Luận văn thạc sỹ - Quản lý Nhà nước đối với đầu tư công của Thành phố Hà Nội - Pdf 56

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
------------

NGUYỄN THẢO NINH

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI ĐẦU TƯ CÔNG
CỦA THÀNH PHỐ HÀ NỘI
CHUYÊN NGÀNH: KINH TẾ CHÍNH TRỊ

Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS. ĐÀO THỊ PHƯƠNG LIÊN

HÀ NỘI - 2015


MỤC LỤC


DANH MỤC NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT
ĐTC:

Đầu tư công

ĐTXD:

Đầu tư xây dựng

ĐTXDCB:

Đầu tư xây dựng cơ bản


Trong thời gian qua, đã có nhiều nghiên cứu về lý thuyết cũng như thực tiễn
đối với ĐTC nói chung ở các cấp độ khác nhau, cũng có những nghiên cứu chuyên
sâu dưới dạng các đề án cụ thể để nhằm khắc phục những hạn chế kéo dài trong lĩnh
vực ĐTC, trong đó có công tác quản lý nhà nước (QLNN). Để khắc phục những tồn
tại và bất cập nêu trên thì công tác QLNN về ĐTC có một vai trò quan trong trong
việc quản lý đầu tư và xây dựng đối với các dự án đầu tư trên địa bàn thành phố Hà
Nội. Vì vậy, một loạt các Luật ra đời, Nghị định,Thông tư hướng dẫn Luật và các
Quyết định, văn bản ra đời triển khai nhằm hoàn thiện hơn nữa công tác quản lý và
sử dụng vốn ĐTC; quy định quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của cơ quan, đơn vị, tổ
chức, cá nhân liên quan đến hoạt động ĐTC. Tuy nhiên, việc nghiên cứu có tính hệ
thống, độc lập, khách quan đối với công tác QLNN đối với ĐTC chưa được chú
trọng, nhất là trong phạm vi thành phố Hà Nội, một thành phố có tốc độ phát triển
kinh, đô thị hóa nhanh và địa bàn rộng, nhu cầu đầu tư phát triển (trong đó ĐTC
chiếm tỷ trọng khá lớn) là hoàn toàn cần thiết.
Hiện nay, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về ĐTC còn thiếu chưa đồng
bộ, thậm chí còn chồng chéo, mâu thuẫn lẫn nhau. Việc quản lý đầu tư sử dụng vốn
nhà nước được quy định rải rác trong các văn bản Luật (Ngân sách nhà nước 2003,
Xây dựng 2003, Đầu tư 2005…), các Nghị định, Thông tư và các Quyết định, Chỉ
thị của Thủ tướng Chính phủ, các thông tư hướng dẫn của các bộ, ngành,.... Trong
các năm gần đây việc thực hiện Chỉ thị số 1792/CT-TTg ngày 15 tháng 10 năm
2011 của Thủ tướng Chính phủ góp phần khắc phục một bước các tồn tại, hạn chế
nêu trên. Tuy nhiên, đây vẫn là các quy định dưới Luật và mới giải quyết được một
số bức xúc trước mắt, chưa đáp ứng được yêu cầu đổi mới về ĐTC một cách toàn


2

diện, có hệ thống. Các văn bản quy phạm pháp luật này có quy định về quản lý đầu
tư đối với nguồn vốn ĐTC, tuy nhiên chưa đầy đủ, thiếu cụ thể, ví dụ như chưa có
quy định về quy hoạch; trình tự thủ tục phê duyệt chủ trương đầu tư các chương

phát triển bền vững của Thủ đô 1000 năm lịch sử mà còn góp phần quan trọng vào
sự thành công của chủ trương tái cấu trúc ĐTC của quốc gia. Việc nghiên cứu về Đề
tài “Quản lý Nhà nước đối với đầu tư công của Thành phố Hà Nội” là hết sức cần
thiết, có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn.
2. Phạm vi nghiên cứu
- Về thời gian: Phân tích thực trạng quản lý nhà nước (QLNN) đối với ĐTC
ở Hà Nội giai đoạn 2011 – 20151.
- Về không gian: Nghiên cứu QLNN đối với ĐTC của thành phố Hà Nội, chỉ
xét đến các dự án đầu tư có cấu phần xây dựng (theo điều 6 Luật ĐTC mới ra đời)
từ nguồn vốn ngân sách nhà nước (NSNN) ở địa phương. Không xét đến các dự án
ĐTC trên địa bàn Hà Nội nhưng do Trung ương hay các Tổng công ty nhà nước
quản lý.
3. Mục tiêu nghiên cứu
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về ĐTC và QLNN đối với ĐTC nhằm mục tiêu
tăng trưởng nhanh và bền vững ở thành phố Hà Nội.
- Phân tích thực trạng ĐTC nói chung, trọng tâm là Đầu tư XDCB bằng
NSNN của Thành phố Hà Nội, làm rõ hiệu quả và kết quả đầu tư trên các mặt thành
tựu, hạn chế, nguyên nhân.
- Đề xuất quan điểm, định hướng và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả
QLNN về ĐTC của Thành phố Hà Nội đến năm 2020.
4. Đối tượng nghiên cứu
Công tác QLNN đối với ĐTC, trọng tâm là đầu tư XDCB bằng ngân sách địa
phương của thành phố Hà Nội. Cụ thể là sự chỉ đạo, điều hành, tập trung chỉ đạo
của cơ quan QLNN về ĐTC thông qua các văn bản quy phạm pháp luật. Do đó, đối
tượng nghiên cứu của đề tài rộng nhưng thống nhất, xuyên suốt (công tác xây dựng
cơ chế, chính sách pháp luật, quá trình triển khai, thực thi cơ chế, chính sách, đối
tượng thực thi, chủ thể thực thi….)

1



Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ
NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI ĐẦU TƯ CÔNG
1.1. Những vấn đề cơ bản về đầu tư công
1.1.1. Quan niệm về đầu tư công
Trước đây quan niệm về ĐTC chưa được thống nhất giữa các nhà nghiên
cứu, các nhà hoạch định chính sách, cơ quan quản lý trong nước và có sự khác biệt
rất lớn với quan niệm và thống kê của quốc tế.
Theo Nguyễn Đăng Bình (2012), ĐTC được hiểu là đầu tư vào hàng hóa
công cộng, “nói chung là đầu tư của Nhà nước vào cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội,
sản xuất, cung ứng sản phẩm, dịch vụ công ích, cải thiện môi trường sinh thái, tài
nguyên thiên nhiên và bảo đảm an ninh quốc phòng” 2. Quan niệm này liệt kê khá cụ
thể về các nội dung của ĐTC nhưng tính khái quát chưa cao nên không bao hàm hết
các nội hàm của ĐTC. Quan niệm tương tự cũng được thể hiện trong nghiên cứu
của Nguyễn Đức Thành và Đinh Tuấn Minh (2011): ĐTC (thuần) được hiểu như là
phần chi tiêu công (public expenditure) được thêm vào lượng vốn vật chất để tạo ra
các dịch vụ xã hội, chẳng hạn xây dựng đường sá, cầu cảng, trường học, bệnh viện
v.v… Nguồn vốn ĐTC thường bao gồm NSNN, Trái phiếu chính phủ, hoặc viện trợ
phát triển của nước ngoài. Tùy theo quan niệm của từng quốc gia mà ĐTC có thể
bao gồm các dự án cho các mục đích kinh doanh (qua khu vực DNNN) hoặc các dự
án chỉ thuần mục đích công ích.
Vũ Tuấn Anh và Nguyễn Quang Thái (2011) cho rằng, theo lý thuyết kinh tế
học, ĐTC là việc đầu tư để tạo năng lực sản xuất và cung ứng hàng hóa công cộng. 3
Hàng hóa công cộng phải thỏa mãn 2 đặc tính là không có tính cạnh tranh và không
có tính loại trừ (Varian, 1992). Tuy nhiên, trên thực tế, ở các nước đang phát triển,
2

Nguyễn Đăng Bình, 2012, Đầu tư phát triển theo hướng tăng trưởng nhanh gắn với giảm nghèo tại Việt
Nam trong thời kỳ đến năm 2020, Luận án tiến sĩ kinh tế, Trang 3

án phát triển kết cấu hạ tầng kỹ thuật, kinh tế, xã hội, môi trường, quốc phòng, an
ninh; các dự án đầu tư không có điều kiện xã hội hóa thuộc các lĩnh vực kinh tế, văn
hóa, xã hội, y tế, khoa học, giáo dục, đào tạo và các lĩnh vực khác; (ii) Các chương
trình mục tiêu, dự án phục vụ hoạt động của các cơ quan nhà nước, đơn vị sự
nghiệp, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, kể cả việc mua sắm, sửa chữa
TSCĐ bằng vốn sự nghiệp; (iii) Các dự án đầu tư của cộng đồng dân cư, tổ chức
chính trị - xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xã hội – nghề nghiệp được hỗ trợ từ vốn


7

nhà nước theo quy định của pháp luật; (iv) Chương trình mục tiêu, dự án ĐTC khác
theo quyết định của Chính phủ.
Trước khi có Luật ĐTC ra đời, có thể nói Luật Đầu tư 2005 do Quốc hội ban
hành ngày 29/11/2005 quy định: (1) Về hoạt động đầu tư nhằm mục đích kinh
doanh, áp dụng cho tất cả các chủ thể là nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước
ngoài. Khái niệm “Đầu tư” trong Luật Đầu tư đã có, tuy nhiên, trong các văn bản
quy phạm pháp luật hiện hành chưa có khái niệm "ĐTC". (2)Vốn nhà nước là vốn
đầu tư phát triển từ NSNN, vốn tín dụng do Nhà nước bảo lãnh, vốn tín dụng đầu tư
phát triển của Nhà nước và vốn đầu tư khác của Nhà nước. Tuy nhiên, cũng quy
định chung chung không rõ vốn đầu tư khác của Nhà nước là nguồn vốn nào.
Hiện nay, các chương trình, dự án sử dụng nhiều nguồn vốn nhà nước để đầu
tư phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh; như:
- Vốn đầu tư từ NSNN bao gồm: đầu tư của ngân sách trung ương (bao gồm cả
phần vốn ODA được cân đối qua NSNN) cho các bộ, cơ quan trung ương, vốn bổ sung
có mục tiêu của Ngân sách Trung ương cho các địa phương và đầu tư trong cân đối ngân
sách địa phương.
- Vốn đầu tư từ công trái quốc gia: là khoản vốn do Nhà nước vay trực tiếp
của người dân bằng một chứng chỉ có kỳ hạn để đầu tư cho các mục tiêu chung của
đất nước.

- Đầu tư từ Quỹ hỗ trợ sắp xếp doanh nghiệp, nguồn cổ phần hóa doanh
nghiệp, các nguồn vốn đầu tư do Tổng công ty Đầu tư và kinh doanh vốn Nhà nước.
Các nguồn vốn nêu trên được sử dụng cho các chương trình, dự án phát triển
hạ tầng kinh tế-xã hội, quốc phòng, an ninh vì mục tiêu phát triển chung của đất
nước. Nguồn vốn này chiếm tỷ trọng quan trọng trong tổng vốn đầu tư toàn xã hội
và đều được cân đối từ nguồn thu của đất nước hoặc Chính phủ phải cân đối để chi
trả nợ; nhưng việc quản lý, sử dụng nguồn vốn này chưa được chặt chẽ. Quản lý
việc sử dụng các nguồn vốn này chưa được quy định tại một văn bản Luật thống
nhất. Nhiều nguồn vốn mới chỉ được quy định việc quản lý sử dụng bằng các văn
bản dưới Luật.
Việc xác định rõ khái niệm "Vốn ĐTC" sẽ là cơ sở để xác định phạm vi và
đối tượng điều chỉnh, đồng thời quy định về quyền hạn và trách nhiệm của các cơ
quan, tổ chức, cá nhân liên quan đến việc quản lý và sử dụng nguồn vốn này. Hiểu


9

thống nhất về quan niệm, đầy đủ về vốn ĐTC, từ đó xác định phạm vi, yêu cầu và
nhiệm vụ QLNN về ĐTC là nội dung quan trọng, mang tính chất quyết định nhất.

Sơ đồ 1.1: Các nội dung của chi ĐTC trong thống kê ngân sách Việt Nam
Nguồn: Tổng hợp của nhóm nghiên cứu từ số liệu NSNN năm 2011-2012, website
Bộ Tài chính www.mof.gov.vn
Theo Luật tư công số 49/2014/QH13 của Quốc Hội khái niệm về ĐTC được
hiểu như sau: Đầu tư công là hoạt động đầu tư của Nhà nước vào các chương trình,
dự án xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội và đầu tư vào các chương trình, dự
án phục vụ phát triển kinh tế - xã hội.
Khái niệm này giúp làm rõ 3 đặc điểm của đầu tư công, đó là, đầu tư công là
hoạt động đầu tư của Nhà nước; nguồn vốn đầu tư cho hoạt động đầu tư công là từ
Nhà nước; mục tiêu của hoạt động đầu tư công là các chương trình, dự án xây dựng

Vì vậy, để phát huy những ưu điểm, hạn chế những khuyết điểm của đầu tư
công thì Nhà nước phải có cơ quan quản lý Nhà nước quản lý hoạt động đầu tư
công triển khai theo các bước cụ thể bao gồm lập, thẩm định, quyết định chủ trương
đầu tư; lập, thẩm định, quyết định chương trình, dự án đầu tư công; lập, thẩm định,
phê duyệt, giao, triển khai thực hiện kế hoạch đầu tư công; quản lý, sử dụng vốn
đầu tư công; theo dõi và đánh giá, kiểm tra, thanh tra.
1.2 Sự cần thiết, nội dung và những nhân tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước
đối với đầu tư công
1.2.1. Sự cần thiết phải có quản lý Nhà nước đối với đầu tư công
Trong nền kinh tế thị trường quá trình vận động luôn mang tính hai mặt, mặt
tích cực và mặt tiêu cực. Mặt tích cực là chủ yếu. Để phát huy mặt tích cực và hạn
chế mặt tiêu cực của nền kinh tế thị trường thì Nhà nước không thể ở bên ngoài và


11

bên trên qúa trình kinh tế mà phải ở bên trong quá trình kinh tế để điều tiết, quản lý
vĩ mô quá trình kinh tế.
QLNN đối với ĐTC là việc nhà nước sử dụng các công cụ chính sách tác
động vào các chủ thể tham gia trong quá trình tạo ra sản phẩm.
Thứ nhất, QLNN các sản phẩm xây dựng. Sản phẩm xây dựng được tạo ra
trong giai đoạn thực hiện dự án đầu tư. Trong giai đoạn này, thực chất sản phẩm được
tạo ra bởi các hoạt động: Chuẩn bị thực hiện đầu tư và thi công xây lắp. Vì vậy, quản
lý sản phẩm xây dựng thực chất là quản lý sản phẩm của cả hai hoạt động này.
- Sản phẩm chủ yếu của giai đoạn chuẩn bị thực hiện đầu tư là hồ sơ thiết kế.
Để quản lý sản phẩm của hoạt động khảo sát thiết kế, Nhà nước ban hành các quy
trình khảo sát thiết kế, quy định các tiêu chuẩn thiết kế. Để ràng buộc trách nhiệm
của tư vấn thiết kế trong hoạt động xây dựng, buộc họ phải tham gia bảo hiểm công
trình. Cơ quan QLNN cần tăng cường công tác thẩm định trước khi phê duyệt đồ án
thiết kế; còn bản thân các tổ chức tư vấn thiết kế phải tự tổ chức quản lý, kiểm tra

- QLNN đối với CĐT. Trong các chủ thể kinh doanh, CĐT có vị trí đặc biệt,
đó là chủ thể thay mặt Nhà nước trực tiếp quản lý, sử dụng vốn đầu tư. Hoạt động
của các chủ thể kinh doanh khác phụ thuộc chặt chẽ vào hoạt động của CĐT. Vì vậy
sự ổn định, tổ chức hợp lý chặt chẽ, trình độ chuyên môn sâu của CĐT là những tiền
đề để CĐT thực hiện tốt chức năng của mình.
- QLNN đối với CĐT, trước hết cần xác định lựa chọn đúng đắn CĐT, quy
định cơ cấu tổ chức hợp lý và xác định đầy đủ chức năng nhiệm vụ của nó, đồng
thời thường xuyên kiểm tra, kiểm soát hoạt động của CĐT. Để quản lý tác động đến
các CĐT đang trực tiếp quản lý vốn đầu tư từ ngân sách, các cơ quan QLNN không
đồng thời vừa làm QLNN lại vừa là CĐT. Đối với đầu tư của khu vực dân doanh,
Nhà nước chỉ cho phép đầu tư khi dự án phù hợp với định hướng của Nhà nước,
không tác động xấu đến môi trường và an toàn cho các công trình liền kề khác. Đối
với dự án sử dụng vốn NSNN, Nhà nước chỉ quyết định đầu tư khi dự án đáp ứng
được hiệu quả kinh tế - xã hội.
- QLNN đối với tổ chức tư vấn. Tư vấn là loại lao động đặc biệt, đó là kinh
nghiệm, kiến thức và sự phán xét. Đó là hoạt động khó đánh giá, khó đo đếm nhưng
sản phẩm do họ tạo ra có ý nghĩa cực kỳ quan trọng (đồ án thiết kế, nghiệp vụ giám
sát, lời khuyên, sự phán xét... ). Quản lý xây dựng cần hiểu biết vai trò của TV, lựa


13

chọn đúng và có biện pháp để TV đóng góp hiệu quả nhất trong xây dựng. Trong
nền kinh tế thị trường, để loại bỏ các Tư vấn không đủ tư cách tham gia, Nhà nước
cần tăng cường kiểm tra, kiểm soát Tư vấn trong đăng ký và hoạt động hành nghề
của họ.
- QLNN đối với Nhà thầu. Chọn được Nhà thầu có uy tín, có công nghệ xây
dựng tiến tiến là đảm bảo đầu vào cho xây dựng đạt chất lượng. Nếu quy trình quản
lý các Nhà thầu không chặt chẽ, khoa học và hợp với thông lệ quốc tế sẽ tạo ra
những kẽ hở phát sinh lãng phí vốn đầu tư, xây dựng chậm chạp, chất lượng không

hội và hành vi hoạt động của con người để duy trì và phát triển các mối quan hệ xã
hội và trật tự pháp luật nhằm thực hiện những chức năng và nhiệm vụ của Nhà
nước trong công cuộc xây dựng CNXH và bảo vệ tổ quốc XHCN”.
Giáo trình quản lý hành chính nhà nước, tập 1, trang 407
Như vậy, quản lý nhà nước là hoạt động mang tính chất quyền lực nhà nước,
được sửa dụng quyền lực nhà nước để điều chỉnh các quan hệ xã hội. Quản lý nhà
nước được xem là một hoạt động chức năng của nhà nước trong quản lý xã hội và
có thể xem là hoạt động chức năng đặc biệt cuả quản lý nhà nước được hiểu theo
hai nghĩa.
Theo nghĩa rộng: quản lý nhà nước là toàn bộ hoạt động của bộ máy nhà
nước, từ hoạt động lập pháp, hoạt động hành pháp, đến hoạt động tư pháp.
Theo nghĩa hẹp: quản lý nhà nước chỉ bao gồm hoạt động hành pháp.
Quan niệm về ĐTC: là hoạt động đầu tư của Nhà nước vào các chương trình,
dự án xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội và đầu tư vào các chương trình, dự
án phục vụ phát triển kinh tế – xã hội.
Như vậy, quan niệm về Quản lý nhà nước đối với ĐTC được đề cập trong đề
tài này là khái niệm quản lý nhà nước theo nghĩa rộng; quản lý nhà nước bao gồm
toàn bộ các hoạt động từ ban hành các văn bản luật, các văn bản mang tính luật đến
việc chỉ đạo trực tiếp hoạt động của đối tượng bị quản lý và vấn đề tư pháp đối với
đối tượng quản lý cần thiết của Nhà nước về ĐTC. Hoạt động quản lý nhà nước chủ
yếu và trước hết được thực hiện bởi tất cả các cơ quan nhà nước, song có thể các tổ
chức chính trị - xã hội, đoàn thể quần chúng và nhân dân trực tiếp thực hiện nếu
được nhà nước uỷ quyền, trao quyền thực hiện chức năng của nhà nước theo quy
định của pháp luật về ĐTC.

1.2.2.2 Nội dung quản lý Nhà nước đối với Đầu tư công


15



16

đảm bảo ổn định ở tầm vĩ mô. Kế hoạch không đảm bảo chất, thiếu cơ sở khoa học
sẽ gây hậu quả xấu cho phát triển kinh tế, cũng như đối với doanh nghiệp.
Kế hoạch hoá đầu tư đóng vai trò hết sức quan trọng trong công tác quản lý
vốn đầu tư ĐTC. Thực hiện tốt công tác này sẽ là cơ sở quan trọng để các ngành,
các lĩnh vực các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế ở địa phương chủ động
đẩy mạnh đầu tư có định hướng, cân đối, tránh được hiện tượng đầu tư chồng chéo,
thiếu đồng bộ, lãng phí nguồn lực của đất nước nói chung và địa phương nói riêng.
Kế hoạch hoá đầu tư trước hết phải xây dựng được chiến lược đầu tư hợp lý,
xác định ưu tiên đầu tư vào ngành nào, vùng nào, đầu tư như thế nào và đầu tư bao
nhiêu thì sẽ mang lại hiệu quả cao nhất từ đó xác định được cơ cấu vốn đầu tư theo
ngành, vùng và cơ cấu vốn đầu tư theo nhóm dự án (A, B, C).
Sau khi xây dựng được chiến lược đầu tư hợp lý phải lập được qui hoạch đầu
tư và dựa vào quy hoạch để lập kế hoạch vốn đầu tư nhằm xác định nhu cầu và khả
năng đáp ứng vốn ĐTC trong từng thời kỳ nhất định và cho thời hạn xác định.
3, QLNN trong triển khai các dự án ĐTC
Chi phí triển khai các dự án ĐTC chủ yếu được thực hiện thông qua hợp
đồng kinh tế với các nhà thầu. Để thực hiện một dự án đầu tư, CĐT có thể thuê các
nhà thầu thực hiện các công việc như tư vấn lập dự án, thiết kế, giám sát chất lượng
công trình, xây lắp, cung cấp máy móc, thiết bị cho dự án, kiểm toán. Việc lựa chọn
nhà thầu trong các dự án ĐTC được thực hiện thông qua các hình thức: đấu thầu
rộng rãi, đấu thầu hạn chế, chỉ định thầu.
Đấu thầu là quá trình lựa chọn nhà thầu đáp ứng được các yêu cầu của bên
mời thầu trên cơ sở cạnh tranh giữa các nhà thầu. Theo tính chất công việc đưa ra
đấu thầu, đấu thầu được chia thành: đấu thầu tuyển chọn tư vấn (lập báo cáo nghiên
cứu tiền khả thi, khả thi; lập thiết kế, dự toán; lập hồ sơ mời thầu, đánh giá xếp hạng
nhà thầu; giám sát quản lý thực hiện dự án; đào tạo, vận hành chuyển giao công
nghệ; kiểm toán...); đấu thầu mua sắm vật tư, thiết bị; đấu thầu xây lắp; đấu thầu dự

tức là sau một thời gian thi công CĐT sẽ thanh toán cho nhà thầu một khoản tiền, có
thể được thanh toán theo giai đoạn qui ước hay điểm dừng kỹ thuật hợp lý, có thể
được thanh toán theo khối lượng XDCB hoàn thành hay thanh toán theo công trình,
hạng mục công trình hoàn thành. Việc lựa chọn phương thức thanh toán nào là tuỳ
thuộc vào điều kiện thực tế của từng thời kỳ, khả năng về vốn của CĐT và nhà thầu.
Vấn đề là phải kết hợp được hài hoà lợi ích của CĐT và nhà thầu. Với nguyên tắc


18

chung là kỳ hạn thanh toán càng ngắn mà đảm bảo có khối lượng hoàn thành
nghiệm thu thì càng có lợi cho cả hai bên, vừa đảm bảo vốn cho nhà thầu thi công
vừa đảm bảo thúc đẩy tiến độ thi công công trình.
Quyết toán vốn ĐTC của một dự án là tổng kết, tổng hợp các khoản thu, chi
để làm rõ tình hình thực hiện một dự án ĐTC. Thực chất của quyết toán vốn đầu tư
của một dự án, công trình, hạng mục công trình là xác định giá trị của dự án, công
trình, hạng mục công trình đó, hay chính là xác định vốn đầu tư được quyết toán.
Vốn đầu tư được quyết toán là toàn bộ chi phí hợp pháp đã được thực hiện trong
quá trình đầu tư để đưa dự án vào khai thác sử dụng. Chi phí hợp pháp là chi phí
theo đúng hợp đồng đã ký kết và thiết kế dự toán đã được phê duyệt, bảo đảm đúng
quy chuẩn, định mức, đơn giá, chế độ tài chính - kế toán và những qui định hiện
hành của nhà nước có liên quan.
Để tránh thất thoát, lãng phí, tiêu cực trong quyết toán vốn ĐTC, các bên
tham gia cần phải quan tâm và chú trọng đến chất lượng, hiệu quả trong quyết toán;
quyết toán vốn đầu tư phải đúng đắn và đảm bảo kịp thời; công tác quyết toán vốn
ĐTC cần phải thực hiện dứt điểm và triệt để trong năm tài chính.
4, Đánh giá hiệu quả đầu tư công; kiểm tra, thanh tra việc thực hiện các quy
định của pháp luật về đầu tư công.
Chất lượng công trình được xác định dựa theo hồ sơ thiết kế đã được xác
định trước khi sản xuất sản phẩm. Do đặc điểm công trình xây dựng có qui mô và

đúng, chủng loại chất lượng vật tư, vật liệu đưa vào sử dụng thi công cho công trình
chưa đúng, chưa đủ. Như vậy công tác giám sát và nghiệm thu, quản lý chất lượng
công trình không nghiêm sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng, tuổi thọ của dự án,
sẽ gây ra lãng phí, thất thoát. Khi đánh giá thất thoát lãng phí, tiêu cực trong nghiệm
thu và quản lý chất lượng công trình cần dựa vào các căn cứ như: Nghiệm thu khối
lượng hoàn thành không theo hồ sơ thiết kế kỹ thuật, thiết kế tổ chức thi công đã
được các cấp có thẩm quyền phê duyệt. Nghiệm thu sai, tăng khối lượng cho nhà
thầu dẫn đến tình trạng thất thoát, lãng phí trong giai đoạn này là rất phổ biến; Xem
xét, đánh giá việc vận dụng đúng đắn các chính sách, chế độ của Nhà nước trong
công tác nghiệm thu khối lượng bổ sung phát sinh và bù giá tại từng thời điểm thực
tế hoàn thành nghiệm thu; Kiểm tra, giám sát thường xuyên, bám sát hiện trường và
nghiệm thu đúng quy trình, quy phạm trong thi công, tổ chức kiểm tra, nghiệm thu


20

vật tư, vật liệu đầu vào trước khi đưa vào sử dụng tại công trình; Kiểm tra và chấn
chỉnh để các cán bộ tư vấn giám sát phải có mặt thường trực tại hiện trường để giải
quyết kịp thời các vấn đề phát sinh, sai khác; Tuổi thọ về chất lượng của các công
trình.
Tóm lại, việc đánh giá QLNN ở khâu này phải căn cứ vào các yêu cầu sau
đây: (1) Khối lượng hoàn thành có tuân theo hồ sơ thiết kế kỹ thuật; (2)Các cán bộ
tư vấn giám sát có mặt thường trực tại hiện trường để giải quyết kịp thời các vấn đề
phát sinh, sai khác không? (3) Tuổi thọ về chất lượng của các công trình có khả
năng đúng như thiết kế phê duyệt không?
Các dự án ĐTC có đặc điểm nổi bật là thời gian dài, vốn đầu tư lớn, rủi ro
cao. Để giảm thiểu khả năng rủi ro các nhà đầu tư thường thông qua việc lập những
dự án đầu tư XDCB. Dự án đầu tư là một tập hợp những đề xuất có liên quan đến
việc bỏ vốn để tạo mới, mở rộng hoặc cải tạo những cơ sở vật chất nhất định nhằm
đạt được sự tăng trưởng về số lượng hoặc duy trì, cải tiến, nâng cao chất lượng của

Sau khi thẩm định dự án đầu tư, nếu dự án đạt được những yêu cầu cơ bản về
nội dung thẩm định dự án và có tính khả thi cao thì cơ quan có thẩm quyền sẽ ra
quyết định phê duyệt dự án đầu tư để có thể triển khai ở khâu thiết kế dự toán.
Từ đó, việc đánh giá QLNN trong giai đoạn này đòi hỏi phải chú ý đến
những khía cạnh như: 1) Đảm bảo tiến độ thực hiện các khâu; 2) Hồ sơ về thẩm
định thiết kế kỹ thuật yêu cầu đầy đủ; 3) Thủ tục tiến hành bảo đảm đúng các quy
trình; 4) Đầu tư phải đồng bộ để chất lượng các dự án đạt kết quả cao; 5) quản lý tốt
để giảm lãng phí so với đầu tư bằng các nguồn vốn khác

1.3. Tổng quan nghiên cứu trong và ngoài nước về QLNN đối với ĐTC
1.3.1. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
Nghiên cứu về quản lý ĐTC đã được các nhà nghiên cứu nước ngoài đề cập
khá nhiều. Có thể kể đến một số công trình nghiên cứu sau:
Trong công trình nghiên cứu về hệ thống quản lý chi phí trong xây dựng của
Peter E. D. Love, Zahir Irani (2002) cho rằng một mẫu dự án quản lý hệ thống chi
phí chất lượng (PROMQACS) được phát triển để xác định chi phí chất lượng trong
dự án xây dựng. Cấu trúc và các thông tin quan trọng là cần thiết được xác định và
thảo luận để cung cấp cho một hệ thống phân loại chi phí chất lượng. Hệ thống phát
triển đã được thử nghiệm và triển khai thực hiện trong hai trường hợp xây dựng các



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status