MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
STT Từ viết tắt Nội dung
1 ADSL Asymmetric Digital Subscriber Line
(Internet băng thông rộng)
2 CIO Chief Information Officers (Cán bộ lãnh
đạo thông tin)
3 CNH, HĐH Công nghiệp hoá, hiện đại hoá
4 CNTT Công nghệ thông tin
5 CNTT-TT Công nghệ thông tin – truyền thông
6 CSDL Cơ sở dữ liệu
7 G2B Government to Business (Dịch vụ công -
Chính phủ với doanh nghiệp)
8 G2C Government to Citizens (Dịch vụ công -
Chính phủ với công dân)
9 G2G Government to Government (Dịch vụ
công - Chính phủ với chính phủ)
10 GD-ĐT Giáo dục – đào tạo
11 GDTX Giáo dục thường xuyên
12 HĐND Hội đồng nhân dân
13 HTKT Hạ tầng kỹ thuật
14 HTNL Hạ tầng nhân lực
15 HTTT Hệ thống thông tin
STT Từ viết tắt Nội dung
16 ICT - Index Chỉ số sẵn sằng cho ứng dụng và phát
triển công nghệ thông tin
17 KT-XH Kinh tế - xã hội
18 THCS Trung học cơ sở
19 THPT Trung học phổ thông
20 TT-TT Thông tin - truyền thông
21 LAN Local area network (Mạng nội bộ)
khi có cơ quan chuyên trách về CNTT ở địa phương (Sở Thông tin và Truyền
thông) - năm 2006 đến nay.
Phương pháp nghiên cứu: Luận văn sử dụng phương pháp duy vật biện
chứng và duy vật lịch sử, phương pháp thống kê, tổng hợp, phân tích, so sánh;
nghiên cứu, phân tích các tài liệu trong nước và quốc tế về các nội dung có
liên quan; kế thừa các tài liệu, thông tin, số liệu và kết quả nghiên cứu của các
công trình có liên quan.
Nhiệm vụ khoa học của của luận văn là: Góp phần hệ thống hóa những
vấn đề lý luận cơ bản và thực tiễn về quản lý nhà nước đối với lĩnh vực CNTT;
đánh giá thực trạng công tác quản lý nhà nước về CNTT trên địa bàn tỉnh
Nam Định; đề xuất các giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước đối với lĩnh
vực CNTT nhằm thúc đẩy phát triển và ứng dụng CNTT phục vụ phát triển
kinh tế - xã hội của tỉnh Nam Định.
Những đóng góp của luận văn:
Thứ nhất, hệ thống hóa có bổ sung những vấn đề lý luận cơ bản và
kinh nghiệm thực tiễn về quản lý nhà nước đối với lĩnh vực CNTT.
Về cơ sở lý luận: Nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản về CNTT,
tầm quan trọng của QLNN đối với lĩnh vực CNTT; đặc điểm, nội dung và các
nhân tố ảnh hưởng đến QLNN đối với lĩnh vực CNTT.
Công nghệ thông tin là tập hợp các phương pháp khoa học, công nghệ
và công cụ kỹ thuật hiện đại để sản xuất, truyền đưa, thu thập, xử lý, lưu trữ
và trao đổi thông tin số.
Công nghệ thông tin có bốn đặc điểm đó là: Là công nghệ mũi nhọn;
công nghệ phổ biến trong mọi lĩnh vực; một công nghệ có nhiều tầng lớp và là
lĩnh vực phát triển và đào thải nhanh.
Công nghệ thông tin đã và đang có tác động đến mọi mặt của đời sống
kinh tế, xã hội.
Tầm quan trọng của quản lý nhà nước đối với lĩnh vực công nghệ thông
tin, luận văn đã chỉ ra và phân tích trên 3 nội dung: Đảm bảo tổ chức quản lý
và sử dụng có hiệu quả tài nguyên thông tin, cơ sở dữ liệu quốc gia; Đảm bảo
Thứ hai, phân tích thực trạng công tác quản lý nhà nước về CNTT
trên địa bàn tỉnh Nam Định từ năm 2006 đến nay.
Luận văn đã phân tích thực trạng về tình hình phát triển và ứng dụng
CNTT trên địa bàn tỉnh Nam Định những năm qua tại các cơ quan Đảng, cơ
quan hành chính nhà nước, các doanh nghiệp, các ngành, lĩnh vực kinh tế, văn
hóa xã hội… Có thể nhận thấy, CNTT trên địa bàn tỉnh Nam Định trong
những năm qua đã được quan tâm và có những bước phát triển tương đối khá
cả về đầu tư cơ sở hạ tầng kỹ thuật, đào tạo đội ngũ cán bộ cũng như ứng
dụng vào hoạt động quản lý, điều hành, tác nghiệp ở tất cả các cấp, các ngành,
các lĩnh vực.
Phân tích, đánh giá về thực trạng công tác QLNN đối với lĩnh vực
CNTT trên địa bàn tỉnh Nam Định trên năm nội dung quản lý cho thấy: Công
tác quản lý đã được tăng cường và thu được nhiều kết quả.
Tuy nhiên, vẫn còn những tồn tại, hạn chế: Chưa có chiến lược, kế
hoạch tổng thể về ứng dụng và phát triển CNTT. Các chương trình, kế hoạch,
dự án quan trọng còn thiếu tính liên kết với nhau. Hạ tầng CNTT vẫn chưa
đáp ứng được nhu cầu ứng dụng và phát triển CNTT của tỉnh, thiếu tính đồng
bộ. Việc ứng dụng CNTT trong công tác quản lý và tác nghiệp mới chỉ là
bước khởi đầu, hiệu quả chưa cao. Nguồn nhân lực CNTT hiện nay còn
mỏng, chất lượng không cao.
Nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế:
- Môi trường pháp lý quản lý công nghệ thông tin chưa hoàn thiện.
- Chính sách đầu tư tài chính của nhà nước còn hạn hẹp.
- Tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về công nghệ thông tin chưa mạnh.
- Số lượng và chất lượng nguồn nhân lực công nghệ thông tin chưa đáp
ứng yêu cầu.
- Nhận thức xã hội về vai trò công nghệ thông tin còn thấp.
Thứ ba, đề xuất định hướng và các giải pháp hoàn thiện quản lý
nhà nước đối với lĩnh vực CNTT nhằm thúc đẩy phát triển ứng dụng
CNTT phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Nam Định trong thời
phát triển kinh tế - xã hội.
- Hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, cơ chế chính sách
liên quan đến phát triển ứng dụng công nghệ thông tin.
- Tăng cường củng cố và hoàn thiện bộ máy quản lý nhà nước về công
nghệ thông tin từ tỉnh tới cơ sở.
- Tăng cường đào tạo đội ngũ cán bộ công nghệ thông tin nói chung,
đội ngũ cán bộ quản lý nhà nước về CNTT nói riêng.
Kết luận.
Công nghệ thông tin vừa là một ngành mũi nhọn vừa là một ngành
động lực đối với sự phát triển. CNTT đã và đang làm biến đổi sâu sắc đời
sống kinh tế, văn hoá, xã hội của thế giới hiện đại. Để CNTT thực sự trở
thành động lực đối với sự phát triển KT-XH, quản lý nhà nước đối với lĩnh
vực CNTT có ý nghĩa rất quan trọng.
Tuy nhiên, trên địa bàn cả nước cũng như từng địa phương, công tác
QLNN đối với lĩnh vực CNTT còn nhiều bất cập, làm cho vai trò của CNTT
đối với sự phát triển KT-XH chưa được phát huy đúng múc.
Luận văn Quản lý nhà nước đối với lĩnh vực công nghệ thông tin
trên địa bàn tỉnh Nam Định đã góp phần giải quyết một số vấn đề bức xúc
đó. Trên cơ sở tổng hợp những nghiên cứu về lý luận và kinh nghiệm thực
tiễn một số tỉnh nước ta về quản lý nhà nước đối với lĩnh vực CNTT, luận văn
đã tập trung nghiên cứu làm rõ thực trạng công tác quản lý nhà nước đối với
lĩnh vực CNTT trên địa bàn tỉnh Nam Định, chỉ ra được những thành tựu, hạn
chế và nguyên nhân hạn chế về quản lý nhà nước đối với lĩnh vực CNTT hiện
nay. Từ đó luận văn đã đề xuất phương hướng, giải pháp chủ yếu hoàn thiện
quản lý nhà nước đối với lĩnh vực CNTT trên địa bàn tỉnh Nam Định, nhằm
đẩy mạnh ứng dụng CNTT, góp phần thúc đẩy sự nghiệp phát triển kinh tế -
xã hội của tỉnh cho giai đoạn 2011-2015, tầm nhìn 2020.
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Cuộc cách mạng về công nghệ thông tin (CNTT) đang diễn ra trên quy
quản lý nhà nước đối với lĩnh vực CNTT đang là vấn đề cần quan tâm, đòi hỏi
phải có những công trình nghiên cứu về lĩnh vực này, cả dưới góc độ lý luận
lẫn góc độ thực tiễn. Chính vì vậy, đề tài: “Quản lý nhà nước đối với lĩnh
vực công nghệ thông tin trên địa bàn tỉnh Nam Định” đã được tác giả chọn
làm luận văn thạc sỹ.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
- Có nhiều tác phẩm viết về vai trò của CNTT trong đời sống, công tác
quản lý nhà nước về CNTT như: Công nghệ thông tin - Tổng quan và một số
vấn đề cơ bản, của Ban chỉ đạo Chương trình Quốc gia về CNTT; Ứng dụng
và phát triển CNTT phục vụ sự nghiệp CNH, HĐH của Ban Tư tưởng văn hóa
Trung ương và Ban Khoa giáo Trung ương…
- Có nhiều đề án, quyết định của Trung ương liên quan đến quản lý nhà
nước về CNTT và phát triển CNTT: Đề án 47, Đền án 06 về tin học hóa hoạt
động của các cơ quan Đảng; Đề án 112 về ứng dụng CNTT trong hoạt động
của các cơ quan nhà nước; Quyết định số 246/2005/QĐ-TTg ngày 06/10/2005
của Thủ tướng Chính phủ, phê duyệt Chiến lược phát triển công nghệ thông
tin và truyền thông Việt Nam đến năm 2010 và định hướng đến 2020…
Tuy nhiên, vấn đề quản lý nhà nước đối với lĩnh vực công nghệ thông
tin vẫn còn là rất mới đối với nước ta nói chung, đối với tỉnh Nam Định nói
riêng, kể cả về mặt lý thuyết đến thực tiễn.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hoạt động quản lý nhà nước đối với
lĩnh vực CNTT trên địa bàn tỉnh Nam Định.
3.2. Phạm vi
Hoạt động quản lý nhà nước đối với lĩnh vực CNTT trên địa bàn tỉnh
Nam Định từ khi có cơ quan chuyên trách về CNTT ở địa phương - Sở Bưu
chính - Viễn thông (nay là Sở Thông tin và Truyền thông) năm 2006 đến nay.
4. Mục đích, nhiệm vụ của luận văn
4.1. Mục đích
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được
kết cấu làm 3 chương:
Chương I: Cơ sở lý luận và kinh nghiệm thực tiễn về quản lý nhà nước
đối với lĩnh vực công nghệ thông tin.
Chương II: Thực trạng quản lý nhà nước đối với lĩnh vực công nghệ thông
tin trên địa bàn tỉnh Nam Định.
Chương III: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước đối
với lĩnh vực công nghệ thông tin trên địa bàn tỉnh Nam Định.
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ
NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI LĨNH VỰC CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
1.1. CÔNG NGHỆ THÔNG TIN, TẦM QUAN TRỌNG CỦA QUẢN
LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI LĨNH VỰC CÔNG NGHỆ THÔNG TIN.
1.1.1. Công nghệ thông tin, đặc điểm và tác động của công nghệ
thông tin đến phát triển kinh tế, xã hội.
1.1.1.1. Khái niệm về công nghệ thông tin
Công nghệ thông tin ngày nay đã và đang tạo đà cho những thay đổi cơ
bản trong công tác quản lý và hoạt động sản xuất kinh doanh ở tất cả các
ngành, lĩnh vực trên phạm vi toàn cầu.
Có rất nhiều quan niệm khác nhau về CNTT, chúng ta sẽ tìm hiểu một
số khái niệm về CNTT có tính phổ biến.
Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia (địa chỉ trên mạng Internet:
/>%C3%B4ng_tin) thì CNTT là công nghệ ứng dụng cho việc xử lý thông tin.
Theo GS. Liest Eathington và GS. Dave Swanson, Khoa Kinh tế học,
Đại học Iowa, Hoa Kỳ, thì CNTT là một chuỗi sản phẩm và dịch vụ mà thông
qua đó, việc biến đổi số liệu thành thông tin có thể tiếp cận được và trở nên có
ích. Sản phẩm và dịch vụ CNTT này bảo đảm cho doanh nghiệp, các tổ chức
và cá nhân có thể kiểm soát được các giao dịch kinh doanh hiệu quả hơn và
nhanh hơn.
Muốn xây dựng CNTT thành một công nghệ mũi nhọn, cần phải tiếp
cận và theo kịp những tri thức của thế giới về CNTT, từ đó có những bước
phát triển vượt bậc và những ưu thế rõ rệt trong lĩnh vực đó so với các nước
trong khu vực và trên thế giới. Ngành CNTT ở tất cả các nước hiện nay đều
được coi là ngành công nghệ mũi nhọn vì nó luôn đòi hỏi phải dựa trên những
lý thuyết mới và sự phát triển.
Thứ hai, công nghệ thông tin là công nghệ phổ biến trong mọi lĩnh vực.
Ngày nay, CNTT đã tác động mạnh mẽ đến tất các lĩnh vực của đời sống xã
hội. Ứng dụng CNTT trở nên phổ biến trong tất cả các lĩnh vực công nghiệp,
nông nghiệp và các dịch vụ quan trọng trong đời sống hiện đại của con người
như: quản lý công, quản lý sản xuất kinh doanh, trong lĩnh vực khoa học kỹ
thuật, các dịch vụ tài chính, ngân hàng, bảo hiểm,…
Thứ ba, công nghệ thông tin là một công nghệ có nhiều tầng lớp.
CNTT có nhiều tầng lớp và tầng lớp trên lại được xây dựng dựa trên các tầng
lớp dưới. Cụ thể CNTT gồm có các tầng lớp sau:
- Các chương trình ứng dụng riêng cho từng cơ quan, đơn vị. Đây có
thể là chương trình ứng dụng được thành lập từ một ngôn ngữ lập trình, dựa
trên hệ quản trị cơ sở dữ liệu (CSDL). Tầng lớp trên cùng này thường được
thiết kế tại chỗ hoặc được đặt gia công bên ngoài.
- Các chương trình ứng dụng và hệ phần mềm cơ bản. Đây là phần
phức tạp nhất, bao gồm các chương trình cơ bản sau:
+ Các chương trình ứng dụng tổng quát, chuyên cho quản lý, xử lý văn
bản, tính toán công nghiệp hay tính toán khoa học mà người sử dụng cuối
cùng có thể viết những ứng dụng dễ dàng hay cũng có thể sử dụng ngay mà
không cần viết thêm chương trình.
+ Các chương trình “phần mềm trung gian”, cho phép các chương trình
ứng dụng phân tán sử dụng tới mạng thông tin, thông qua hệ điều hành mạng.
Đây là những chương trình có vai trò ứng dụng quan trọng nhất vào lĩnh vực
quản lý hiện nay.
+ Các chương trình gắn liền với một sản phẩm đặc biệt nào đó, với
của CNTT đối với sự phát triển KT-XH trong các lĩnh vực của nền kinh tế
như quản lý, công nghiệp, dịch vụ, đời sống xã hội có thể tóm tắt như sau.
Đối với lĩnh vực quản lý, đây là lĩnh vực ứng dụng CNTT nhiều nhất
trong các lĩnh vực kể trên. Việc đầu tư CNTT vào khu vực này bao gồm tin học
hoá QLNN và quản lý công cộng, quản lý tài chính, quản lý thuế, đầu tư, giao
thông công cộng, hàng không, hàng hải, dân cư, lao động, bảo hiểm xã hội…
Quá trình đầu tư này chiếm lượng kinh phi không nhỏ nhưng tạo ra hiệu quả
kinh tế và xã hội vô cùng lớn. Tuy nhiên, kinh nghiệm của các nước cho thấy,
quá trình này chỉ đem lại hiệu quả khi nó được đi kèm với một quá trình cải
tiến quản lý nghiêm túc, cải cách hành chính và cải cách kinh tế sâu sắc.
Trong lĩnh vực công nghiệp, xây dựng, CNTT tạo ra một ngành công
nghiệp mới là công nghiệp CNTT. Mặt khác, CNTT được ứng dụng trong các
quá trình sản xuất và trong tổ chức sản xuất của ngành công nghiệp để tăng
năng suất và nâng cao chất lượng sản phẩm, tạo ra sản phẩm mới với nhiều
tính năng hiện đại; tự động hóa các hoạt động thiết kế và chế tạo sản phẩm;
tin học hóa các hoạt động tiếp thị, kinh doanh… Cần chú ý rằng, CNTT
không chỉ tác động đến các ngành công nghiệp công nghệ cao, mà còn có thể
tạo ra hiệu quả cao đối với các ngành thủ công nghiệp hoặc công nghiệp với
công nghệ truyền thống như: dệt, may, thêu ren,… bằng việc ứng dụng tự
động hoá các khâu của quá trình sản xuất. Chẳng hạn, một máy liên hợp thêu
có ứng dụng CNTT có năng suất thêu trên vải bằng hàng trăm thợ thủ công
truyền thống. Chính CNTT đã làm thay đổi ngành công nghiệp thêu ren vốn
trước đây chỉ tổ chức theo kiểu truyền thống.
Nói tóm lại, đối với công nghiệp, CNTT là một loại công nghệ tạo khả
năng; làm chủ công nghệ đó thì có thể sáng tạo ra nhiều cách sử dụng một cách
linh hoạt và đặc sắc trong nhiều lĩnh vực sản xuất.
Trong lĩnh vực dịch vụ, CNTT làm thay đổi một cách sâu sắc nội dung
và cách thức hoạt động của nhiều loại dịch vụ như trong thương mại, quảng
cáo và tiếp thị, giao thông vận tải, bảo hiểm, thông tin liên lạc,… và đặc biệt
quan trọng là các dịch vụ viễn thông, tài chính và ngân hàng. Đồng thời
vật chất khác (như đất đai, rừng rậm, khoáng sản, năng lượng…) là tài sản
cực kỳ quý giá của đất nước, là động lực quan trọng thúc đẩy sự phát triển của
xã hội. Ảnh hưởng của thông tin vô cùng to lớn, một thông tin kinh doanh có
giá trị có thể giúp người thương gia kiếm được món lợi nhuận kếch sù, một
tin dự báo thời tiết chính xác có thể giúp người nông dân tránh được sự tổn
thất lớn, một lời phân tích thị trường cổ phiếu chính xác có thể khiến một
người trở thành tỷ phú sau một đêm.
So sánh với tài nguyên vật chất, tài nguyên thông tin có tính quan trọng
đặc thù. Sự quan trọng này do đặc điểm của thông tin quyết định, đó là tài
nguyên thông tin có thể dùng lại nhiều lần mà không ảnh hưởng đến giá trị;
Sự tăng trưởng về mặt số lượng của tài nguyên thông tin thường là sự phát
triển bùng nổ. Ví dụ, tổng lượng thông tin của những năm 60 lên tới 720 tỷ
chữ, tổng lượng thông tin những năm 80 là 5000 tỷ chữ, đến năm 1995, tổng
lượng thông tin nhiều gấp 2400 lần lượng thông tin năm 1985; Tốc độ truyền
thông tin có thể rất nhanh, có lúc có thể đạt tới tốc độ của ánh sáng; Tài
nguyên thông tin không có thế giới, nó có thể thông qua nhiều phương tiện
truyền thông đại chúng để truyền đi khắp nơi. Trong thời đại Internet phát
triển như ngày nay, phạm vi truyền bá thông tin lại càng rộng.
Tài nguyên thông tin có tính thời hiệu. Ví dụ, dự báo thời tiết sau một
khoảng thời gian sẽ mất tác dụng, dự báo tập kích đường không thời chiến
vượt quá thời gian cũng không còn có ý nghĩa gì nữa.
Việc khai thác và ứng dụng tài nguyên thông tin đã trở thành một
ngành nghề kinh doanh của rất nhiều nước – kinh doanh thông tin, và cũng đã
trở thành điểm tăng trưởng quan trọng của nền kinh tế các nước. Tài nguyên
thông tin cũng là nguồn tài nguyên mang tính chiến lược quan trọng, vị trí của
nó trong các lĩnh vực như quân sự, ngoại giao, chính trị…và giá trị ứng dụng
thực tế ngày càng được nâng cao, tài nguyên thông tin và các thiết bị được
thông tin hoá đã trở thành thứ dùng để thể hiện sức mạnh tổng hợp của một
quốc gia.
Bên cạnh vấn đề về tài nguyên thông tin, cơ sở dữ liệu quốc gia cũng
email bằng tiếng Việt đã bắt đầu xuất hiện và phát tán rộng…
Luật công nghệ thông tin đã quy định rõ về bảo vệ cơ sở hạ tầng thông
tin và an ninh thông tin: Cơ sở hạ tầng thông tin quốc gia phải được bảo vệ.
Ủy ban nhân dân các cấp, lực lượng vũ trang và tổ chức, cá nhân quản lý, khai
thác cơ sở hạ tầng thông tin có trách nhiệm phối hợp bảo vệ an toàn cơ sở hạ
tầng thông tin quốc gia. Tổ chức, cá nhân có trách nhiệm bảo đảm an toàn cơ
sở hạ tầng thông tin thuộc thẩm quyền quản lý; chịu sự quản lý, thanh tra,
kiểm tra và thực hiện các yêu cầu về bảo đảm an toàn cơ sở hạ tầng thông tin
và an ninh thông tin của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Tổ chức, cá
nhân quản lý, khai thác cơ sở hạ tầng thông tin có trách nhiệm tạo điều kiện
làm việc, kỹ thuật, nghiệp vụ cần thiết để các cơ quan nhà nước có thẩm quyền
thực hiện nhiệm vụ kiểm soát và bảo đảm an ninh thông tin khi có yêu cầu.
Để làm được điều đó, vai trò của quản lý nhà nước đối với lĩnh vực
CNTT rất quan trọng, đó là: xây dựng các cơ chế chính sách, quy định về an
toàn, an ninh thông tin; đầu tư trang thiết bị; đào tạo đội ngũ cán bộ; tăng
cường công tác thanh, kiểm tra các hoạt động liên quan đến công tác đảm bảo
an toàn, an ninh thông tin.
Thứ ba, đảm bảo ứng dụng và sử dụng công nghệ thông tin vào hoạt
động thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội.
Chính sách của Nhà nước về ứng dụng và phát triển công nghệ thông
tin đó là: Ưu tiên ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin trong chiến
lược phát triển kinh tế - xã hội và sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa
đất nước. Vai trò của quản lý nhà nước đối với lĩnh vực CNTT là triển khai
thực hiện chính sách đó với các nội dung chủ yếu:
- Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ quan
nhà nước. Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ quan
nhà nước phải được ưu tiên, bảo đảm tính công khai, minh bạch nhằm nâng