Luận văn thạc sỹ: Quản lý rủi ro tín dụng tại chi Nhánh Ngân hàng Công thương Thái nguyên - Pdf 26

MỤC LỤC
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG BIỂU CỦA LUẬN VĂN
TÓM TẮT LUẬN VĂN
PHỤ LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
1. CN: Công nghiệp
2. DNNN: Doanh nghiệp nhà nước
3. NHCT: Ngân hàng công thương
4. NHCT TN: Ngân hàng công thương Thái nguyên
5. NHNN: Ngân hàng nhà nước
6. NHTM: Ngân hàng thương mại
7. NQH: Nợ quá hạn
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU
Danh mục sơ đồ
Danh mục các biểu
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong nền kinh tế thị trường hoạt động của hệ thống ngân hàng luôn được
ví như hệ thần kinh của cả nền kinh tế. Hệ thống ngân hàng hoạt động lành
mạnh, hiệu quả là điều kiện giúp cho nền kinh tế tăng trưởng ổn định và phát
triển bền vững, ngược lại nếu hệ thống ngân hàng hoạt động không có hiệu quả
hoặc gặp rủi ro bị phá sản thì sẽ để lại hậu quả to lớn, không chỉ bao gồm rủi ro
nội tại ngành mà còn liên quan quan đến tất cả các ngành khác và sự náo loạn
trong toàn bộ xã hội. Vì vậy kinh doanh ngân hàng luôn được coi là hoạt động
kinh doanh đặc biệt. Do đặc điểm đặc biệt của đối tượng kinh doanh nên hoạt
động kinh doanh ngân hàng luôn chứa đựng những rủi ro cao hơn gấp nhiều lần
so với các doanh nghiệp trong các lĩnh vực kinh doanh khác.
Đối với hầu hết các ngân hàng, cung cấp tín dụng là chức năng kinh tế cơ
bản, dư nợ tín dụng thường chiếm tỷ trọng tới ½ tổng tài sản có, thu nhập từ

4. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thống kê
- Phương pháp phân tích
- Phương pháp tổng hợp
2
CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUẢN LÝ RỦI RO TÍN DỤNG
1.1. Hoạt động tín dụng của NHTM
1.1.1. Khái niệm NHTM và các hoạt động chủ yếu của NHTM
Đối với tất cả mọi người hoạt động ngân hàng ngày càng trở nên gần gũi
và quan trọng. Với sự hiện hữu của hoạt động ngân hàng mỗi chúng ta có thể
được nhận những khoản vay để trang trải các hoạt động kinh doanh hay tiêu
dùng hoặc nếu có tiền chúng ta có thể gửi vào ngân hàng vừa thu được lãi lại
an toàn. Để hiểu được thế nào là ngân hàng và hoạt động ngân hàng chúng ta
cùng đi xem xét các quan niệm về ngân hàng.
Có rất nhiều các quan niệm khác nhau về ngân hàng. Theo pháp luật
nước Mỹ, bất kỳ một tổ chức nào cung cấp khoản tiền gửi cho phép khách
hàng rút tiền theo yêu cầu và cho vay đối với các tổ chức kinh doanh hay cho
vay thương mại sẽ được xem là một ngân hàng. Nếu xét theo những loại hình
dịch vụ mà một ngân hàng cung cấp có thể hiểu ngân hàng là một loại hình tổ
chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất- đặc
biệt là tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ thanh toán và thực hiện nhiều chức năng
tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế.
Theo Luật các tổ chức tín dụng của nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt nam:
"Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện hoạt động ngân
hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan" và "Hoạt động ngân
hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nghiệp vụ
thường xuyên là nhận tiền gửi, sử dụng số tiền này để cấp tín dụng và cung
ứng các dịch vụ thanh toán"
Như vậy chúng ta có thể hiểu ngân hàng thương mại là một doanh nghiệp

hàng như hợp đồng bảo lãnh, hợp đồng uỷ thác quản lý, hợp đồng tài chính…
Những tài sản này không được sử dụng để tính toán nhiều chỉ tiêu tài chính
quan trọng liên quan đến tổng tài sản nhưng cũng phản ánh dung lượng công
tác của ngân hàng, tạo nên thu nhập và rủi ro cho ngân hàng.
- Các hoạt động khác: kinh doanh ngoại tệ, chứng khoán, thanh toán…
1.1.2. Hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại
1.1.2.1. Các hình thức tín dụng
Tín dụng là một phạm trù kinh tế phản ánh quan hệ sử dụng vốn lẫn nhau
giữa các chủ thể trong xã hội dựa trên nguyên tắc hoàn trả, có thời hạn và có
lợi tức. Tín dụng ngân hàng là quan hệ tín dụng giữa ngân hàng với các chủ
thể kinh tế khác trong xã hội. Trong đó ngân hàng giữ vai trò là người đi vay
vừa là người cho vay. Theo luật các tổ chức tín dụng: Cấp tín dụng là việc tổ
chức tín dụng thoả thuận để khách hàng sử dụng một khoản tiền với nguyên
tắc có hoàn trả bằng các nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính,
bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ khác.
Tín dụng là loại tài sản chiếm tỷ trọng lớn nhất ở phần lớn các ngân hàng
thương mại, loại tài sản này được phân chia theo nhiều tiêu thức khác nhau:
* Căn cứ vào thời hạn
Nếu căn cứ vào thời hạn tín dụng có thể chia tín dụng thành tín dụng
ngắn hạn, trung hạn và dài hạn.
- Tín dụng ngắn hạn: là các khoản tín dụng có thời hạn dưới 12 tháng.
- Tín dụng trung hạn: là các khoản tín dụng có thời hạn từ 12 tháng đến
dưới 60 tháng.
- Tín dụng dài hạn: là các khoản tín dụng có thời hạn trên 60 tháng.
Việc phân chia tín dụng theo thời gian có ý nghĩa quan trọng đối với
ngân hàng nó phản ánh tính an toàn và sinh lợi của ngân hàng. Nếu một ngân
5
hàng tín dụng ngắn hạn chiếm tỷ trọng lớn hơn tín dụng trung và dài hạn thì
ngân hàng có xu thế tài trợ cho tài sản lưu động của khách hàng hơn tài sản cố
định và ngược lại.

động sản. Bao gồm tín dụng ngắn hạn do xây dựng và mở rộng đất đai, tín
dụng dài hạn để mua đất đai, nhà cửa, căn hộ, cơ sở dịch vụ trang trại và bất
động sản ở nước ngoài.
- Tín dụng công thương nghiệp: Là các khoản tín dụng cấp cho các
doanh nghiệp để trang trải các chi phí như mua hàng hoá nguyên vật liệu, trả
thuế và chi trả lương.
- Tín dụng nông nghiệp: là các khoản tín dụng cấp cho các hoạt động
nông nghiệp nhằm tài trợ cho các hoạt động trồng trọt, thu hoạch mùa màng
và chăn nuôi gia súc.
- Tín dụng cá nhân: là các khoản tín dụng cấp cho cá nhân để mua sắm
hàng hoá tiêu dùng đắt tiền như xe hơi, nhà cửa
- Tín dụng cho các tổ chức tài chính: là các khoản tín dụng cấp cho các
ngân hàng, công ty bảo hiểm, công ty tài chính và các tổ chức tài chính khác.
- Cho thuê tài chính : là việc ngân hàng mua các trang thiết bị máy móc
và cho thuê lại chúng.
- Tín dụng khác: gồm các khoản tín dụng khác chưa được phân loại ở trên.
1.1.2.2. Chính sách tín dụng
Chính sách tín dụng là nền tảng là kim chỉ nam cho mọi hoạt động tín
dụng của mỗi một ngân hàng. Chính sách tín dụng phản ánh cương lĩnh tài trợ
của một ngân hàng, trở thành hướng dẫn chung cho cán bộ tín dụng và các
nhân viên ngân hàng, tăng cường chuyên môn hoá trong phân tích tín dụng,
tạo sự thống nhất chung trong hoạt động tín dụng nhằm hạn chế rủi ro và nâng
cao khả năng sinh lời.
7
Đối với các ngân hàng, chính sách tín dụng phải được xây dựng theo
hướng mở tạo điều kiện cho việc áp dụng một cách sáng tạo để có thể thích
nghi với môi trường kinh doanh đồng thời đảm bảo tuân thủ luật pháp. Chính
sách tín dụng là chính sách phục vụ nhu cầu tín dụng của khách hàng vì vậy
nhu cầu của khách hàng với các đặc tính khác nhau sẽ quyết định các nội
dung và sự thành công của chính sách tín dụng. Khả năng sinh lời và rủi ro

hàng và chu kỳ kinh doanh của người vay. Ngân hàng cần xác định rõ thời
hạn cung ứng tín dụng dựa trên việc cân đối giữa thời hạn của nguồn vốn và
thời hạn do đặc điểm luân chuyển vốn và qui mô thu nhập của người vay.
Một trong những nội dung quan trọng liên quan đến mức độ an toàn
trong mỗi khoản vay đó chính là các khoản đảm bảo. Đối với các khách hàng
có truyền thống, có uy tín ngân hàng cho vay không cần ký hợp đồng đảm
bảo. Nhưng những trường hợp độ an toàn của người vay không chắc chắn
ngân hàng cần phải ký hợp đồng đảm bảo. Trong chính sách tín dụng cần phải
quy định rõ danh mục các tài sản được đảm bảo, mức độ cho vay trên từng
loại tài sản đảm bảo.
Ngoài ra, trong chính sách tín dụng cũng cần phải quy định các điều kiện
giải ngân, điều kiện thanh toán nhằm đảm bảo cho khoản vay sử dụng vốn
vay đúng mục đích, phù hợp với tiến độ sử dụng vốn vay và nguồn thu nhập
của khách hàng. Ngân hàng cũng cần đưa ra các quy định đối với các tài sản
có vấn đề bao gồm những nội dung như: mức rủi ro có thể chịu được, các yếu
tố cấu thành nợ có vấn đề, mức độ “xấu” của khoản nợ, trách nhiệm giải
quyết, phạm vi thanh lý và khai thác.
9
1.1.2.3. Nội dung hoạt động tín dụng của NHTM
Để đảm bảo cho hoạt động của ngân hàng được duy trì và phát triển
vững chắc đòi hỏi hoạt động cho vay của NHTM phải an toàn, hiệu quả.
Muốn vậy việc cấp tín dụng phải được thực hiện theo những nội dung sau:
* Nguyên tắc khi cấp tín dụng
Thứ nhất: Sử dụng vốn vay đúng mục đích đã thoả thuận trong hợp đồng
tín dụng. Đây là nguyên tắc cơ bản, vì có sử dụng vốn đúng mục đích thì
khách hàng mới có thể thực hiện được dự án, phương án sản xuất kinh doanh
theo lợi ích dự kiến và do vậy mới có thể thu hồi được vốn để hoàn trả nợ cho
ngân hàng. Nguyên tắc này nhằm hạn chế rủi ro đạo đức và hạn chế khả năng
khách hàng dùng vốn vay để thực hiện hành vi mà pháp luật cấm.
Thứ hai: Phải hoàn trả gốc và lãi đúng thời hạn. Nguyên tắc này đảm bảo

Khách Hàng
CB tín dụng
HS xin vay
Thẩm đinh hồ sơ
Giải ngân
Ký HĐ tín dụng
TH QĐ cho vay
Quyết đinh cho vay
Tổ chức giám sát
khách hàng cho vay
Thu nợ
Thu đủ
Xử lý rủi ro
Thu không đủ
(1) (2)
(3)
(4)
(5)
(6)
(8)
(9)
(10)
(11b)
(11a)
(7)
Thu thập thông tin
- Thị trường
- Chính sách
- Pháp lý
- Khách hàng

đối mặt với rất nhiều rủi ro như rủi ro tín dụng, rủi ro thanh toán, rủi ro lãi
suất, rủi ro hối đoái, rủi ro khác…Một trong các loại rủi ro cơ bản đó chính là
rủi ro tín dụng.
Rủi ro tín dụng là xác suất hay khả năng khi một hoặc các bên tham gia
hợp đồng tín dụng không thực hiện đúng các nghĩa vụ theo các điều khoản
đã thoả thuận trong hợp đồng tín dụng. Khi ngân hàng cấp tín dụng cho
khách hàng, ngân hàng sẽ nhận được các giấy nhận nợ do con nợ phát hành
với sự cam kết sẽ thanh toán cả gốc và lãi đầy đủ, đúng hạn. Nếu tất cả các
khoản cho vay của ngân hàng đều được thanh toán cả gốc và lãi đúng hạn thì
sẽ không xẩy ra rủi ro tín dụng. Ngược lại, nếu người vay bị phá sản không có
khả năng trả nợ gốc và lãi hoặc cố ý không trả nợ cho ngân hàng thì xảy ra rủi
ro tín dụng.
Để đánh giá mức độ rủi ro tín dụng các nhà quản lý ngân hàng thường
đưa ra các chỉ tiêu phản ánh rủi ro tín dụng. Có rất nhiều các chỉ tiêu phản ánh
rủi ro tín dụng song các chỉ tiêu được các ngân hàng thương mại thường sử
dụng như:
(1) Nợ quá hạn và tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ
Nợ quá hạn là các khoản nợ mà khách hàng không trả được khi đã đến
hạn thỏa thuận ghi trên hợp đồng tín dụng. Khi một món nợ không trả được
vào kỳ hạn nợ, toàn bộ nợ gốc còn lại của hợp đồng sẽ được chuyển thành nợ
quá hạn. Chỉ tiêu này càng cao thì mức độ rủi ro tín dụng của ngân hàng
thương mại càng lớn.
Tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ phản ánh tỷ trọng nợ quá hạn trên
tổng số vốn mà ngân hàng đã cho vay trong kỳ. Tỷ lệ này được xác định
bằng công thức:
Tỷ lệ nợ quá hạn
trên tổng dư nợ
=
Tổng nợ quá hạn
x 100%

14
phát mại tài sản.
(3) Các chỉ tiêu khác
- Điểm của khách hàng: Thông qua phân tích tình hình tài chính, năng
lực sản xuất kinh doanh, hiệu quả của dự án, mối quan hệ và tính sòng phẳng
… ngân hàng lập hồ sơ về khách hàng, xếp loại và cho điểm. Khách hàng loại
A hoặc điểm cao thì rủi ro tín dụng thấp, khách hàng loại C hoặc điểm thấp
thì rủi ro tín dụng cao.
- Các khoản cho vay có vấn đề: Mặc dù chưa đến hạn và chưa được coi
là nợ quá hạn nhưng nhân viên ngân hàng nhận thấy khoản vay đang có dấu
hiệu kém lành mạnh, có nguy cơ trở thành nợ quá hạn. Ngân hàng sẽ xây
dựng thành các khoản vay có vấn đề.
- Tính kém đa dạng của tín dụng: Đa dạng hoá là biện pháp hạn chế rủi
ro. Những thay đổi trong chu kì của người vay là khó tránh khỏi. Nếu ngân
hàng tập trung tài trợ cho một nhóm khách hàng của một ngành, hoặc một
vùng hẹp thì rủi ro cao hơn so với đa dạng hoá.
1.2.1.2 Những ảnh hưởng của rủi ro tín dụng
Trong hoạt động ngân hàng, hoạt động cho vay là hoạt động mang lại
nguồn thu chủ yếu cho ngân hàng đồng thời đây cũng là hoạt động tiềm ẩn
nhiều rủi ro nhất. Khi xảy ra rủi ro tín dụng sẽ không chỉ ảnh hưởng đến bản
thân ngân hàng đó mà còn có nguy cơ ảnh hưởng lây truyền tới toàn bộ hệ
thống và cả nền kinh tế. Những hậu quả để lại của rủi ro tín dụng là vô cùng
nặng nề về mọi mặt.
Trước hết, rủi ro tín dụng sẽ gây nên những hậu quả nghiêm trọng đối
với hoạt động của ngân hàng. Khi khách hàng không trả được nợ cho ngân
hàng nguy cơ ngân hàng không những không thu được nợ mà còn có khả
năng bị mất vốn, làm cho ngân hàng thua lỗ, nghiêm trọng hơn có thể bị phá
15
sản…gây nên những thiệt hại về mặt tài chính đối với ngân hàng. Hơn nữa
hoạt động kinh doanh ngân hàng là hoạt động có tính nhạy cảm cao nên khi

người vay gặp rủi ro bất ngờ, bị chết hoặc mất tích dẫn đến không thanh toán
nợ được cho ngân hàng.
Ngoài những yếu tố trên phần lớn rủi ro tín dụng là kết quả của những
hoạt cố ý của người vay như:
Đối với khách hàng vay là doanh nghiệp. Chủ yếu các khoản cho vay của
ngân hàng đối với khách hàng doanh nghiệp là để cung ứng vốn cho quá trình
sản xuất kinh doanh, khách hàng dùng chính thu nhập thu được từ việc sản
xuất kinh doanh để trả nợ cho ngân hàng. Vì vậy, nếu khách hàng kinh doanh
không có hiệu quả thì sẽ không trả được nợ cho ngân hàng. Có rất nhiều
nguyên nhân dẫn đến việc sản xuất kinh doanh không có hiệu quả như:
Thứ nhất, do trình độ quản lý yếu kém dẫn đến không dự đoán được các
vấn đề trong kinh doanh, thiếu thông tin về tài chính, sản phẩm làm ra không
phù hợp với thị hiếu, không có khả năng thích ứng với những thay đổi của thị
trường… dẫn đến hàng hoá không tiêu thụ được, thua lỗ trong kinh doanh,
mất khả năng thanh toán các khoản nợ.
Thứ hai, do sự yếu kém của nhân viên của doanh nghiệp. Đội ngũ nhân
viên trong doanh nghiệp có những bất cập về trình độ chuyên môn, kỷ luật lao
động không cao, đạo đức nghề nghiệp không đảm bảo… dẫn đến kế hoạch
sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp thực hiện không thành công, kém hiệu
quả.
Thứ ba, do đạo đức nghề nghiệp của khách hàng. Vì không đủ điều kiện
17
vay vốn nên một số doanh nghiệp vẫn cố tình thực hiện các thủ đoạn để lừa
ngân hàng, cố tình cung cấp thông tin sai sự thật, cố tình trì hoãn việc trả tiền
vay cho ngân hàng…
Đối với khách hàng là cá nhân. Các khách hàng cá nhân vay vốn ngân
hàng chủ yếu để phát triển kinh tế hộ gia đình hoặc vay tiêu dùng. Mặc dù
việc cho vay đối với một cá nhân thường không lớn, nhưng các khách hàng là
cá nhân lại nhiều và phân tán nên việc quản lý khoản vay trở nên hết sức khó

hiển nhiên ở bất cứ ngân hàng nào, kể cả các ngân hàng hàng đầu trên thế giới
bởi có những rủi ro nằm ngoài tầm kiểm soát của con người. Vì vậy, các ngân
hàng cần xây dựng một mô hình quản trị rủi ro hiệu quả, phù hợp với môi trường
hoạt động để hạn chế được những rủi ro tín dụng mang tính chủ quan, xuất phát
từ yếu tố con người và những rủi ro tín dụng khác có thể kiểm soát được.
1.2.2. Quản lý rủi ro tín dụng của Ngân hàng thương mại
1.2.2.1. Khái niệm quản lý rủi ro tín dụng
Quản lý rủi ro tín dụng là toàn bộ quá trình xây dựng chính sách, tổ chức
bộ máy, quy trình kiểm tra giám sát liên tục bắt đầu từ khâu thẩm định khách
hàng đến khâu quyết định cho vay, giải ngân theo dõi và xử lý các khoản nợ
có vấn đề nhằm giảm tới mức thấp nhất những rủi ro có thể xảy ra đối với
hoạt động tín dụng nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động tín dụng.
1.2.2.2. Nguyên tắc quản lý rủi ro tín dụng
Trong quá trình thực hiện quản lý rủi ro tín dụng các ngân hàng dựa trên
những nguyên tắc cơ bản của Ủy ban Basel.
Uỷ ban Basel một ủy ban bao gồm các chuyên gia giám sát hoạt động
19
ngân hàng được thành lập vào năm 1975 bởi các thống đốc Ngân hàng Trung
ương của nhóm G10 (Bỉ, Canada, Pháp, Đức, Ý, Nhật Bản, Hà Lan, Thụy
Điển, Vương quốc Anh và Mỹ). Ủy ban tổ chức họp thường niên tại trụ sở
Ngân hàng Thanh toán Quốc tế (BIS) tại Washington (Mỹ) hoặc tại Thành
phố Basel (Thụy Sĩ).
Quan điểm của Ủy ban Basel là: sự yếu kém trong hệ thống ngân hàng
của một quốc gia, dù quốc gia phát triển hay đang phát triển, sẽ đe dọa đến sự
ổn định về tài chính trong cả nội bộ quốc gia đó. Uỷ ban Basel đã nghiên cứu
và đưa ra các nguyên tắc trong quản lý rủi ro tín dụng và được nhiều ngân
hàng ở các nước áp dụng. Trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế đặc biệt là
trong lĩnh vực ngân hàng việc áp dụng các nguyên tắc của Ủy ban Basel về
quản lý rủi ro tín dụng là một xu thế tất yếu. Uỷ ban Basel đã ban hành 17
nguyên tắc về quản lý nợ xấu mà thực chất là đưa ra các nguyên tắc trong

(10 nguyên tắc): Các ngân hàng cần có hệ thống quản lý một cách cập nhật
đối với các danh mục đầu tư có rủi ro tín dụng, bao gồm cập nhật hồ sơ tín
dụng, thu thập thông tin tài chính hiện hành, dự thảo các văn bản như hợp
đồng vay… theo quy mô và mức độ phức tạp của ngân hàng. Đồng thời, hệ
thống này phải có khả năng nắm bắt và kiểm soát tình hình tài chính, sự tuân
thủ các giao kèo của khách hàng … để phát hiện kịp thời những khoản vay có
vấn đề. Ngân hàng cần có hệ thống khắc phục sớm đối với các khoản tín dụng
xấu, quản lý các khoản tín dụng có vấn đề. Các chính sách rủi ro tín dụng của
ngân hàng cần chỉ rõ cách thức quản lý các khoản tín dụng có vấn đề. Trách
nhiệm đối với các khoản tín dụng này có thể được giao cho bộ phận tiếp thị
hay bộ phận xử lý nợ hoặc kết hợp cả hai bộ phận này, tùy theo quy mô và
bản chất của mỗi khoản tín dụng. Ủy ban Basel cũng khuyến khích các ngân
21
hàng phát triển và xây dựng hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ trong quản lý
rủi ro tín dụng, giúp phân biệt các mức độ rủi ro tín dụng trong các tài sản có
tiềm năng rủi ro của ngân hàng.
Như vậy, trong xây dựng mô hình quản lý rủi ro tín dụng, nguyên tắc
Basel có một số điểm cơ bản:
- Phân tách bộ máy cấp tín dụng theo các bộ phận tiếp thị, bộ phận phân
tích tín dụng và bộ phận phê duyệt tín dụng cũng như trách nhiệm rạch ròi của
các bộ phận tham gia.
- Nâng cao năng lực của cán bộ quản lý rủi ro tín dụng.
- Xây dựng một hệ thống quản lý và cập nhật thông tin hiệu quả để duy
trì một quá trình đo lường, theo dõi tín dụng thích hợp, đáp ứng yêu cầu thẩm
định và quản lý rủi ro tín dụng.
Trên cơ sở các nguyên tắc trên các ngân hàng sẽ xây dựng cho mình một
chính sách quản lý rủi ro tín dụng riêng biệt phù hợp để phòng chống rủi ro
tín dụng và đưa ra các giải pháp điều tiết thích hợp khi có rủi ro xảy ra.
1.2.2.3. Nội dung của quản lý rủi ro tín dụng
(1) Xây dựng cơ cấu tổ chức quản lý rủi ro tín dụng

thời hạn của từng nguồn vốn.
Trên cơ sở khả năng trả nợ của khách hàng các ngân hàng tiến hành phân
loại nợ thành những nhóm và dựa vào mức độ rủi ro của từng nhóm để trích
lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng
của tổ chức tín dụng.
Về phân loại nợ, tổ chức tín dụng thực hiện phận loại nợ theo 05 nhóm sau:
23

Trích đoạn Công tác quản lý rủi ro tín dụng Kết qủa công tác quản lý rủi ro tín dụng tại chi nhánh Phương hướng phát triển hoạt động tín dụng của chi nhánh ngân hàng công thương tỉnh Thái nguyên trong thời gian tớ Hoàn thiện quy trình tín dụng cho phù hợp Quá trình giải ngân, kiểm tra trước và sau khi cho vay phải được quản lý, giám sát và kiểm soát chặt chẽ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status