tồn đa dạng sinh vật”. Họ phê phán sự thiếu vắng tính nhạy
10
cảm đối với các địa điểm tôn nghiêm và đề nghị đưa văn hóa địa phương vào giáo
dục hiện đại (trang 549). Cần thấy thêm vấn đề nữa là việc giáo dục chính thống
nhìn nhận niềm tin, tín ngưỡng truyền thống và thực hành văn hóa bản địa là ‘mê
tín’ và ‘lạc hậu’ (Fui và cộng sự, 2012, trang 379). Để giải quyết vấn đề này, Fui
và cộng sự (2012) đề nghị các vùng đất thiêng của người bản địa phải được công
nhận để giúp tăng cường bảo vệ rừng và đời sống tinh thần phong phú của người
dân (trang 383). Đưa các chuyên gia là nông dân vào giảng dạy tri thức địa
phương là việc làm bổ ích bởi vì hoạt động thực tiễn của họ có lợi và thân thiện
với môi trường (tài liệu đã dẫn, trang 385). Taylor & Lennon (2011) đề xuất một
cách quản lý với việc tổ chức Di sản thế giới xác nhận các giá trị cảnh quan truyền
thống (trang 550). Trên thực tế, cơ chế quản lý và đồng quản lý cần được xây
dựng trên cơ sở tri thức thực nghiệm địa phương kết hợp với các đầu vào khoa
học (Kalland, 2000, trang 329-30).
Các quan điểm và chương trình phát triển là những yếu tố quan trọng ảnh hưởng
đến quyền bản địa. Gardner and Lewis (1996) thách thức quan điểm ‘phát triển’
và đề xuất những hướng tiếp cận mới thực tế, thí dụ như Tạo quyền, Nghiên cứu
Hệ thống Canh tác, Nông dân là trên hết, và Giới trong Phát triển. Các tác giả này
và quốc gia hiện đại phủ nhận sự tồn tại và coi sinh kế của người dân bản địa là
bất hợp pháp trong khi người dân đã từng sinh sống trên đất của mình hàng thế kỉ
(trang 18-23). Các tác giả này xem xét và cho rằng xu hướng bảo tồn là dựa vào
các nguồn tài trợ và đầu tư ngắn hạn cùng với trách nhiệm giải trình trước nhà tài
trợ (trang 30).) Bên cạnh đó, mô hình chính phủ kiểm soát đã bỏ qua các tác nhân
có tiềm năng tham gia và làm cho các cộng đồng phụ thuộc vào bao cấp từ bên
ngoài (Cronkleton và cộng sự, 2010, trang 44). Các cộng đồng bản địa không
được tham gia vào tiến trình quyết định và bị ngăn cản khi sử dụng tài nguyên
thiên nhiên của mình (Ross và cộng sự, 2011, trang 9). Các tổ chức bảo tồn thiên
nhiên “ngày càng lộ rõ chân tướng là những kẻ thực dân kiểu mới” bởi người dân
địa phương bị cưỡng bức di dời ra khỏi đất tổ tiên của mình (Barry và cộng sự,
2010, trang 31; Ross và cộng sự, 2011, trang 22). Bởi các tác nhân bên ngoài,
nhiều cộng đồng bản địa đang phải gánh chịu các vấn đề nóng bỏng khi phải thay
đổi từ cuộc sống tự cung tự cấp trên đất cha ông sang mất đất và phụ thuộc vào
người ngoài.
Trong việc bảo vệ quyền đất đai và sinh kế cho các cộng đồng thua thiệt, thì
chứng nhận quyền đất đai là một chủ đề đáng bàn. Tsing và cộng sự (2005) một
mặt nghi ngờ hiệu quả của việc chứng nhận đất cộng đồng nhưng lại không thấy
rõ sức mạnh nội tại của cộng đồng khi họ cho rằng “quá nhiều trường hợp việc
chứng nhận [quyền về đất] chỉ thúc đẩy hợp đồng với các công ty để phá hủy tài
12
nguyên” (trang 26). Nhưng mặt khác các tác giả trên cũng thấy các rủi ro mà các
cộng đồng yếu thế gánh chịu do các dữ liệu ‘đánh giá nhanh’ quan liêu và mưu đồ
sáp nhập người dân địa phương vào những kế hoạch sinh thái vùng (tài liệu đã dẫn,
trang 30). Vì thế cần đặt ra câu hỏi: làm thế nào cộng đồng có thể tự quyết trên đất
rừng của mình và tránh được rủi ro do người ngoài gây ra nếu họ không có được
chứng nhận quyền đất đai trong môi trường pháp luật hiện đại? Quyền hưởng
dụng về rừng chưa hề được khẳng định và hoạch định rõ ràng, và cũng không
được bảo đảm an toàn ở những nước đang phát triển (Sunderlin và cộng sự, 2013,
Để tìm giải pháp cho các vấn đề kiểm soát áp đặt, nhiều học giả đã tranh luận về
các hướng tiếp cận quản lý tài nguyên có phương pháp và theo thể chế. Một trong
những hướng đó là quản lý tài nguyên thiên nhiên có sự tham gia do Borrini-
Feyerabend & Tarnowski (2005) đề xuất. Theo các tác giả này, quản lý có sự
tham gia bao hàm quản lý dựa vào cộng đồng, cộng tác và hợp tác. Nhiều tác nhân
xã hội có thể tổ chức thảo luận với nhau để đi đến thống nhất và hành động chung
khi họ được tham gia thực chất vào việc quản lý (trang 72). Tuy nhiên có nhiều
trở ngại đối với quản lý có sự tham gia, như việc ‘phân tích chi phí-lợi ích của
những người vị lợi’ hoặc lí lẽ cho rằng quản lý có sự tham gia gây ra phí tổn giao
dịch lớn (trang 77). Bên cạnh đó những người ủng hộ quyền cộng đồng không
bằng lòng với việc nhân nhượng và việc công nhận quyền của cộng đồng đối với
di sản của tổ tiên (trang 77). Trong mối quan hệ quyền lực không cân xứng, các
nhóm ngoài lề đã sử dụng nhiều hình thức ‘vũ khí của người yếu’ một cách nhẹ
nhàng và kín đáo chứ không thể hiện nhu cầu và đàm phán rõ ràng với các tác
nhân có quyền lực (trang 79). Ở Việt Nam lại có hiện tượng ‘chính sự thường
ngày’ trong quan hệ về quyền đất đai, trong đó “có cách thể hiện mềm mại và
không ồn ào và các hành động gián tiếp và mang tính cá nhân, chuyển hóa hoặc
kháng cự những thủ tục, luật lệ hoặc mệnh lệnh ngự trị” (Kerkvliet, 2006, trang
291). Để tìm cách tránh những cách biệt và xung đột và tăng cường cộng tác,
Borrini-Feyerabend & Tarnowski (2005) ủng hộ những nỗ lực kiên trì nhằm cải
thiện quản lý có sự tham gia mặc cho thực tế hệ thống này còn rất lâu hoặc không
thể hoàn thiện (trang 83). Các tác giả đề nghị tăng cường các thể chế quản lý tài
nguyên đa dạng và thúc đẩy giao tiếp và đối thoại tích cực nhằm tăng cường quản
lý tài nguyên có sự tham gia (trang 84). Tương tự như vậy, Cronkleton và cộng sự
(2010) ủng hộ vai trò của cộng đồng trong đồng quản lý để giảm bớt căng thẳng
do việc kiểm soát áp đặt và thực thi pháp luật gây ra (trang 44). Tuy nhiên theo
Ross và cộng sự (2011), đa phần việc vận dụng đồng quản lý “vẫn bị nhận thức
luận và thể chế phương Tây thống trị” (trang 232), và nếu không hiểu và tôn trọng
thỏa đáng các giá trị bản địa, thì “cung cách đồng quản lý có thể gây rạn nứt, thậm
chí dẫn đến tội lỗi” (tài liệu đã dẫn, trang 231). Các tác giả này đề xuất ‘Mô hình
3.2. Sử dụng các dữ liệu phù hợp của SPERI
Trang tin điện tử của SPERI ( là một trong những nguồn tài
liệu xuất bản được trích dẫn trong nghiên cứu này. Bên cạnh đó, người viết Luận
văn có lợi thế là một cán bộ SPERI nên có thể tiếp cận và sử dụng kho dữ liệu của
SPERI, bao gồm nhiều bài viết, ghi chép, báo cáo nghiên cứu, tài liệu dự án, báo
cáo tiến độ, báo cáo đánh giá dự án, v.v Tài liệu phù hợp nhất là những nghiên
cứu điểm về sử dụng và quản lý đất cộng đồng của người Thái, đặc biệt là ở xã
Hạnh Dịch. Các nghiên cứu đó đề cập phương pháp luận và chiến lược tiếp cận
các cộng đồng ít người của SPERI và các tổ chức liên minh. Tầm nhìn và phương
pháp luận tiếp cận là nền tảng thực tiễn để SPERI xây dựng các khái niệm của
mình, như Sinh thái Nhân văn Sinh học, Chủ quyền Sinh kế và Bản sắc Sinh kế.
Các khái niệm trên của SPERI giúp tạo hướng tiếp cận để tác giả tự tin kết nối dữ
liệu từ thực tiễn vào việc phân tích các tác nhân tham gia vào quản lý đất rừng của
cộng đồng người Thái. Thêm thuận lợi nữa là tác giả Luận văn này đã có nhiều
16
dịp thảo luận với bà Trần Thị Lành, người sáng lập TEW và SPERI, đồng thời là
người tích cực xây dựng các khái niệm nêu trên song song với việc tư vấn tiến
trình vận động hành lang và nghiên cứu ở xã Hạnh Dịch và các vùng dự án khác.
Tác giả đã tiếp nhận được khá nhiều cách tiếp cận có phương pháp và tầm nhìn
của bà Trần Thị Lành và các tổ chức của bà khi làm việc với các nhóm dân tộc ít
người. Tác giả Luận văn này cũng được nghe các câu chuyện và dẫn chứng minh
họa cách thức các tổ chức làm việc với cộng đồng được nghiên cứu để khẳng định
và giữ gìn quyền về đất rừng của họ. Từ đó tác giả có thể hiểu sâu sắc hơn các
khái niệm vừa nêu cũng như các tiếp cận cộng đồng cụ thể.
Một nguồn thông tin bổ ích nữa chính là kinh nghiệm làm việc tại SPERI của tác
giả Luận văn này. Mảng công việc được SPERI phân công và cũng là chủ đề được
tác giả quan tâm là luật tục và quản lý tài nguyên thiên nhiên tại cộng đồng các
dân tộc ít người. Tác giả không chỉ làm việc với cộng đồng người Thái ở xã Hạnh
Dịch, mà còn với nhiều nhóm dân tộc khác như Mông, Xinh Mun, Khơ Mú, Lào
địa tại Việt Nam (từ giữa tháng Tư đến giữa tháng Bảy năm 2014), cụ thể là tại xã
Hạnh Dịch, huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An. Đợt nghiên cứu này tập trung nhiều
nhất vào việc lấy thêm thông tin và phân tích các cách nhìn và cách tiếp cận khác
nhau đối với cộng đồng người Thái ở xã Hạnh Dịch và phản hồi của cộng đồng
trước những can thiệp đó. Nghiên cứu này đồng thời cập nhật và củng cố thông tin
từ các nghiên cứu trước đây của SPERI về thế giới quan, tín ngưỡng truyền thống,
thể chế, luật tục, sự thông thái và thực hành quản lý và sử dụng đất rừng cộng
đồng. Từ đó các bằng chứng thực tiễn có thể được liên kết với các ấn phẩm hàn
lâm cùng với các dữ liệu (xuất bản và chưa xuất bản) của SPERI. Trên cơ sở sự
liên kết đó, tác giả có thể đưa ra giả thuyết và trả lời câu hỏi: liệu các ấn phẩm
xuất bản có tương thích với trường hợp này, và bài học rút ra từ nghiên cứu
trường hợp này có thể được vận dụng như thế nào và đến mức nào ở các cộng
đồng có điều kiện tương tự.
Một cuộc thảo luận với các cán bộ SPERI đã được tổ chức trước chuyến đi điền
dã để tác giả Luận văn trình bày dự định nghiên cứu và cùng xây dựng kế hoạch
nghiên cứu cụ thể lồng ghép vào chương trình tổng thể của SPERI. Những người
tham gia đã đóng góp ý kiến cho việc điều chỉnh phạm vi và mức độ nghiên cứu
và đặt các câu hỏi, như: loại hình rừng cộng đồng nào đáng được quan tâm nghiên
cứu và xác định rõ tại cộng đồng. Một số người đề nghị mở rộng phạm vi người
cấp tin ra các tác nhân khác nhau, nhất là những người ngoài cộng đồng nghiên
cứu. Cuộc thảo luận đã đi đến thống nhất rằng tác giả sẽ phối hợp với một cán bộ
khác của SPERI để tiến hành chuyến nghiên cứu thực địa. Nhóm nghiên cứu
SPERI đã tư vấn cố gắng tìm một số thanh niên ở địa phương tham gia để giúp