Biểu tượng mặt trời trên sản phẩm dệt một số dân tộc thiểu số Việt Nam - Pdf 27

LỜI MỞ ĐẦU
Hoa văn có vai trò quan trọng đối với các sản phẩm dệt cảu các dân tộc thiểu
số Việt Nam . Nó không chỉ đơn thuần là một hình thức trang trí, tạo vẻ đẹp cho
các sản phẩm mà thông qua bố cục, mô-típ và đồ án hoa văn chúng ta thấy được
đời sống sản xuất, lao động, sinh hoạt và giao lưu văn hóa, quá trình phát triển lịch
sử, của tộc người. Khái quát hơn, thông qua hoa văn ta thấy được đặc trưng của tộc
người, góp phần bảo tồn văn hóa truyền thống tộc người.
Xuất phát từ vai trò đó đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về hoa văn của
một dân tộc cụ thể hoặc một vùng nào đó. Như công trình nghiên cứu “hoa văn cạp
váy Mường” (của GS. Từ Chi), “hoa văn Thái” (của PGS.TS Hoàng Lương), “hoa
văn trên vải các dân tộc thiểu số vùng Đông Bắc Bắc bộ Việt Nam” (của Diệp
Trung Bình)…
Sau khi đọc nguồn tư liệu về hoa văn các dân tộc chúng tôi nhận thấy rằng đa
phần các tác giả chỉ đi sâu vào miêu tả, liệt kê các loại hoa văn trên sản phẩm dệt
của một dân tộc hay một vùng dân tộc nào đó. Và chưa có công trình nào nghiên
cứu về một loại hoa văn cụ thể có hệ thống theo chiều dọc đối với các dân tộc. Như
vậy, đây là một khoảng trống trong nghiên cứu khoa học về dân tộc học. Đây là
một hướng gợi mở lớn đầy thú vị để chúng tôi tiếp cận dần với đề tài “Biểu tượng
mặt trời trên sản phẩm dệt một số dân tộc thiểu số Việt Nam”.
Qua quá trình tiếp xúc với nguồn tư liệu hiện vật Dân tộc học ở Bảo tàng
Nhân học - Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn chúng tôi nhận thấy hoa
văn mặt trời xuất hiện với tần số lớn trên một sản phẩm dệt của các dân tộc như:
khăn, mũ, túi, quần, áo, váy, thắt lưng… Nó có thể xuất hiện ở vị trí trung tâm của
sản phẩm như là mô típ hoa văn chủ đạo, hoặc trên các đường viền nay ở phần
trang trí phụ. Nó xuất hiện dưới nhiều dạng khác nhau chứ không chỉ đơn thuần là
một dạng cố định. Và trong mỗi một đồ án hoa văn mặt trời lại có những dạng biến
thể của nó. Điều đó khiến chúng tôi đặt ra nhiều câu hỏi: tại sao hoa văn mặt trời lại
xuất hiện nhiều như vậy? Phải chăng nó là loại hình hoa văn tiêu biểu? Nó có mang
ý nghĩa gì không đối với các tộc người? Từ những câu hỏi đó chúng tôi mạnh dạn
đưa ra “biểu tượng mặt trời” trong hoa văn các sản phẩm phẩm dệt như một hướng
tiếp cận mới để giải quyết phần nào những thắc mắc trên nhưng chỉ dừng lại ở mức

người nghiên cứu về hoa văn chúng tôi muốn góp một phần ý kiến về ý nghĩa của
loại hoa văn này.
Do không có điều kiện để khảo sát từng dân tộc trong thực tế nên phần tư
liệu mà chúng tôi sử dụng chủ yếu là những hiện vật Dân tộc học ở Bảo tàng Nhân
học của Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn. Đây được xem như nguồn
tư liệu chính của báo cáo này. Ngoài ra chúng tôi còn sử dụng nguồn tư liệu tham
khảo từ các cuốn sách của một số nhà nghiên cứu như: “Hoa Văn trên vải của các
dân tộc thiểu số vùng Đông Bắc Bắc bộ Việt Nam” - Diệp Trung Bình; “Trang
phục các dân tộc thiểu số nhóm ngôn ngữ Việt - Mường và Tây Thái” - Đỗ Thị
Hòa. Đây là hai nguồn tư liệu ảnh quan trọng làm nên báo cáo này. Và trong phạm
vi báo cáo khoa học chúng tôi cũng không có điều kiện để xem xét hoa văn mặt trời
ở tất cả các dân tộc thiểu số Việt Nam mà chỉ dừng lại ở một số dân tộc có hoa văn
mặt trời được xem là mô típ chính, tiêu biểu như: dân tộc Mường (trong nhóm ngôn
ngữ Việt - Mường), dân tộc Thái, dân tộc Tày, dân tộc Nùng (trong nhóm ngôn ngữ
Tày - Thái), dân tộc Hmông, dân tộc Dao (trong nhóm ngôn ngữ Mèo - Dao); ngoài
ra còn có dân tộc Lô Lô (trong nhóm ngôn ngữ Hán - Tạng).
Khi thực hiện đề tài này chúng tôi đã sử dụng một số phương pháp như:
thống kê, miêu tả, phương pháp nghiên cứu liên ngành, so sánh đồng đại, so sánh
lịch đại… Để từ đó có thể phân loại các dạng hoa văn mặt trời khác nhau, thấy
được mối liên hệ tộc người.
Trong quá trình thực hiện báo cáo này, chúng tôi đã nhận được rất nhiều sự
giúp đỡ từ các thầy cô ở Bảo tàng Nhân học, đặc biệt là sự chỉ bảo tận tình của
Thầy đã chỉ dẫn và khuyến khích tôi trong phương pháp và quá trình tiếp cận đề tài
này. Nhân đây, tôi xin bày tỏ lời cảm ơn chân thành tới sự giúp đỡ quý báu đó.
Với dung lượng một bài báo cáo khoa học của sinh viên, tuy đã có nhiều cố
gắng, song bài báo cáo cũng không tránh khỏi những thiếu sót. Hơn nữa đây là một
đề tài đòi hỏi sự dày công nghiên cứu hơn. Vì vậy, chúng tôi mong nhận được sự
đóng góp và chỉ dẫn của thầy, cô và các bạn để bài báo cáo ngày càng hoàn chỉnh
hơn.
CHƯƠNG I: SƠ LƯỢC VỀ BẢO TÀNG NHÂN HỌC - TRƯỜNG

Trong nguồn hiện vật Dân tộc học nói trên sản phẩm dệt chiếm một vị trí
quan trọng. Số lượng hiện có trên Bảo tàng Nhân học là gần 100 sản phẩm dệt các
loại như: quần, áo, váy, khăn, mũ, thắt lưng… của rất nhiều dân tộc Việt Nam. Là
nghề thủ công truyền thống ra đời từ rất sớm, ngoài việc đáp ứng nhu cầu mặc của
con người, các sản phẩm dệt là nơi lưu giữ những giá trị văn hóa lâu đời của tộc
người.
Như vậy hiện vật khảo cổ học là hiện vật Dân tộc học là hai nguồn sử liệu
vật thực không chỉ có ý nghĩa đối với khoa học lịch sử mà còn có ý nghĩa với nhiều
ngành khoa học khác. Với hai nguồn hiện vật chủ yếu này, Bảo tàng Nhân học
được xem như là một giảng đường đặc biệt mà ở đó có sự kết hợp phương thức
giữa đào tạo và thực tế, học lý thueyét đi đôi với thực hành. Đặc biệt với sinh viên
nghiên cứu khảo cổ học và Dân tộc học thì đây là nguồn tư liệu không thể thiếu
được
CHƯƠNG II: BIỂU TƯỢNG MẶT TRỜI TRÊN SẢN PHẨM DỆT Ở BẢO
TÀNG
2.1. Các khái niệm về “biểu tượng mặt trời”
2.1.1. Khái niệm “biểu tượng”
“Biểu tượng” là một khái niệm là nghĩa. Trong từ điển Tiếng Việt biểu tượng
thuộc danh từ, “là hình ảnh đặc trưng, còn theo chuyên môn là hình thức cao hơn
cảm giác, cho ta hình ảnh của sự vật còn giữ lại trong đầu óc sau khi tác động của
sự vật vào giác quan đã chấm dứt”. Định nghĩa này có nhiều điểm tương đồng với
quan niệm trong Triết học Mác-Lênin. Theo chủ nghĩa duy vật biện chứng, biểu
tượng nằm trong giai đoạn đầu của quá trình nhận thức (đi từ trực quan sinh động
đến tư duy trừu tượng đến thực tiễn). Quá trình nhận thức cảm tính là “con người
sử dụng giác quan, để tác động trực tiếp vào sự vật để nắm bắt sự vật ấy”. Sau hai
hình thức “cảm giác” và “tri giác” con người thu được biểu tượng và lưu nó trong
đầu óc mình. Như vậy “biểu tượng là hình thức phản ánh cao nhất, phức tạp nhất
của giai đoạn trực quan sinh động”
1
. Khi biểu tượng hình thành cũng là lúc con


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status