Một vài suy nghĩ về Văn học dân tộc thiểu số Việt Nam thời kì hiện đại
Em xin chân thành cảm cơn PGS.TS Trần Thị Việt
Trung đã tận tình dạy dỗ, chỉ bảo giúp em hoàn
thành tiểu luận này
1
Mét vµi suy nghÜ vÒ V¨n häc d©n téc thiÓu sè ViÖt Nam thêi k× hiÖn ®¹i
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
DTTS: Dân tộc thiểu số
VHDTTS: Văn học dân tộc thiểu số
VHDG: Văn học dân gian
THCS: Trung học cơ sở
THPT: Trung học phổ thông
2
Mét vµi suy nghÜ vÒ V¨n häc d©n téc thiÓu sè ViÖt Nam thêi k× hiÖn ®¹i
MỤC LỤC
3
Mét vµi suy nghÜ vÒ V¨n häc d©n téc thiÓu sè ViÖt Nam thêi k× hiÖn ®¹i
A.
PHẦN MỞ ĐẦU
Một vài suy nghĩ về Văn học dân tộc thiểu số Việt Nam thời kì hiện đại
Nụng Quc Chn ó vit Chng ng mi hay My suy ngh v
Vn hc cỏc DTTS Vit Bc; Phong Lờ vit 40 nm vn húa ngh
thut cỏc DTTS 1945 1985; Gn õy, cú nhiu nh nghiờn cu
VHDTTS ó tõm huyt v cho ra i nhng cụng trỡnh nghiờn cu cú
giỏ tr hc thut cao. Tiờu biu cú th k n nh nghiờn cu phờ bỡnh
Lõm Tin vi nhng cụng trỡnh nh Vn hc cỏc DTTS Vit Nam hin
i (1995), Vn hc cỏc DTTS (1997), V mt mng vn hc dõn tc
(1999); Vn hc v min nỳi (2002); Tip cn VHDTTS (2011) Gn
õy nht, cú th k ti nhng cụng trỡnh nghiờn cu khỏ b th, dy dn,
tng i ton din v VHDTTS ca PGS. TS Trn Th Vit Trung v
cỏc cng s nh Bn sc dõn tc trong th cỏc dõn tc thiu s Vit
Nam hin i (Khu vc phớa Bc Vit Nam) (2010); Vn hc dõn tc
thiu s Vit Nam thi kỡ hin i Mt s c im (2015). Cú th
khỏi quỏt rng, vic nghiờn cu VHDTTS Vit Nam ó c quan tõm
t nhng nm 70 ca th k XX. Nh nghiờn cu VHDTTS bao gm c
nhng cõy bỳt ngi Kinh v ngi DTTS, c nhng nh phờ bỡnh
nghiờn cu chuyờn nghip v nhng nh vn, nh th. Tỡnh hỡnh nghiờn
cu VHDTTS tuy cũn nhiu khiờm tn nhng ỏng mng l cú nhiu
du hiu khi sc trong nhng nm gn õy. S vo cuc y tõm huyt
ca cỏc nh nghiờn cu ó cú tỏc ng tớch cc n nhn thc, tõm th
c, ý thc c VHDTTS ca mt b phn ụng o cỏc nh nghiờn
cu, nh giỏo dc v c gi c nc.
Vi tiu lun ny, chỳng tụi khụng nghiờn cu mt mng c th no
ca VHDTTS thi kỡ hin i, cng khụng dỏm nhn cú nhng ý kin
sõu sc v mt mng vn hc cũn cha c chỳ ý ỳng mc ca vn
hc Vit Nam, m ch l nhng tng hp ca chỳng tụi v nhng c
im c bn ca VHDTTS Vit Nam thi kỡ hin i, ng thi a ra
5
theo c ch: Th nht, khụng tip nhn ton b h thng m ch la chn
nhng giỏ tr no phự hp; Th hai, cú khi tip nhn c h thng, nhỡn t hỡnh
thc bờn ngoi, nhng thc cht ó sp xp li cỏc thang bc giỏ tr khỏc
nhau; Th ba, tip thu v ci bin cỏc hỡnh thc mi v vn húa, ngh thut
ca th gii biu t ni dung cỏc giỏ tr vn húa Vit Nam. Quỏ trỡnh tip
xỳc, tip bin ú din ra trong bi cnh y mõu thun, va kiờn quyt u
tranh chng li s ng húa bo tn v duy trỡ truyn thng, va phi tip
nhn vn húa ca chớnh k xõm lc chng li s ng húa ca chỳng. Nh
cú b lc l lũng yờu nc nng nn, tinh thn t ho, t tụn dõn tc m quỏ
trỡnh tip xỳc, tip bin vn húa ó din ra mt cỏch cú chn lc v hiu qu, dn
n s hỡnh thnh bn sc dõn tc ca nn vn húa dõn tc Vit Nam.
Bn sc theo T in Ting Vit ca Hong Phờ l mu sc, tớnh
cht riờng, to thnh c im chớnh[tr31]. Xột ngha t nguyờn ting Hỏn
thỡ bn sc l mu gc cha b pha trn, l sc thỏi hn nhiờn t nhiờn cha b
o gt, trang im, ta tút. Bn sc dõn tc ca nn vn húa dõn tc Vit
Nam chớnh l nhng nột riờng bit c ỏo, bn vng, nhng tinh hoa ca
8
Một vài suy nghĩ về Văn học dân tộc thiểu số Việt Nam thời kì hiện đại
cng ng dõn tc c vun p nờn t lõu i, ú l ht nhõn ca tinh thn
sỏng to ging nũi l tớnh nng ng thụi thỳc bờn trong ca mi tim nng
sỏng to (Huy Cn). Theo tỏc gi Trn Th Vit Trung thỡ bn sc dõn tc
l nhng nột riờng bit c ỏo ca mt nn vn húa, vn hc bao gm
nhng giỏ tr bn vng, nhng tinh hoa vn húa, vn mch ca dõn tc c
vun p nờn qua lch s, to thnh phong cỏch dõn tc.
Bn sc dõn tc c th hin ni dung v hỡnh thc ngh thut
ca vn hc. Trc ht, bn sc dõn tc th hin ti, ch ca tỏc
phm vn hc, ngha l th hin i tng tỏc phm cp n v t tng
ca nh vn. Bn sc dõn tc cũn c th hin hỡnh thc ngh thut ca tỏc
thần của người DTTS. Những điều này đã ăn sâu trong tiềm thức của các tác
giả người DTTS, bởi đó là cái nôi văn hóa nuôi dưỡng tâm hồn họ trưởng
thành. Đối tượng phản ánh của VHDTTS còn là đời sống tâm hồn và tính
cách của con người dân tộc. Đó là tình cảm thuần hậu, chân mộc, có cái gì đó
nguyên sơ, mãnh liệt, táo bạo, sống tình nghĩa, yêu quý con người một cách
chân thành. Tất cả những đối tượng phản ánh phong phú đó đều gắn bó với
đời sống dân tộc, thể hiện bản sắc dân tộc.
Bản sắc dân tộc còn được thể hiện ở phương thức phản ánh (cách thức,
chất liệu để nhà thơ hiện thực hóa nội dung). Các nhà thơ DTTS sử dụng
tiếng mẹ đẻ để sáng tác. Đó là biểu hiện sâu sắc nhất của bản sắc dân tộc, vì
tiếng mẹ đẻ của DTTS đã thể hiện được sâu sắc, chân thực nhất về cuộc sống
và con người dân tộc. Bản sắc dân tộc còn được thể hiện ở sự vận dụng các
hình thức thể loại thơ ca truyền thống như sli, lượn, phong slư…
Như vậy, có thể thấy rằng con đường khám phá bản sắc dân tộc trong
VHDTTS chính là việc đi tìm cái độc đáo, riêng biệt không thể trộn lẫn trong
thế giới hình tượng, trong cách thức thể hiện thế giới đó và tư tưởng nghệ
thuật của nhà thơ. Theo PGS. TS Trần Thị Việt Trung thì “Thực chất đây là
việc khám phá điệu tâm hồn của dân tộc”, khám phá những nét riêng trong
cách cảm, cách nghĩ, lối sinh hoạt, tâm tư, tình cảm… của dân tộc.
10
Mét vµi suy nghÜ vÒ V¨n häc d©n téc thiÓu sè ViÖt Nam thêi k× hiÖn ®¹i
Một số đặc điểm cơ bản của văn học dân tộc thiểu số Việt Nam
II.
thời kì hiện đại.
Một vài suy nghĩ về Văn học dân tộc thiểu số Việt Nam thời kì hiện đại
sc tỡnh cm, ý chớ ca ngi dõn min nỳi trong nhng thỏng ngy gian kh,
y mt mỏt hi sinh nhng cng y oanh lit, oai hựng ca dõn tc.
T sau nm 1975, trong khụng khớ hũa bỡnh, thng nht t nc, khc
phc hu qu chin tranh v xõy dng cuc sng mi, vn xuụi DTTS phỏt
trin mt bc mi. i ng sỏng tỏc l ngi DTTS ụng o hn, thnh tu
sỏng tỏc cng rc r hn. Vn xuụi DTTS phỏt trin mnh v s lng v
cht lng, giỳp chỳng ta cú th nhn din mt cỏch rừ rng, khng nh nú
nh mt thc th riờng, c ỏo trong i sng vn hc Vit Nam hin i.
Cỏc tỏc gi, tỏc phm tiờu biu ca VHDTTS giai on ny nh: Vi Hng vi
t bng (1990), Nỳi c yờu thng (1984), Thung lng ó ri (1985),
Ngi trong ng (1990).; La Quỏn Miờn vi Hai ngi tr v bn (1996),
Kha Th Thng vi tp truyn L nỳi (2003), Hlinh Niờ vi tp truyn Con
rn mu xanh da tri (1997), Irasara vi Chõn dung cỏt (2006) Cỏc tỏc
phm ca cỏc tỏc gi ú ó t n xut sc khi dng cnh, dng ngi
m bn sc dõn tc, núi lờn ting núi tõm hn ca ngi dõn tc thiu s.
Trong thi kỡ i mi, vn xuụi DTTS ó cú s m rng v ti, ch ,
phm vi hin thc i sng, cp n c nhng vn trc õy cũn e ngi,
nộ trỏnh. Tuy nhiờn, nhỡn chung, vn xuụi DTTS cha cú nhng tỏc phm
s, mt s vn thi s cỏc vựng min nỳi cũn cha c phn ỏnh sõu
sc nh vn an ninh, quc phũng vựng biờn gii ú l nhng yờu cu,
thỏch thc i vi mng vn hc ny, ũi hi vn xuụi DTTS ngy cng phi
phỏt trin v hon thin hn.
II.1.2. Mt s c im v ni dung
Trc ht, vn xuụi DTTS thi kỡ hin i hng n th hin hin
thc cuc sng v con ngi min nỳi.
Cỏc tỏc gi ngi DTTS sinh ra v ln lờn trong mụi trng t nhiờn v xó
hi DTTS, trong nụi vn húa DTTS. T nhiờn nh hi th, mi tỏc phm ca
h hng n th hin hin thc cuc sng v con ngi min nỳi. Trc
mang những nét đặc trưng của các DTTS. Các tác giả là người DTTS đã tỏ ra
rất thành thạo và say sưa trong việc miêu tả các mặt đời sống tinh thần của
các dân tộc, làm rạng ngời lên những nét riêng, độc đáo trong các lễ hội, trong
13
Mét vµi suy nghÜ vÒ V¨n häc d©n téc thiÓu sè ViÖt Nam thêi k× hiÖn ®¹i
cách trang trí nhà cửa, hay trong các tập tục cuộc sống của đồng bào. Các tác
giả cũng chỉ ra những hạn chế, những cái xấu chưa bị tiêu diệt đến cùng, cái
tốt đang khởi sắc, cái đẹp đang dần bị mai một. Đó còn là thực trạng về sự mê
tín dị đoan trong đời sống tinh thần, đời sống tâm linh của đồng bào vùng cao
bị kẻ ác lợi dụng; đó là những luật tục mang tính vô nhân đạo còn tồn tại. Bên
cạnh dó là hình ảnh những con người miền núi chân thật, trong sáng, sâu nặng
nghĩa tình luôn được hiện lên đậm nét. Các nhà văn đã tập trung miêu tả
những phong tục tập quán của các DTTS trong đời sống lao động, trong sinh
hoạt và vui chơi, trong các hoạt động tín ngưỡng với những nét tâm lý riêng
của mỗi cộng đồng dân tộc. Các phong tục tập quán được đề cập đến trong
sáng tác của các nhà văn DTTTS như tục cưới hỏi, tang ma (Chồng thật vợ
giả - Vi Hồng, Giấc mơ của làng – Hlinh Niê, Pơ thi mênh mang mùa gió –
Hlinh Niê…), tục hát then (Chồng thật vợ giả - Vi Hồng), tục khai vài xuân
(Súc hỷ - Cao Duy Sơn), ngày hội bắt cá (Mùa này hoa bằng lăng không nở Hlinh Niê), lễ hội đâm trâu, lễ gọi hồn…Tóm lại, viết về các phong tục tập
quán là những dấu ấn đặc trưng nổi bật trong sáng tác của các nhà văn DTTS.
Các tác giả đã đưa người đọc bước vào thế giới tâm linh của các tộc người
DTTS qua những hoạt động lễ hội, những tập tục trong cuộc sống tinh thần,
trong cuộc sống sinh hoạt đời thường của họ.
Một đặc điểm nữa trong nội dung của các tác phẩm văn xuôi DTTS
là thể hiện thế giới tự nhiên hoang dã, trữ tình.
Trong sáng tác của các nhà văn DTTS, thiên nhiên miền núi được hiện
lên thật chân thực và cũng đầy lãng mạn với sắc màu rực rỡ và âm thanh vang
dội. Đó là âm thanh của tiếng chim kêu, gió thổi, rừng cây xào xạc, của sông,
II.1.3. Mt s c im v ngh thut
Trc ht, v ngh thut xõy dng nhõn vt. Hu ht cỏc nh vn
DTTS khi xõy dng nhõn vt trong tỏc phm ca mỡnh u chu nh hng
ca thi phỏp dõn gian, vi quan nim hin gp lnh, ỏc gi ỏc bỏo. H thng
nhõn vt thng c phõn nh thnh hai tuyn rừ rt l Tt Xu, Thin
c. Nhng nhõn vt chớnh din c miờu t vi v lng thin, nhõn ỏi,
sng chõn thc cũn nhng nhõn vt phn din thỡ xu xa, ti tin, c ỏc. Khi
miờu t nhõn vt, cỏc tỏc gi thng dựng th phỏp so sỏnh, tng phn theo
15
Mét vµi suy nghÜ vÒ V¨n häc d©n téc thiÓu sè ViÖt Nam thêi k× hiÖn ®¹i
lối “vật hóa” (đối với nhân vật phản diện) hoặc “thần hóa”(đối với nhân vật
chính diện), nhằm mục đích hạ thấp (với thủ pháp “vật hóa”) hoặc đề cao,
ngợi ca (đối với thủ pháp “thần hóa”) đối tượng. Các nhà văn DTTS cũng
thường chú ý khắc họa nhân vật qua những chi tiết đặc biệt về ngoại hình,
hành động. Cũng có khi, các tác giả DTTS lại mượn yếu tố thiên nhiên để
khắc họa vẻ đẹp và tính cách nhân vật. Đặc biệt, trong sáng tác của Vi Hồng,
yếu tố thiên nhiên đã có một vị trí hết sức quan trọng khi diễn tả trạng thái,
tâm lý, hành động của con người mà nhiều khi không thể diễn tả bằng hành
động hay lời nói của nhân vật.
Về ngôn ngữ nghệ thuật. Ngôn ngữ nghệ thuật được sử dụng chủ yếu
trong các tác phẩm văn chương có chức năng chủ yếu là xây dựng hình tượng
nghệ thuật, tác động đến cảm xúc của người đọc, biểu hiện cái đẹp, khơi gợi
và nuôi dưỡng cảm xúc thẩm mĩ cho người đọc. Các nhà văn DTTS thường
sử dụng với cường độ lớn thủ pháp so sánh, ví von, liên tưởng. Những so sánh
liên tưởng nhiều khi mang tính trực giác, gắn bó với sự vật, hiện tượng quen
thuộc và gần gũi với cách cảm, cách nói của người miền núi. Chẳng hạn, miêu
tả sức trai trẻ của chàng thanh niên đôi mươi, Cao Duy Sơn đã dùng hình ảnh
chu nh hng sõu sc ca VHDG, c vit bng ting dõn tc nờn sc
lan ta cũn nh hp. Cui th k XIX, u th k XX ó xut hin thờm
nhiu tỏc gi nhiu dõn tc khỏc nhau nh H V Bng, Nụng ỡnh Cp,
B c Cn, Lờ Vn D,trong ú trng hp Hong c Hu l mt
hin tng ỏng chỳ ý. Vo u thp niờn 30 40 ca th k XX, khi
phong tro cỏch mng dõng cao, th ca ca mt s tỏc gi ngi dõn tc
cng hũa vo dũng th yờu nc, cỏch mng nh Hong ỡnh Giong,
Dng Cụng Hot, Hong Vn Th Cú th coi nhng tỏc gi ny l mt
trong nhng ngi t nn múng cho th ca cỏch mng v khỏng chin ca
cỏc DTTS Vit Nam.
giai on 1945 1975, hũa vo dũng chung ca vn hc dõn tc
vi ni dung yờu nc, cm thự gic, ca ngi cỏch mng, th ca ca cỏc
tỏc gi DTTS cng gúp mt ting núi bo v t nc, chng gic ngoi
xõm. Mt s tỏc gi tiờu biu vit v ti ny nh Nụng Quc Chn, Bn
Ti on, Nụng Vit Toi Th ca DTTS giai on ny ó phỏt trin khỏ
phong phỳ v s lng v nõng cao v cht lng. Cỏc tỏc phm ó phn ỏnh
c lũng yờu nc, yờu quờ hng, t ho dõn tc c ngi min nỳi, ng
thi th hin mt cỏch sinh ng hin thc cuc sng ca ngi min nỳi.
T sau nm 1975 n nay, bờn cnh nhng tờn tui cỏc nh th ch
cht ca giai on trc vn khụng ngng sỏng tỏc nh Nụng Quc Chn,
Nụng Vit Toi, giai on ny ó xut hin mt i ng cỏc tỏc gi
18
Một vài suy nghĩ về Văn học dân tộc thiểu số Việt Nam thời kì hiện đại
DTTS mi, tr trung, sụi ni v hn nhiờn, giu sc sỏng to nh Y
Phng, Lũ Ngõn Sn, Dng Thun, Lũ Cao Nhum, Lõm Quý, Triu Kim
Vn, Ma Trng Nguyờn c bit l s xut hin ca cỏc nh th n
DTTS nh D Th Hon, Nụng Th Ngc Hũa, Triu Th Mai Trong
khụng khớ hũa bỡnh, no m v xõy dng cuc sng mi, cỏc nh th rt cú
Người con trai Pa Dí rất thẳng thắn, trung thực, cởi mở, dễ hòa đồng,
có thể kết bạn với tất cả:
“Con trai người Pa Dí
Không hận thù ghét bỏ với ai
Đi chín phương là chín phương bè bạn
Đến mười phương là mười miền thương nhớ”
Có thể nói, hình tượng người con trai Pa Dí với những phẩm chất tốt đẹp
là tiêu biểu cho vẻ đẹp phẩm chất, tâm hồn của những người con dân tộc Pa Dí.
Tác giả Dương Thuấn lại xây dựng hình ảnh những người mẹ miền núi
với vẻ đẹp hồn hậu, mộc mạc:
“Những bà mẹ xứ Mây mỗi sớm bình minh
20
Mét vµi suy nghÜ vÒ V¨n häc d©n téc thiÓu sè ViÖt Nam thêi k× hiÖn ®¹i
Thơm má con và dặn con rằng
Mắng quan tham đừng run sợ
Trước khi hái quả
Thì hãy chắp hai tay”
(Bà mẹ xứ Mây – Dương Thuấn)
Như vậy, thơ ca DTTS đã thể hiện khá đậm nét hình ảnh con người
miền núi với những phẩm chất tốt đẹp: hiền lành chất phác, hồn nhiên nhưng
cũng rất mạnh mẽ và dũng cảm. Họ chân thực đến tận đáy lòng, có đời sống
tâm hồn phong phú mang những nét bản sắc riêng của từng dân tộc, từng
cộng đồng.
Bên cạnh việc thể hiện hình tượng con người DTTS chân thực, hồn
nhiên, các nhà thơ DTTS còn hướng đến thể hiện hình ảnh quê hương
miền núi tươi đẹp, sinh động và độc đáo.
Quê hương miền núi luôn là nguồn cảm hứng dạt dào và sâu đậm trong
tâm hồn những thi sĩ DTTS qua bao thế hệ. Các nhà thơ đã say sưa ca ngợi vẻ
Em cùng họ hàng đi tảo mộ
Gánh cơm cúng đi lên đỉnh núi
Chai rượu ngô thơm sóng sánh rừng mơ”
…
Người bản ta đi đâu cũng nhớ
Tháng ba về tảo mộ tết thanh minh”
(Tháng ba không về - Dương Thuấn)
Có thể nói hình ảnh quê hương trong thơ ca DTTS hiện lên đa dạng, sinh
động và làm xúc động lòng người. Những hình ảnh quê hương trong thơ ca
của các tác giả DTTS luôn mang đến cho người đọc những cảm nhận sâu sắc
về những miền đất quê hương của họ với bao nét đặc sắc, đặc trưng, đầy sự
độc đáo và tràn đầy tình cảm con người. Qua đó, người đọc cảm nhận được
22
Mét vµi suy nghÜ vÒ V¨n häc d©n téc thiÓu sè ViÖt Nam thêi k× hiÖn ®¹i
tình yêu quê hương, niềm tự hào sâu sắc của những người con DTTS trên
khắp mọi miền đất nước.
II.2.3. Những đặc điểm cơ bản về nghệ thuật
Thơ ca DTTS có ngôn ngữ rất độc đáo, đặc sắc. Các nhà thơ DTTS đã
luôn vận dụng sáng tạo vốn ngôn ngữ dân gian, vốn ngôn ngữ trong thơ ca
truyền thống của các dân tộc (thành ngữ, tục ngữ, các làn điệu dân ca, các
truyện thơ cổ… của đồng bào mình). Bên cạnh đó, họ cũng đã học tập, trau
dồi việc sử dụng thứ ngôn ngữ hiện đại của dân tộc Việt. Có một điều đặc biệt
là các tác giả DTTS không chỉ là người am hiểu, vận dụng tài tình vốn VHDG
mà còn là người sáng tác thơ, sáng tác lời hát dân gian như Nông Minh Châu,
Nông Quốc Chấn, Nông Viết Toại. Ngôn ngữ thơ ca DTTS nhìn chung
thường mộc mạc, giản dị, chân thực và có tính tạo hình cao, đã khắc họa hình
ảnh con người và cuộc sống theo quan niệm của người miền núi. Hình ảnh
nền văn hóa Việt Nam hiện đại. Chính vì vậy, trong suốt cuộc đời hoạt
động văn hóa, nghệ thuật của mình, ông luôn nhấn mạnh đến việc thể hiện,
ngợi ca những vẻ đẹp của nền văn hóa dân tộc – mà ở đây cụ thể là vẻ đẹp
của nền văn hóa Tày ở vùng Việt Bắc.
Những sáng tác thơ của Nông Quốc Chấn luôn thể hiện một cách hết
sức sinh động những nét bản sắc văn hóa đặc trưng của dân tộc Tày nói
riêng, các DTTS vùng cao Việt Bắc nói chung. Chính vì vậy, đọc thơ ông
người ta nhận thấy rõ hình ảnh thiên nhiên, con người miền núi với cuộc
sống lao động, chiến đấu, với đời sống văn hóa tinh thần phong phú, với
các phong tục, tập quán lâu đời vẫn còn được gìn giữ. Đọc thơ ông, người
ta nhận thấy rất rõ cách cảm, cách nghĩ, cách nói, cách diễn đạt của người
miền núi với thứ ngôn ngữ thơ mộc mạc, giản dị, giàu hình ảnh với giọng
điệu thơ vui tươi, hồn nhiên, chân thật nhưng cũng rất lãng mạn, bay bổng.
Và đó chính là những yếu tố làm nên tính dân tộc trong thơ ông, làm nên
phong cách nghệ thuật của ông.
Trong thơ Nông Quốc Chấn, hình ảnh thiên nhiên núi rừng Việt Bắc
được hiện lên với vẻ hùng vĩ, hoang dã mà tráng lệ, thấm đượm tình
người. Thơ ông cũng thể hiện rõ nét, sống động hình ảnh con người Việt
Bắc, ở đây chủ yếu là người Tày. Đó là hình ảnh những người mẹ Việt
24
Mét vµi suy nghÜ vÒ V¨n häc d©n téc thiÓu sè ViÖt Nam thêi k× hiÖn ®¹i
Bắc thương yêu con hết lòng, tảo tần nuôi con. Khi giặc Pháp chiếm đóng
bản làng, mẹ đã đọng viên con của mình nhập ngũ, chiến đấu hi sinh vì Tổ
Quốc. Đó là hình ảnh những chàng trai, cô gái Tày khỏe mạnh, tràn đầy
sức sống, hăng say lao động, dũng cảm trong chiến đấu chống lại kẻ thù…
Thơ Nông Quốc Chấn còn thể hiện một cách sinh động bản sắc Tày qua
việc phản ánh các phong tục, tập quán, những sinh hoạt văn hóa, tinh thần
của đồng bào dân tộc Tày – Việt Bắc. Và bản sắc Tày còn được thể hiện