ĐỀ TÀI CƯ DÂN ĐÓNG TÀU THUYỀN Ở XÃ NGHI THIẾT, HUYỆN NGHI LỘC, TỈNH NGHỆ AN - Pdf 41

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
----------------------------------------------------ĐẬU THỊ YẾN

CƢ DÂN ĐÓNG TÀU THUYỀN Ở XÃ NGHI
THIẾT, HUYỆN NGHI LỘC, TỈNH NGHỆ AN

LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Nhân học

Hà Nội-2016


Ket-noi.com
Ket-noi.com kho
kho tai
tai lieu
lieu mien
mien phi
phi

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------------------------------------

ĐẬU THỊ YẾN

CƢ DÂN ĐÓNG TÀU THUYỀN Ở XÃ NGHI
THIẾT, HUYỆN NGHI LỘC, TỈNH NGHỆ AN

Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành nhân học

đến nhân dân xã Nghi Thiết, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An, đặc biệt là gia
đình chủ xƣởng đóng tàu đã tạo điều kiện để tôi tham gia sinh hoạt tại địa
phƣơng và tại xƣởng tàu giúp tôi thu thập các thông tin quan trọng cho luận
văn. Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến chính quyền xã Nghi Thiết đã luôn giúp
đỡ tôi trong quá trình tiếp xúc với cƣ dân và cung cấp các tƣ liệu cần thiết cho
luận văn. Tôi xin bày tỏ lời cảm ơn đến những ngƣời đã cung cấp thông tin
cho tôi về nghề đóng tàu tạo điều kiện để tôi hoàn thành luận văn này.
Nghiên cứu của tôi sẽ không thể thành công nếu nhƣ không có sự
hƣớng dẫn nghiêm túc và chỉ bảo tận tình của TS Vũ Trƣờng Giang đã hƣớng
dẫn khoa học cho tôi để tôi hoàn thành tốt luận văn này.
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo trong khoa Nhân học,
trƣờng Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội đã
chỉ bảo tôi những kiến thức Nhân học quý báu trong 2 bậc học Cử nhân và
Thạc sĩ.
Hà Nội, tháng 01 năm 2016
Tác giả

Đậu Thị Yến

2


MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN ......................................................................................................1
LỜI CẢM ƠN ............................................................................................................2
DẪN LUẬN ................................................................................................................5
Chƣơng 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ THUYẾT, PHƢƠNG PHÁP
VÀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU .................................................................................10
1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu ....................................................................10
1.2. Tiếp cận lý thuyết ...........................................................................................13

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1. Năm thành lập các xƣởng đóng tàu thuyền ở xã Nghi Thiết.......... 34
Bảng 2.2. Số lao động đang làm việc tại các xƣởng đóng tàu thuyền ............ 37
Bảng 2.3. Ý kiến về việc nghề đóng tàu có bị mất hay không ................ Error!
Bookmark not defined.
Bảng 3.1. Số lƣợng con của các gia đình chủ xƣởng đóng tàu ở Nghi Thiết
......................................................................... Error! Bookmark not defined.
DANH MỤC BIỂU ĐÒ
Biểu đồ 2.1. Độ tuổi của lao động làm việc tại các xƣởng đóng tàu thuyền...39

4


DẪN LUẬN
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Việt Nam là quốc gia có 3.260 km bờ biển kéo dài từ Bắc đến Nam.
Biển chứa nhiều nguồn tài nguyên quý giá cho nƣớc ta trên hành trình hội
nhập và phát triển hôm nay. Để khai thác nguồn tài nguyên trên biển, nhiều
ngành kinh tế cần có phƣơng tiện vận tải là tàu, thuyền. Nghề đóng tàu,
thuyền là một trong những nghề xuất hiện sớm ở nƣớc ta. Sách “Nghề cổ đất
Việt” của Vũ Từ Trang đã dẫn: “Với tình hình địa lý nƣớc ta, sông ngòi, kênh
rạch, dọc ngang rất nhiều, đã vậy biển Đông lại ôm dọc chiều dài đất nƣớc, vì
thế thuyền bè là một phƣơng tiện giao thông rất mật thiết với ngƣời dân.
Chính vì vậy, nghề đan thuyền, đóng thuyền, đóng tàu bè ở nƣớc ta phát triển
rất sớm” [45, tr. 343]. Do đó, ngay từ rất sớm, ngƣời thợ thủ công làm nghề
đóng tàu thuyền đã cƣ trú ven biển để sản xuất ra tàu, thuyền phục vụ nhu cầu
đó. Tuy nhiên, hầu nhƣ các nghiên cứu về biển đang tập trung chủ yếu vào
nghiên cứu văn hoá lễ hội của ngƣ dân vùng biển để phục vụ phát triển du lịch
của một số địa phƣơng có hoạt động du lịch dựa vào điều kiện tự nhiên của

vậy những bộ phận dân cƣ khác thì sao? Thợ đóng tàu, thuyền, còn những
khó khăn nào trong cuộc sống còn đặt ra đối với họ? Họ cần hỗ trợ gì từ phía
các cấp chính quyền? Trong cộng đồng cƣ trú họ gặp phải những rào cản nào?
Điều này chƣa đƣợc quan tâm đúng mức trong các nghiên cứu hiện nay.
Hiện nay, Nhà nƣớc đang chú trọng đầu tƣ để ngƣ dân đóng mới tàu
thuyền, cải tiến tàu thuyền ngày càng hiện đại hơn để bám biển, cải thiện điều
kiện kinh tế và tham gia bảo vệ chủ quyền biển đảo, nhiều làng nghề đóng tàu
thuyền từng bị bỏ quên, mai một đã đƣợc phục hồi và chú trọng đầu tƣ phát
triển. Để các kế hoạch trên đạt đƣợc hiệu quả thì trƣớc hết cần nghiên cứu từ
những ngƣời dân làm nghề này, tìm hiểu tiếng nói, nguyện vọng và triển vọng
nghề nghiệp của họ nhằm có sự đầu tƣ đúng hƣớng và hiệu quả. Trên đây là
những cơ sở để tôi lựa chọn một nghiên cứu mới mẻ nhƣng cũng đầy thú vị
và thách thức này.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu thực hiện nhằm ba mục đích chính:
Một là, tìm hiểu thực trạng cuộc sống của cộng đồng cƣ dân làm nghề
đóng tàu thuyền ở ven biển Nghệ An thông qua nghiên cứu trƣờng hợp xã
Nghi Thiết, huyện Nghi Lộc.
6


Hai là, tìm hiểu quá trình thích nghi với địa bàn cƣ trú của cộng đồng
cƣ dân này thông qua các đặc điểm về kinh tế, văn hóa, xã hội của cộng đồng.
Ba là, chỉ ra những biến đổi trong đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội
của cƣ dân đóng tàu thuyền.
3. Câu hỏi nghiên cứu
- Cƣ dân đóng tàu thuyền sống và thích nghi với biển nhƣ thế nào (các
hoạt động sinh kế, tổ chức xã hội, đời sống văn hóa, tín ngƣỡng, tâm linh, ảnh
hƣởng từ các cộng đồng cƣ trú xung quanh)?
- Để gìn giữ và phát huy nghề nghiệp truyền thống mà cha ông để lại,

Để thực hiện luận văn này, chúng tôi sử dụng nguồn tƣ liệu từ nhiều
nguồn khác nhau. Trƣớc hết, là các công trình nghiên cứu, bài viết có liên
quan cƣ dân ven biển nói chung và cƣ dân làm nghề đóng tàu thuyền nói riêng
của các học giả trong nƣớc và ngoài nƣớc đƣợc xuất bản dƣới dạng sách
chuyên khảo, kỷ yếu hội thảo, bài báo khoa học. Hai là, nguồn thông tin quan
trọng nhất và chủ yếu là nguồn tài liệu chúng tôi thu thập đƣợc qua quá trình
điền dã tại địa bàn nghiên cứu là xã Nghi Thiết, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ
An. Chúng tôi làm việc với ban lãnh đạo chính quyền địa phƣơng, trình bày
với họ về đề tài nghiên cứu, xin phép họ đƣợc tạm trú tại xã. Khi đƣợc chính
quyền cho phép, chúng tôi bắt đầu quá trình điền dã tại địa bàn nghiên cứu,
tiến hành phỏng vấn và tham gia các hoạt động lao động sản xuất, các sinh
hoạt văn hóa, tín ngƣỡng của ngƣời đóng tàu, thuyền.
6. Đóng góp của luận văn
Luận văn là nghiên cứu chuyên sâu về cƣ dân đóng tàu thuyền ở xã
Nghi Thiết nhằm đƣa ra các đóng góp về mặt khoa học và thực tiễn. Về mặt
khoa học, luận văn cung cấp cho ngành Nhân học và các bộ môn liên quan tƣ
liệu mới, phong phú và có hệ thống về cƣ dân đóng tàu thuyền ở Nghệ An.
Thứ hai, áp dụng các lý thuyết sinh kế, sinh thái học văn hóa và biến đổi văn
hóa vào thực tế nghiên cứu ngƣời làm nghề đóng tàu ở xã Nghi Thiết, luận
văn không chỉ làm rõ rằng cƣ dân đóng tàu không phải là một bộ phận dân cƣ
mờ nhạt ở ven biển mà họ đã hình thành nên một cộng đồng nghề nghiệp rõ
ràng, có đời sống kinh tế văn hóa mang dấu ấn của riêng họ, phân tích những
yếu tố ảnh hƣởng đến hoạt động đóng tàu, thuyền, sự thích nghi với môi
trƣờng cƣ trú của cƣ dân. Về mặt thực tiễn, luận văn chia sẻ mong muốn của
cƣ dân đóng tàu về những trăn trở, suy nghĩ của họ trong việc theo đuổi nghề
nghiệp và gìn giữ những giá trị văn hóa, lịch sử của địa phƣơng. Cuối cùng,
8


luận văn đề xuất một số kiến nghị để các cấp chính quyền có sự quan tâm, tạo

nhất về cộng đồng ngƣ dân ở nƣớc ta. Cuốn sách giới thiệu những nét khái
quát của cộng đồng ngƣ dân Việt Nam bao gồm quá trình hình thành các
nhóm ngƣ dân và sự hình thành cộng đồng ngƣ dân ở Việt Nam, cơ cấu tổ
chức xã hội của các cộng đồng nghề cá ở Việt Nam, đồng thời tác giả so sánh
với các làng xã nông nghiệp cổ truyền, ngoài ra tác giả còn đề cập đến đời
sống tín ngƣỡng trong cộng đồng ngƣ dân Việt Nam. Cuốn sách là một trong
những công trình đầu tiên nghiên cứu có hệ thống về địa bàn dân cƣ vùng
biển1. Cƣ dân đóng tàu thuyền đƣợc đề cập trong cuốn sách với vai trò là
những ngƣời tham gia hoạt động kinh tế phụ2, không có các giá trị văn hóa
đặc sắc [36]. Cuốn sách “Cư dân mặt nước ở sông Hương và đầm phá Tam
Giang- Cầu Hai, tỉnh Thừa Thiên Huế” của tác giả Lê Duy Đại, có sự nghiên
cứu một cách chi tiết về một cộng đồng dân cƣ sinh sống và mƣu sinh trên
mặt nƣớc. Cuốn sách tập trung trình bày chi tiết về đời sống kinh tế, đời sống
xã hội và đời sống văn hóa của cƣ dân mặt nƣớc, họ có một con thuyền vừa
làm chỗ ở vừa là phƣơng tiên mƣu sinh, cuộc sống lênh đênh trên mặt nƣớc.
Đây là công trình nghiên cứu có đầu tƣ công phu về một cộng đồng ngƣ dân
tại một địa bàn cụ thể, đi sâu vào những khía cạnh nhỏ nhất trong đời sống
1
2

Khác với các nghiên cứu dân tộc học trƣớc đó, tập trung chủ yếu vào cộng đồng dân cƣ ở khu vực miền núi.
Kinh tế chính là ngƣ nghiệp.

10


ngƣời dân [8]. Các cuốn sách trên đều đề cập đến cƣ dân ven biển từ nghiên
cứu mang tính tổng quát đến nghiên cứu một địa bàn cụ thể, tuy nhiên, ngƣ
dân là cƣ dân đƣợc tập trung tìm hiểu, ngƣời làm nghề đóng tàu chƣa đƣợc đề
cập đến trong các công trình này.

lieu mien
mien phi
phi

làng của thợ đóng tàu đƣợc đặt nằm trong cộng đồng làng của ngƣ dân [47].
Trong cuốn “Cộng đồng ngư dân ở Nam Bộ” của Trần Hồng Liên, ngoài việc
đề cập đến đối tƣợng chính là cộng đồng ngƣ dân, tác giả đã nhắc tới nhóm cƣ
dân đóng tàu thuyền, tuy nhiên họ đƣợc nêu ra với vị thế là những ngƣời tham
gia các hoạt động kinh tế phụ3 [22]. Các nghiên cứu về cƣ dân ven biển chỉ
tập trung vào ngƣ dân, chƣa có những trình bày về cộng đồng ngƣời làm nghề
đóng tàu, thuyền trong các đề tài này.
Trong lĩnh vực kinh tế học, cuốn sách “Đổi mới và phát triển kinh tế
ven biển” của Lê Cao Đoàn, đã đề cập đến các đặc điểm tự nhiên và tiềm
năng phát triển kinh tế xã hội vùng bồi tụ nƣớc lợ ven biển tỉnh Thái Bình.
Trong cuốn sách, tác giả đề cập đến nhiều ngành kinh tế ven biển nhƣ đánh
bắt và nuôi trồng thủy sản, nông nghiệp ven biển, nghề đóng và sửa chữa tàu
thuyền không đƣợc tác giả đề cập tới [9]. Luận án tiến sĩ “Giải pháp chính
sách phát triển kinh tế ven biển của tỉnh Thanh Hóa” của Lê Minh Thông, đề
cập đến nhiều ngành nghề kinh tế ven biển trong đó nghề đóng và sửa chữa
tàu biển đƣợc xếp vào nhóm các hoạt động kinh tế trực tiếp liên quan đến khai
thác và sử dụng tài nguyên biển [42]. Ở cách tiếp cận kinh tế học, khi nghiên
cứu về cộng đồng ven biển, các tác giả tập trung chủ yếu vào ngành kinh tế
chính là đánh bắt và nuôi trồng thủy sản, đóng tàu thuyền là một hoạt động
kinh tế phụ bổ trợ cho nghề đi biển của ngƣ dân.
Khóa luận tốt nghiệp đại học “Bảo tồn và phát triển làng nghề đóng
tàu, thuyền làng Cống Mương (khu 8, phường Long Hải, đảo Hà Nam, thị xã
Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh)” của Khiếu Thị Mai Lan, đã khảo sát nghề
đóng tàu thuyền ở khía cạnh làng nghề. Tác giả khóa luận tập trung trình bày
về hoạt động đóng tàu thuyền từ truyền thống đến biến đổi và đặt ra vấn đề
bảo tồn làng nghề nhƣ thế nào [20]? Ngoài ra, còn rất nhiều bài báo, bài viết

trong các bối cảnh khác nhau. Theo quan điểm của khung sinh kế bền vững
do bộ phát triển quốc tế Anh (Department for International Development –
DFID), khung phân tích này đề cập đến các yếu tố và thành tố hợp thành sinh
kế: các ƣu tiên mà con ngƣời có thể nhận biết đƣợc; các chiến lƣợc mà họ lựa
13


Ket-noi.com
Ket-noi.com kho
kho tai
tai lieu
lieu mien
mien phi
phi

chọn để theo đuổi các ƣu tiên đó; các thể chế, chính sách và tổ chức quyết
định đế n sự tiếp cận của họ đối với các loại tài sản hay cơ hội và các kết quả
mà họ thu đƣợc; các ti ếp cận của họ đối với năm loại vốn và khả năng sử
dụng hiệu quả các loại vốn mình có; bối cảnh sống của con ngƣời , bao gồm
các xu hƣớng kinh tế, công nghệ, dân số, các cú sốc và mùa vụ. Năm loại vốn
kể trên bao gồm vốn vật chất, vốn tài chính, vốn xã hội, vốn con ngƣời và vốn
tự nhiên. Vốn vật chất bao gồm cơ sở hạ tầng và các loại hàng hóa mà ngƣời
sản xuất cần để hậu thuẫn sinh kế. Vốn tài chính ngụ ý về các nguồn lực tài
chính mà con ngƣời sử dụng để đạt đƣợc các mục tiêu sinh kế của mình. Vốn
xã hội là các nguồn lực xã hội mà con ngƣời sử dụng để theo đuổi các mục
tiêu sinh kế của mình, bao gồm quan hệ, mạng lƣới, thành viên nhóm, niềm
tin sự phụ thuộc lẫn nhau và trao đổi cung cấp các mạng an ninh phi chính
thống quan trọng. Vốn con ngƣời là những kỹ năng, trí thức, khả năng làm
việc và sức khỏe tốt, tất cả cộng lại tạo thành những điều kiện giúp con ngƣời
theo đuổi các chiến lƣợc sinh kế khác nhau và đạt đƣợc mục tiêu sinh kế. Vốn

đánh bắt, nuôi trồng, du lịch, đa dạng hóa các loại hình sinh kế,…) nhằm đạt
đƣợc các kết quả sinh kế bền vững (nhƣ tạo thêm việc làm, tăng thu nhập,
giảm rủi ro và khản năng bị tổn thƣơng, cải thiện an ninh lƣơng thực, sử dụng
bền vững hơn các nguồn tài nguyên…) dƣới sự tác động của bối cảnh bên
ngoài (các cú sốc, các xu hƣớng và tính mùa vụ) [44, tr.28].
Với cơ sở lý luận trên của lý thuyết về sinh kế, luận văn vận dụng lý
thuyết nhằm tìm hiểu về:
- Cƣ trú ven biển tạo ra nhiều điều kiện thuận lợi cho ngƣời dân trong
việc lựa chọn nghề nghiệp và đa dạng hóa các hoạt động sinh kế của mình.
Đóng và sửa chữa tàu thuyền không phải là nghề có nhiều dân cƣ ven biển lựa
chọn làm sinh kế. Lựa chọn nghề đóng và sửa chữa tàu thuyền làm sinh kế là
một tính toán nhằm mục đích kinh tế hay vì đó là nghề do cha ông truyền lại.
15


Ket-noi.com
Ket-noi.com kho
kho tai
tai lieu
lieu mien
mien phi
phi

- Nguồn tiêu thụ các sản phẩm của nghề rất hạn chế bởi trong cộng
đồng không phải gia đình nào cũng sắm đƣợc tàu, thuyền đi biển, hơn nữa
một chiếc tàu, thuyền có thể sử dụng đƣợc rất lâu. Để các sản phẩm đƣợc tiêu
thụ cần có một thị trƣờng rất rộng. Việc duy trì đƣợc nghề do cha ông truyền
lại bên cạnh kỹ thuật làm nghề còn phải tìm thị trƣờng cho sản phẩm. Quan hệ
giữa ngƣời khách hàng và ngƣời sản xuất chính là một cơ hội để ngƣời làm
nghề tìm lối ra cho sản phẩm hay dựa vào chất lƣợng của sản phẩm làm ra là

tƣơng ứng với những môi trƣờng nhất định nhƣ sinh thái biển đảo, sinh thái
đồng bằng châu thổ, sinh thái thung lũng, sinh thái cao nguyên... Việt Nam có
rất nhiều loại hình sinh thái tự nhiên tƣơng ứng với vùng cƣ trú của các tộc
ngƣời. Những tộc ngƣời sinh sống lâu đời tại một môi trƣờng sinh thái nào thì
nhất định họ sẽ trải nghiệm, thích nghi, sáng tạo, hình thành những kỹ năng
sinh sống và thể hiện sắc thái tâm lý cũng nhƣ những dạng thức văn hóa phù
hợp với môi trƣờng sinh thái ấy, đó là sinh thái văn hóa tộc ngƣời. Các cƣ
dân, đó chính là chủ nhân văn hóa (culture bearer).
Trong quá trình sinh tồn của mình, con ngƣời phụ thuộc rất nhiều vào
tự nhiên. Từ những thành tựu văn hóa có đƣợc qua sự thích nghi môi trƣờng
sinh thái tại chỗ, con ngƣời có thể hình thành nên những loại hình văn hóa
nhƣ là một tập hợp những sắc thái văn hóa đặc trƣng và tạo nên yếu tố cốt lõi
của nền văn hóa. Ngoài ra, cũng trong chính sự thích nghi với môi trƣờng
sinh thái, con ngƣời đã hình thành nên những phƣơng thức sinh hoạt kinh tế,
những tín ngƣỡng tôn giáo..., bởi vì bất kỳ ở đâu, trong việc hình thành làng
xóm, xây dựng nhà ở, cách ăn, mặc, các phƣơng tiện tiện di chuyển, công cụ
sản xuất, tín ngƣỡng tôn giáo, văn học nghệ thuật... ngƣời dân tại chỗ đều
thích nghi với điều kiện thiên nhiên và môi trƣờng sinh thái tại nơi sinh sống
để họ có thể tồn tại và phát triển. Qua nghiên cứu sinh thái văn hóa, ngƣời học
sẽ hiểu đƣợc cách ngƣời Việt hay các dân tộc khác sống tại Việt Nam sử dụng
17


Ket-noi.com
Ket-noi.com kho
kho tai
tai lieu
lieu mien
mien phi
phi


thiết chế xã hội và đƣợc điều chỉnh bằng các quy định của phong tục, lệ tục.
Các đặc điểm kinh tế- xã hội của cƣ dân đóng tàu thuyền đƣợc hình thành các
hình thái tín ngƣỡng, các sinh hoạt văn hóa và đƣợc trao truyền cho các thế hệ
sau, thông qua gia đình, dòng họ, làng và các quy định của phong tục, lệ tục…
Các đặc điểm về kinh tế, xã hội, văn hóa đó mang tính ổn định cao song cũng
dễ thay đổi khi môi trƣờng sống thay đổi.
1.3. Phƣơng pháp nghiên cứu
Đối với một nghiên cứu nhân học, điền dã dân tộc học là công việc
không thể thiếu. Vì thế, để tiến hành nghiên cứu này, tác giả đã dành thời gian
làm việc trên thực địa là ba tháng, từ tháng 1 năm 2015 đến tháng 4 năm
2015. Tác giả chọn thời gian với mục đích lựa thời điểm giữa hai năm âm lịch
(cuối năm cũ, đầu năm mới)4. Đây là thời điểm cƣ dân đóng tàu thuyền có
nhiều hoạt động kinh tế, văn hóa và xã hội đƣợc tổ chức, đặc biệt là các hoạt
động văn hóa. Hiện nay tại địa bàn nghiên cứu có 13 xƣởng đóng tàu thuyền
có quy mô lớn nhỏ khác nhau, mỗi xƣởng thuộc quyền sở hữu của một gia
đình. Trong xƣởng gồm hai bộ phận là chủ xƣởng và ngƣời làm thuê. Cả hai
bộ phận dù là ngƣời lao động hay là ngƣời sử dụng lao động, sinh kế chính
của họ là nghề đóng tàu thuyền, vì vậy, cả chủ và thợ đều là đối tƣợng nghiên
cứu của đề tài này. Tác giả áp dụng các phƣơng pháp vào đối tƣợng nghiên
cứu nhƣ sau:
Quan sát tham dự đƣợc tiến hành tại xƣởng đóng tàu. Tác giả tham gia
vào đời sống sinh hoạt của các gia đình chủ xƣởng và tham gia vào công việc
sản xuất hàng ngày của xƣởng. Quá trình quan sát chú trọng tới cách tổ chức
sắp xếp sinh hoạt trong gia đình ông chủ, các hình thức tín ngƣỡng, kiêng kỵ,
cách giao tiếp với khách hàng và ngƣời làm thuê, đặc biệt là quy trình đóng

4

cuối năm Giáp Ngọ và đầu năm Ất Mùi

thuê ở các xƣởng đóng tàu và khách hàng các xƣởng đóng tàu (chính là ngƣ
dân). Ngƣời thợ làm thuê ở xƣởng đóng tàu và khách hàng có tác động đến sự
duy trì của nghề tại địa phƣơng. Nhằm mục đích tìm hiểu suy nghĩ của ngƣời
thợ làm thuê khi chọn nghề đóng tàu làm sinh kế, những quy tắc nghề nghiệp
mà họ phải tuân thủ và có sự khác biệt nào so với ngƣời làm chủ, đánh giá của
họ về tình hình phát triển và triển vọng của nghề, dự định của họ đối với nghề
nghiệp trong tƣơng lai. Tác giả tiến hành 30 cuộc phỏng vấn với độ tuổi và
trình độ tay nghề khác nhau bao gồm cả nam giới và phụ nữ. Các cuộc phỏng
vấn đƣợc tiến hành tại xƣởng đóng tàu, tranh thủ thời gian nghỉ của thợ, tác
20


giả thực hiện phỏng vấn. Tác giả còn áp dụng phƣơng pháp phƣớng vấn cấu
trúc với khách hàng của các xƣởng đóng tàu. Ngƣời nghiên cứu khai thác các
thông tin về hiểu biết của họ về cộng đồng cƣ dân đóng tàu thuyền, đánh giá
của họ về các sản phẩm, mối quan hệ giữa ngƣời bán hàng và khách hàng
đƣợc duy trì nhƣ thế nào. Tuy nhiên đối tƣợng phỏng vấn này, một số ngƣời
có sản phẩm đang sản xuất tại xƣởng, có thể tiến hành phỏng vấn trực tiếp,
một số ngƣời đã trở về địa phƣơng làm nghề, tác giả phỏng vấn gián tiếp bằng
email5. Tác giả thực hiện 20 cuộc phỏng vấn.
Tác giả tiến hành 6 cuộc phỏng vấn nhóm dành cho ba lứa tuổi trên 50
tuổi, từ 35 đến 50 tuổi và dƣới 35 tuổi, mỗi lứa tuổi chia làm hai nhóm: nhóm
nam và nhóm nữ. Phỏng vấn nhóm tập trung về chủ đề chính là động lực nào
giúp nghề đóng tàu thuyền ở địa phƣơng còn đƣợc duy trì đến ngày nay, hiện
trạng phát triển của nghề đóng tàu hiện nay, triển vọng của nghề này, các
chính sách của nhà nƣớc có đáp ứng đƣợc nhu cầu của cƣ dân làm nghề và
mong muốn của họ về nghề này.
1.4. Khái quát địa bàn nghiên cứu
1.4.1. Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên
Xã Nghi Thiết ở về phía Đông Bắc huyện Nghi Lộc bên bờ Bắc sông

về hai phía Bắc và Nam. Địa hình đồi núi, gò bãi khúc khuỷu không thuận lợi
cho việc phát triển nông nghiệp [16, tr.5].
Địa bàn xã có nhiều tài nguyên thiên nhiên nhƣ cát xây, đá xây,
khoáng sản, động, thực vật, đặc biệt có nhiều thủy hải sản. Đất có ba loại chủ
yếu là đất đồi núi, đất vùng trũng và đất cát ở gò bãi ven sông, biển. Đất đồi
núi chiếm 50% diện tích, trong đó có những vùng ven núi và đồi gò đƣợc
nhân dân khai thác cải tạo thành địa bàn cƣ trú. Đất ở hai thung lũng Đông
Vang và Đông Ngàn rộng trên 600 ha. Đây là vùng đất trũng, xƣa kia Đông
Ngàn bị ngập mặn, quá trình biến cải lâu dài của tự nhiên cùng với sự khai
khẩn lao động, cải tạo của con ngƣời mà thành đất trồng trọt, đất còn có phù
sa và núi đồi bồi đắp nên đã trở thành vùng đất màu mỡ có thu hoạch khá tốt.
Đất cát chiếm một diện tích lớn ven sông, ven biển, thích hợp với các loại cây
rừng phòng hộ nhƣ phi lau, keo lá tràm và cây ngập mặn nhƣ sác, sú, vẹt,
đƣợc,… [16, tr. 6 - 7].
Nguồn nƣớc ở đây nhiều nhất là nƣớc mặn, nƣớc ngọt phụ thuộc vào
tự nhiên, nguồn nƣớc ngầm đƣợc khai thác qua các giếng đào, chất lƣợng
nƣớc tốt song thƣờng bị khan hiếm vào mùa hè. Do độ che phủ trên các núi
đồi ngày nay mất mát nhiều, các rừng cây bị chặt phá làm cho nƣớc trong
lòng núi, lòng đất giảm sút rất nhiều. Đặc biệt, tại địa bàn xã có mạch ngầm
giếng thủy tiên từ núi Rồng chảy từ xƣa đến nay không cạn, đó là mạch nƣớc
khoáng thiên nhiên đƣợc sử dụng làm nƣớc giải khát và chữa bệnh.

22


Rừng tự nhiên trƣớc đây gồm các dải rừng đại ngàn trên các đỉnh đồi
phía Bắc và phía Nam xã với nhiều loại gỗ và chim thú quý hiếm nhƣ cò, vạc,
le le, vịt, sa sá… Các vùng đất ngập mặn trƣớc đây ở phía đông và nam xã các
loài cây chịu mặn nhƣ sác, sú, vẹt mọc thành rừng, tạo thành môi trƣờng sinh
thái cho nhiều loại thủy hải sản, cua ốc và các loài chim, thú phát triển.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status