Tình yêu đôi lứa trong tơ dân tộc thiểu số việt nam hiện đại (qua thơ y phương và lò ngân sủn) - Pdf 58

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

NGUYỄN THỊ HIÊN

TÌNH YÊU ĐÔI LỨA TRONG THƠ DÂN TỘC
THIỂU SỐ VIỆT NAM HIỆN ĐẠI
(QUA THƠ Y PHƯƠNG VÀ LÒ NGÂN SỦN)

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ,
VĂN HỌC VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM

THÁI NGUYÊN - 2019


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

NGUYỄN THỊ HIÊN

TÌNH YÊU ĐÔI LỨATRONG THƠ DÂN TỘC
THIỂU SỐ VIỆT NAM HIỆN ĐẠI
(QUA THƠ Y PHƯƠNG VÀ LÒ NGÂN SỦN)
Ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 8 22 01 21

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ,
VĂN HỌC VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. CAO THỊ HẢO


NGUYỄN THỊ HIÊN

ii


MỤC LỤC
Lời cam đoan ....................................................................................................................

i

Lời cảm ơn........................................................................................................................

ii

Mục lục .............................................................................................................................

iii

MỞ ĐẦU..........................................................................................................................

1

1. Lý do chọn đề tài ..........................................................................................................

1

2. Lịch sử vấn đề...............................................................................................................

3


1.1. Khái quát về tình yêu đôi lứa trong thơ dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại ............

13

1.1.1. Khái niệm về thơ tình yêu.......................................................................................

13

1.1.2. Thơ viết về tình yêu đôi lứa của các nhà thơ dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại .

16

1.2. Hành trình thơ của Y Phương và Lò Ngân Sủn.........................................................

30

1.2.1. Nhà thơ Y Phương với bản sắc văn hóa Tày ..........................................................

30

1.2.2. Nhà thơ Lò Ngân Sủn với bản sắc văn hóa Giáy....................................................

36

Chương 2: NHỮNG BIỂU HIỆN CỦA TÌNH YÊU ĐÔI LỨA TRONG THƠ
CỦA Y PHƯƠNG VÀ LÒ NGÂN SỦN........................................................................

43

2.1. Tình yêu say đắm, nồng nàn, mãnh liệt và nỗi nhớ thương da diết.......................


2.4.1. Những dự cảm cô đơn khắc khoải ..........................................................................

56

iii


2.4.2. Những buồn đau xót xa trong tình yêu ...................................................................

59

2.5. Tình yêu giàu yếu tố phồn thực ...............................................................................

64

Chương 3: MỘT SỐ PHƯƠNG DIỆN NGHỆ THUẬT THỂ HIỆN TÌNH YÊU
ĐÔI LỨA TRONG THƠ Y PHƯƠNG VÀ LÒ NGÂN SỦN .....................................

70

3.1. Thể thơ ......................................................................................................................

70

3.1.1. Thơ tự do không cố định về số câu số chữ .............................................................

70

3.1.2. Thơ tự do không cố định về số lượng câu nhưng lại cố định về số lượng chữ.......


3.3.3. Giọng điệu xót xa, day dứt, trăn trở........................................................................

91

3.3.4. Giọng điệu trầm tư, ngậm ngùi, triết lý .................................................................

94

KẾT LUẬN .....................................................................................................................

97

TÀI LIỆU THAM KHẢO..............................................................................................

99

iv


MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài


1.1. Tình yêu từ lâu đã trở thành khởi nguồn của sự sống, đặc biệt tình yêu đôi
lứa luôn là bản tình ca muôn điệu với những nốt nhạc vang lên du dương xao xuyến
lòng người. Nhờ có tình yêu, cuộc đời con người được nuôi dưỡng thêm nồng nàn,
cuộc sống thêm xuân sắc. Vì thế, tình yêu là bản nhạc làm muôn triệu trái tim con
người say đắm. Nó là sức mạnh vô hình cứu rỗi cả thế gian, là khu vườn đầy hương
sắc ngọt ngào của cuộc đời. Chính vì vậy, tình yêu là đề tài bất tận, vĩnh cửu trong thi

Trong số đó, chúng ta phải kể đến hai cây bút viết về đề tài tình yêu mang những nét
đặc sắc riêng đó là Y Phương và Lò Ngân Sủn.
1.3. Thơ tình của Y Phương và Lò Ngân Sủn, như những nhành hoa dại nhưng
ngát hương thơm của núi rừng. Thơ tình của họ, thể hiện rõ bản sắc văn hóa độc đáo
cũng như tâm hồn của người miền núi. Ta có thể tìm thấy trong tiếng thơ đó bản thể
tình yêu của chính mình. Trái tim yêu tồn tại muôn màu, khi thì mãnh liệt dạt dào đến
cuồng nhiệt, khi lại sống hết mình cho tình yêu dâng hiến đến cháy bỏng đắm say đến
tận cùng, khi thì trầm lắng, cô đơn lo âu khắc khoải, khiến trái tim ta trở về với miền
thương nhớ với những nhịp đập khắc khoải của con tim. Thơ tình yêu của họ gắn với
vẻ phồn thực khỏe khoắn nhưng cũng ngọt ngào, quyến rũ, lãng mạn đến vô ngần.
Thơ tình yêu của Y Phương và Lò Ngân Sủn đã có sự đóng góp nhất định vào mảng
thơ tình của đời sống thơ ca dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại. Tiếng thơ tình yêu
của họ góp phần làm đa dạng, phong phú cho thơ tình hiện đại Việt Nam. Đặc biệt,
họ thể hiện tâm hồn, cách cảm, cách nghĩ của người miền núi. Với trái tim yêu
thương mãnh liệt, hai nhà thơ đem đến cho dòng thơ tình Việt Nam một màu sắc lạ,
tiếng nói mới, đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc. Hai nhà thơ đại diện cho hai dân tộc
khác nhau nhưng khi viết về đề tài tình yêu giữa họ đều có sự đồng điệu, và những
điểm riêng thể hiện phong cách riêng của mỗi nhà thơ. Qua đó, chúng ta khẳng định
được vai trò, vị trí của họ trong dòng chảy văn học dân tộc thiểu số Việt Nam hiện
đại. Tiếng thơ tình yêu của hai nhà thơ góp phần tạo ra những giá trị vô cùng to lớn
đặc sắc về nội dung cũng như nghệ thuật, mang dấu ấn riêng đậm đà bản sắc dân tộc,
đại diện cho thơ tình dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại.
1.4. Khi nghiên cứu sự nghiệp sáng tác của hai nhà thơ, chúng tôi đã lựa chọn
mảng thơ viết về đề tài tình yêu đôi lứa, nhằm tôn vinh giá trị đóng góp của hai nhà
thơ vào dòng thơ tình của đời sống thơ ca dân tộc thiểu số. Vì thế, chúng tôi chọn đề
tài này, mong muốn tìm hiểu về tình yêu đôi lứa trong thơ dân tộc thiểu số Việt Nam

2




3


truyền thống và hiện đại (2014) của TS Nguyễn Kiến Thọ; Những người tự đục đá
kê cao quê hương (2015) của tác giả Lê Thị Bích Hồng. Gần đây, tên tuổi Y Phương
xuất hiện trong các công trình nghiên cứu khá quy mô dày dặn hàng nghìn trang đó là
cuốn: Văn học dân tộc thiểu số Việt Nam - truyền thống và hiện đại (2015) của hai
tác giả Trần Thị Việt Trung và Nguyễn Đức Hạnh (Đồng chủ biên). Trong các cuốn
sách phê bình này, Y Phương đều được nhắc đến như một đại diện tiêu biểu cho thơ
Tày. Thơ ông trở thành đề tài nghiên cứu của nhiều luận án Tiến sĩ, luận văn Thạc sĩ
Ngữ văn như: Bản sắc Tày trong thơ Y Phương và DươngThuấn của học viên
Nguyễn Thị Thu Huyền, (Đại học Thái Nguyên, 2009); Sùng Thị Hương (Đại học
Thái Nguyên) với đề tài Đặc sắc tản văn Y Phương (2013); Luận văn thạc sĩ của
học viên Hoàng Thị Huệ Dinh với đề tài Thơ song ngữ Y Phương (2016). Tên tuổi
và sự nghiệp của ông cũng trở thành một phần nội dung trong Luận án Tiến sĩ của các
nghiên cứu sinh Đỗ Thị Thu Huyền (Viện văn học); Hà Anh Tuấn (Đại học Thái
Nguyên). Thơ Y Phương cũng nhận được rất nhiều sự quan tâm của nhiều độc giả,
nhà văn, nhà thơ, nhà nghiên cứu phê bình văn học như: Tế Hanh, Phạm Hổ, Chu
Văn Sơn, Nguyễn Hữu Tiến, Trúc Thông, Hồng Diệu, Tạ Duy Anh, Đỗ Trung Lai,
Bế Kiến Quốc, Nguyễn Trọng Hoàn, Vũ Quần Phương, Nguyễn Đức Hạnh, Lê Thị
Bích Hồng.... Nhà nghiên cứu lý luận phê bình Nguyễn Đức Hạnh đã nhận xét về thơ
Y Phương: “Thơ Y Phương giản dị như suối nguồn trong và sâu, nhìn xuống đáy thi
thoảng gặp những hạt vàng lấp lánh - đó là biểu tượng độc đáo có tính mơ hồ đa
nghĩa. Người tri ân gọi đó là vàng mười. Người vô tình gọi đó là hạt cát. Nhưng
chính biểu tượng ấy là minh chứng cho tính hiện đại và cá tính sáng tạo, độc đáo của
nhà thơ, bên cạnh tính truyền thống biểu hiện trong đề tài quen thuộc, trong hệ thống
thi ảnh đậm sắc thái văn hóa miền núi nói chung, văn hóa tày nói riêng”[39; tr.259].
Trong tất cả những bài viết, các tác giả đều đánh giá rất cao tài năng của Y Phương.
Họ thể hiện sự ngưỡng mộ, đồng cảm, với những vần thơ viết về tình yêu quê hương,

Xuyên suốt toàn bộ sáng tác của Y Phương và Lò Ngân Sủn, chúng tôi thấy thơ tình
yêu của hai nhà thơ chưa được nghiên cứu kết hợp, cụ thể, hệ thống. Những ý kiến
đánh giá của những tác giả đi trước, là tiền đề gợi ý vô cùng quý báu cho việc triển
khai hướng nghiên cứu đề tài của chúng tôi. Thơ tình yêu đôi lứa là mảng sáng tác
thành công, quan trọng, đặc sắc trong sự nghiệp sáng tác của Y Phương. Thơ tình yêu
của ông rải rác ở một vài tập thơ, có khi ở câu thơ, có khi ở bài thơ, nhưng tập trung
nhiều nhất trọn vẹn trong tập thơ song ngữ Vũ khúc Tày. Tập thơ thể hiện tình yêu
bằng ngôn ngữ dân tộc, bằng cách cảm cách nghĩ của người dân tộc. Vì vậy, chúng

5


tôi đã lựa chọn đề tài tình yêu đôi lứa trong thơ Y Phương cùng và Lò Ngân Sủn
trong dòng chảy thơ tình của các dân tộc thiểu số Việt Nam làm đề tài nghiên cứu, từ
đó, khẳng định những giá trị đặc sắc về mặt nội dung và nghệ thuật trong thơ tình của
Y Phương và Lò Ngân Sủn. Đề tài góp phần vào việc bảo tồn giá trị văn học dân tộc
thiểu số trong tiến trình phát triển văn học nước nhà.
2.2. Cũng như Y Phương, Lò Ngân Sủn đã để lại sự nghiệp sáng tác thơ văn
phong phú và đồ sộ về khối lượng. Thơ ông mang một vẻ đẹp núi rừng hoang sơ, mây
ngàn gió núi vùng cao Bát Xát, Lào Cai. Trong bài viết Mỗi bài thơ là một kỷ niệm
ông đã trải lòng mình “Ước mơ của tôi là sao có được những bài thơ thật đẹp, thật
hay, có sức lay động sâu sa và âm vang sống động trong lòng người đọc(.....) Nhưng
tôi lại đang say sưa như điếu đổ nên tôi sẽ còn làm thơ. Tôi thở bằng thơ của tôi, tôi
thở bằng thơ của mọi người, tôi thở bằng hơi thở của cuộc sống Tôi làm việc bằng
cái đầu, sống bằng thơ và bay lên bằng niềm mơ ước”. Lò Ngân Sủn cũng đưa ra
quan niệm sáng tác của mình: “Không sống chết với thơ, thì thử hỏi làm sao có thơ
hay cho được. Cho nên tôi cứ ngĩ: Nếu còn có người dám sống chết với thơ, tâm
huyết với người, với đời thì sẽ có thơ hay, thơ để đời”[19; tr.504]. Vì thế trong suốt
cuộc đời cầm bút của mình, Lò Ngân Sủn đã sáng tác với bầu nhiệt huyết tuôn trào,
như con ong chăm chỉ cần mẫn dâng cho đời mật ngọt. Ông đã để lại cho đời 14 tập

nhấn, có trầm bổng của then làng....”[19; tr.439-440]. Mỗi một bài thơ của Lò Ngân
Sủn là một kỷ niệm, là cả một ân tình, cả một tình yêu thương vô bờ bến mà cả cuộc
đời cầm bút ông đã dành cho quê hương làng bản của mình. Ẩn chứa trong mỗi bài
thơ câu thơ, ý thơ là tình yêu quê hương nồng nàn tha thiết sâu đậm. Hình ảnh con
người, làng bản, quê hương, đất nước, văn hóa đều được ông chắt chiu thể hiện trong
thơ với vẻ đẹp tự nhiên, đậm đà bản sắc dân tộc.
Trong các mảng sáng tác thơ của Lò Ngân Sủn, thơ viết về tình yêu đôi lứa có lẽ
là đặc sắc nhất. Tình yêu trong thơ ông chứa đựng sự chân thành, mộc mạc, giản dị
nhưng vô cùng cuồng nhiệt, táo bạo, thể hiện cách cảm, cách nghĩ, cách tư duy của
người dân tộc. Thơ tình của ông mang màu sắc riêng, đậm chất núi rừng. Thơ tình
yêu của ông đã đọng lại trong lòng nhiều độc giả, nhà văn, nhà thơ, nhà lí luận phê
bình. Họ đã dành cho thơ tình yêu của ông những tình cảm yêu mến và quan tâm sâu
sắc. Trong bài viết Người con của núi tác giả Hoàng Quảng Uyên đã nhận xét: “Cái
thật trong thơ Lò Ngân Sủn là cái thật hoang sơ, anh không ngần ngại ví mình là con
hổ, con gấu, có trái tim người: Yêu đắm say, yêu đến tận cùng, cách nói về tình yêu
của anh cũng rất riêng, nếu nói về bản sắc thơ anh, tốt nhất để anh tự bạch...Trong

7


một cuộc vui, tôi bảo: Tình yêu trong thơ ông cứ phải là thứ ăn được, uống được! Lò
Ngân Sủn gật gù”[19; tr.429]. Khi đọc tập thơ Lều nương của Lò Ngân Sủn, trong
bài viết Thơ tình của Lò Ngân Sủn tác giả Đỗ Đức đã nhận xét: “Cả tập thơ...chứa
đậm nỗi nuối tiếc, nỗi khát tình yêu hoang dã. Cái tình ngọt ngào như mật chứa trong
cây, như sắc long lanh của giọt sương ban mai, như nét tinh vi trong màu thổ cẩm,
như mùi ngầy ngậy của thắng cố, như vị thơm ngon thanh tao của bắp ngô non, cái
huyền ảo của cỏ cây và sương khói...”[19; tr.447]. Trong cuốn sách Nghiên cứu, phê
bình về văn học dân tộc thiểu số của nhà lí luận nghiên cứu phê bình Trần Thị Việt
Trung, tác giả đã nhận định: “Đọc thơ tình yêu của Lò Ngân Sủn, như đang được
chiêm ngưỡng, được chứng kiến “Bữa tiệc tình yêu” linh đình, phong phú và tươi

năng và nghiệp viết của nhà thơ dân tộc thiểu số Lò Ngân Sủn qua tập thơ Người trên
đá. Bài viết không đi sâu vào khái niệm phong cách, nhưng tác giả đã phân tích một
số ví dụ tiêu biểu để người đọc nhận ra biểu hiện và nét đẹp trong phong cách thơ Lò
Ngân Sủn. Trong cuốn Nhà văn dân tộc thiểu số đời và văn Nxb văn hóa dân tộc, Hà
Nội (2003), các tác giả trong hội văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam có
giới thiệu về quá trình công tác, các tác phẩm và các giải thưởng của Lò Ngân Sủn
kèm theo bài viết Khi kẽ tay người nở hoa của Trần Mạnh Hảo. Trong bài viết này
lấy cảm hứng từ bài thơ “Người đẹp” bài thơ “Nàng” và một số bài thơ khác. Trần
Mạnh Hảo đã đánh giá như sau: “Có lẽ trong thi ca sở trường của Lò Ngân Sủn là thơ
tình, thường là bài thơ ngắn và có tứ, lại khá hiện đại trong lối viết, không câu vần
vèo bằng trắc”[19; tr.418]. Trong cuốn Bản sắc dân tộc trong thơ các dân tộc thiểu
số Việt Nam hiện đại khu vực phía Bắc Việt Nam, Nxb ĐH Thái Nguyên (2005),
các tác giả có viết về Lò Ngân Sủn, những trang viết đó đã chỉ ra vẻ đẹp ngôn ngữ
giàu chất tạo hình trong việc miêu tả thiên nhiên con người miền núi trong sáng tác
của Lò Ngân Sủn. Đây cũng chính là những nét đặc sắc trong tiếng thơ, nghệ thuật
thơ của hai nhà thơ miền núi này. Trong cuốn Văn học dân tộc thiểu số Việt Nam
thời kì hiện đại - Một số đặc điểm (2011) do Trần Thị Việt Trung và Cao Thị Hảo
Đồng chủ biên, các tác giả đã có những nhận xét đánh giá mang tính định hướng về
nội dung, hình ảnh, các biện pháp tu từ của các nhà thơ dân tộc thiểu số trong đó có
Lò Ngân Sủn. Trong cuốn Nghiên cứu phê bình về văn học (Nxb ĐH Thái Nguyên,
2016), PGS.TS Trần Thị Việt Trung đã dành hơn mười trang nói về Bữa tiệc tình yêu
trong thơ Lò Ngân Sủn, từ đó khẳng định thế mạnh, sức hấp dẫn cuốn hút trong thơ
tình Lò Ngân Sủn khi viết về tình yêu. Đây cũng là những gợi ý quý báu cho việc

9


triển khai hướng nghiên cứu của chúng tôi để làm sáng tỏ hơn nữa nét đặc sắc trong
thơ tình yêu của Lò Ngân Sủn.
Qua những ý kiến nhận xét đánh giá của các tác giả cũng như các bài viết


3.2. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là: Một số tập thơ viết về tình yêu của các nhà
thơ dân tộc thiểu số cùng với toàn bộ các tập thơ tình yêu của hai nhà thơ Y Phương
và Lò Ngân Sủn. Ngoài ra, chúng tôi cũng tham khảo thơ viết về tình yêu đôi lứa
của một số nhà thơ Việt Nam hiện đại khác để đối chiếu so sánh.
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu về tình yêu đôi lứa trong thơ các nhà thơ dân tộc thiểu số, và thơ
tình yêu của Y Phương và Lò Ngân Sủn chúng tôi nhằm mục đích làm sáng tỏ hơn
những nét đặc sắc về nội dung, nghệ thuật trong sáng tác thơ tình của hai nhà thơ
miền núi. Từ đó, chúng ta có cái nhìn đầy đủ và toàn diện hơn về những đóng góp
của hai nhà thơ cho mảng thơ tình các dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại.
Qua việc nghiên cứu, đề tài góp phần thể hiện nét đẹp trong đời sống tâm hồn,
tình cảm của con người miền núi, khẳng định những đóng góp quan trọng của hai nhà
thơ trong quá trình phát triển thơ ca dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại, nhất là sự
đóng góp trong mảng thơ tình yêu, góp phần tạo nên sự phong phú trong dòng chảy
thơ tình Việt Nam hiện đại.
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Luận văn hướng đến giải quyết những nhiệm vụ cơ bản sau:
Luận văn khảo sát đặc điểm chung của thơ tình yêu dân tộc thiểu số Việt Nam
hiện đại nói chung và vị trí của hai nhà thơ Y Phương và Lò Ngân Sủn trong dòng
chảy thơ tình dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại.
Chỉ ra được những đặc điểm nổi bật về nội dung trong thơ tình yêu của Y
Phương và Lò Ngân Sủn.
Làm rõ những phương diện nghệ thuật như thể thơ, ngôn ngữ, giọng điệu trong
thơ viết về tình yêu của hai nhà thơ Y Phương và Lò Ngân Sủn.
5. Phương pháp nghiên cứu
Trong đề tài này chúng tôi sử dụng các phương pháp sau đây:
Phương pháp khảo sát, thống kê, phân loại để tập hợp những sáng tác thơ viết về


12


NỘI DUNG
CHƯƠNG 1
KHÁI QUÁT VỀ TÌNH YÊU ĐÔI LỨA
TRONG THƠ DÂN TỘC THIỂU SỐ VIỆT NAM HIỆN ĐẠI
VÀ HÀNH TRÌNH THƠ CỦA Y PHƯƠNG VÀ LÒ NGÂN SỦN
1.1. Khái quát về tình yêu đôi lứa, trong thơ dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại
1.1.1. Khái niệm về thơ tình yêu
1.1.1.1 Khái niệm về thơ
Thơ là thế giới tâm hồn đầy tình cảm của loài người, đã có nhiều định nghĩa
khác nhau về thơ. Theo nhóm tác giả Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi
trong cuốn Từ điển thuật ngữ văn học: “Thơ là hình thức sáng tác văn học phản ánh
cuộc sống thể hiện tâm trạng những cảm xúc mạnh mẽ bằng ngôn ngữ hàm súc giàu
hình ảnh và nhất là có nhịp điệu.”[12; tr.309]. Định nghĩa đã đưa ra khái niệm về thơ
một cách đầy đủ cả về mặt nội dung và hình thức nghệ thuật. Định nghĩa đã giúp
chúng ta phân biệt được ngôn ngữ thơ với ngôn ngữ của các thể loại văn học khác
như văn xuôi, kịch. Ngôn ngữ thơ là ngôn ngữ hàm xúc, biểu cảm và có tính nhạc.
Điều này đã được thể hiện rõ trong các bài thơ như: Chân quê, Mưa xuân, Tương
tư, Cô hàng xóm...của Nguyễn Bính, Sóng, Thư tình cuối mùa thu, Hoa cỏ may của
Xuân Quỳnh...
Bàn về thơ Sóng Hồng có viết “Thơ là một hình thức nghệ thuật cao quý tinh vi,
người làm thơ phải có tình cảm mãnh liệt thể hiện sự nồng cháy trong lòng, nhưng
thơ là tình cảm lí trí kết hợp một cách nhuần nhuyễn và có nghệ thuật. Tình cảm và lí
trí ấy diễn đạt bằng những hình tượng đẹp đẽ qua những lời thơ trong sáng vang lên
nhạc điệu khác thường”[12; tr.309]. Thơ là sản phẩm của quá trình sáng tạo nghệ
thuật của người nghệ sĩ. Thơ diễn tả sự rung động mãnh liệt, nồng cháy, của thi sĩ với
cuộc sống. Mỗi sự vật hiện tượng trong đời sống, đều được phản ánh sinh động trong

người. Qua thơ tình, ta khám phá được những cung bậc cảm xúc tinh tuý của con
người. Thơ tình yêu hướng con người đến chân, thiện, mỹ, ra đời giữa những vui
buồn của loài người và trở thành bầu sữa tinh thần không thể thiếu trong cuộc đời
mỗi chúng ta. Con người tìm đến thơ tình như tìm về chốn nương náu bình yên nhất
của tâm hồn, có người lại dùng thơ tình như một sự giải thoát. Ai đó tìm đến thơ tình
như một sự sẻ chia, thấu hiểu. Với sức mạnh của mình, thơ ca viết về tình yêu có khả

14


năng chữa lành, băng bó vết thương, làm hồi sinh, thức tỉnh những trái tim khô héo
lụi tàn. Phải chăng, thơ tình yêu đã trở thành bầu rượu thế gian, để tiêu đi những trái
ngang tình sầu, nỗi sầu vạn kỷ của con người giữa trần thế? Thơ tình yêu là nơi thổ lộ
tình cảm mãnh liệt, đã được con người ý thức. Thơ viết về tình yêu đôi lứa, vẫn mãi
có sức hút ngàn đời với thế gian.
Thơ tình yêu của loài người xuất hiện từ rất sớm. Thời kỳ văn học khởi thủy với
những câu ca dao, dân ca yêu thương tình nghĩa diễn tả những cảm xúc đôi lứa yêu
nhau, qua đó thể hiện khát vọng về một tình yêu đôi lứa chân thành, đằm thắm, sâu
kín thiết tha, da diết, đến mãnh liệt như bài Khăn thương nhớ ai. Đến thời kỳ văn
học trung đại thơ viết về tình yêu xuất hiện nhiều các tên tuổi cùng với tiếng thơ tình
yêu tha thiết, thể hiện khát vọng lứa đôi của con người, tiêu biểu như: Lý Ngọc Kiều,
Lê Ỷ Lan, Ngô Chi Lan, Nguyễn Thị Lộ.....Đến văn học thế kỷ XVIII- XIX thi đàn
được dậy sóng bởi các áng thơ tình chấn động tâm hồn, chưa bao giờ người ta thấy
nỗi niềm khao khát tình yêu, khao khát hạnh phúc lứa đôi lại mãnh liệt đến như thế
với tên tuổi các nhà thơ: Đoàn thị Điểm, Đoàn Thị Lệ Khương, Đặng Tiểu Thư, Lê
Thị Ngọc Hân, Hồ xuân Hương. Bước sang giai đoạn văn học hiện đại đầu thế kỷ XX
đến 1945, trên thi đàn xuất hiện một đội ngũ đông đảo các nhà thơ viết về đề tài tình
yêu đôi lứa. Trong đó nổi bật là các tên tuổi của phong trào Thơ mới với những thi
phẩm nổi tiếng, diễn tả đầy đủ những cung bậc cảm xúc trong tình yêu: Xuân Diệu
say đắm nồng nàn trong tình yêu với Vội vàng, Thơ duyên, Xa cách...; Hàn Mặc Tử

1.1.2. Thơ viết về tình yêu đôi lứa của các nhà thơ dân tộc thiểu số Việt Nam hiện
đại
1.1.2.1 Giai đoạn trước năm 1975
Đây là giai đoạn nước ta phải đương đầu với hai cuộc kháng chiến oanh liệt và
hào hùng chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Chưa bao giờ lòng yêu nước và tinh
thần đoàn kết lại sục sôi như vậy. Vì thế, văn học thờ kỳ này có nhiệm vụ chính là
phục vụ cách mạng, cổ vũ chiến đấu. Thời kỳ này, thơ ca dân tộc thiểu số nói riêng và
thơ ca Việt Nam nói chung phát triển một cách mạnh mẽ, đạt được nhiều thành tựu
vượt bậc. Cảm hứng thơ ca thời kỳ này chủ yếu là cảm hứng yêu quê hương đất nước,
phản ánh lòng căm thù giặc sâu sắc, niềm tự hào tự tôn dân tộc, ca ngợi hai cuộc
kháng chiến yêu nước vĩ đại. Hòa chung không khí sục sôi yêu nước ấy, nền thơ ca
dân tộc thiểu số xuất hiện nhiều gương mặt tiêu biểu gắn liền với những tác phẩm thơ
như: Nông Quốc Chấn với Việt Bắc đánh giặc (1948), Dọn về làng (1950), Nói với
các anh (1953), Thư lên Điện Biên (1954). Nông Minh Châu với Đêm ba khe
(1952), Người thanh niên giữ đèo giàng, Gửi anh bạn Triều Tiên (1953). Cầm Biêu

16


với Vợ lính ngụy mong chồng (1949), Gái thời giặc (1950), Mường muối yên vui
(1954). Dặn vợ, dặn con (1940), Mừng thủ đô giải phóng (1954). Mã A Lềnh với
Rừng sáng, Vương Anh với: Hoa trong mường, Tình cồng, tình chiêng...
Các tác phẩm thơ ca dân tộc thiểu số lúc này tập trung đề tài viết về hai cuộc
kháng chiến thần thánh, viết về tình yêu quê hương đất nước, con người, thiên nhiên
núi rừng. Cảm hứng thơ ca của các nhà thơ dân tộc thiểu số là cảm hứng trữ tình
chính trị, cảm hứng trữ tình đời tư đan xen kết hợp hài hòa với nhau. Một số bài thơ
đã đề cập đến tình yêu đôi lứa, tuy nhiên số lượng chưa nhiều và chủ yếu đan xen
trong tình yêu đất nước, quê hương, bản làng.
Thời đại nào cũng vậy, tình yêu luôn là đề tài bất tận trong thi ca, bất kỳ nhà thơ
nào cũng đều viết về thơ tình. Tình yêu lúc nào cũng được nhen lên trong lòng người

mến, của mình dành cho gia đình khi tham gia cách mạng. Ẩn chứa trong đó là tình
yêu vợ chồng, khát vọng về hạnh phúc lứa đôi: “Anh lìa em đi cứu nước/ Em khắc ở
nhà trông đứa con thơ”.
Nhà thơ Triều Ân cũng có những vần thơ thể hiện nỗi nhớ da diết trong tình
yêu. Nỗi nhớ được ví von với hình ảnh thiên nhiên, thể hiện nỗi niềm sâu lắng, kín
đáo trong tình yêu:
Xa cách lâu em mong
Buồn như cành lá trụi
Nếu tóc anh điểm sương
Lòng em buồn lá úa
(Triều Ân)
Như vậy, thơ viết về tình yêu của các nhà thơ dân tộc thiểu số Việt Nam hiện
đại giai đoạn này đã có những bước đi đầu tiên thể hiện tình cảm chân thực của con
người miền núi. Tuy nhiên đề tài về tình yêu chưa được các nhà thơ tập trung chú ý
sáng tác, có chăng cũng chỉ là những yếu tố còn khá mờ nhạt, hòa quyện vào những
bài thơ trữ tình chính trị của một số tác giả tiêu biểu. Bởi vậy, thơ tình yêu thời kỳ
này không để lại dấu ấn trong lòng người đọc. Tuy nhiên, giai đoạn quan trọng này đã
tạo bước đệm hé mở một đề tài mới cho các nhà thơ dân tộc thiểu số về sau, tạo ra
bước ngoặt to lớn cho sự nở rộ về đội ngũ nhà thơ sáng tác về đề tài tình yêu đôi lứa
ở giai đoạn sau năm 1975.
1.1.2.2 Giai đoạn từ sau 1975 đến nay
Sau năm 1975, đất nước hoàn toàn giải phóng non sông vẹn toàn một dải. Tuy
nhiên chúng ta vẫn phải đương đầu với thù trong, giặc ngoài chống phá đất nước.

18



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status