Ảnh hưởng của tư tưởng thiền lão trong lý luận, phê bình văn học cổ điển Việt Nam (tóm tắt) - Pdf 42

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
--------------------

LÊ ĐẮC TƯỜNG

ẢNH HƯỞNG CỦA TƯ TƯỞNG THIỀN LÃO TRONG LÝ LUẬN,
PHÊ BÌNH VĂN HỌC CỔ ĐIỂN VIỆT NAM

Chuyên ngành: LÝ LUẬN VĂN HỌC
Mã số
: 62.22.01.20

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HỌC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – 2017


Công trình được hoàn thành tại:
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS. LÊ GIANG

Phản biện 1.........................................................
Phản biện 2.........................................................
Phản biện 3.........................................................

Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp trường, họp
tại: Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Văn học cổ điển Việt Nam có vị trí hết sức quan trọng trong lịch sử
văn học Việt Nam. Muốn thưởng thức, nghiên cứu văn học cổ điển, ngoài rào
cản về văn tự, độc giả phải vượt qua rào cản khác đó là quan niệm, ý thức, tư
tưởng văn học của người xưa. Nếu hiểu được tư tưởng văn học của họ, chúng
ta sẽ có được công cụ hữu hiệu để giải mã tối ưu văn học cổ điển Việt Nam.
Vì vậy, nghiên cứu tư tưởng lý luận văn học của người xưa là việc làm hết sức
cần thiết, hữu dụng.
1.2. Trước đây, khi nghiên cứu về văn học cổ điển Việt Nam, một số
học giả đã "ngậm ngùi" vì sự "nhỏ hẹp" và "còn thiếu" của mảng lý luận, phê
bình. Khi công tác khảo cứu, sưu tầm văn học cổ điển được chú trọng, trên
thực tế, tuy còn khiêm tốn so với thực tiễn sáng tác đồ sộ, nhưng ông cha ta
đã để lại những suy nghĩ, quan niệm về văn học hết sức tinh túy và vô cùng
quý báu cho hậu thế. Tuy nhiên, việc nghiên cứu lý luận, phê bình văn học cổ
điển Việt Nam vẫn đang còn rất khiêm tốn và cần được tiếp tục.
1.3. Khi nghiên cứu về lý luận, phê bình văn học cổ điển Việt Nam, các
nhà nghiên cứu chủ yếu chú trọng vào các mệnh đề gắn với tư tưởng Nho
giáo mà chưa chú tâm đến tư tưởng Lão Trang và Thiền tông. Đến nay, tư
tưởng Lão Trang và Thiền tông trong lý luận, phê bình văn học cổ điển Việt
Nam vẫn chưa được nghiên cứu một cách trực tiếp, toàn diện và hệ thống.
1.4. Trong các chương trình Ngữ văn, Văn học, Lý luận văn học, Văn
hóa học,… văn học cổ điển Việt Nam chiếm vị trí khá quan trọng. Nhưng việc
dạy và học văn học cổ điển Việt Nam một cách có hiệu quả là điều không dễ
dàng. Nếu như được trang bị một số kiến thức về lý luận, phê bình văn học cổ
điển Việt Nam và các khuynh hướng tư tưởng, trong đó có khuynh hướng
Thiền tông và Lão Trang thì chắc chắn cả người dạy và người học sẽ khắc
phục được phần nào khó khăn trên. Vì vậy, công trình nghiên cứu về “Ảnh
hưởng của tư tưởng Thiền Lão trong lý luận, phê bình văn học cổ điển Việt
Nam” sẽ cung cấp thêm tư liệu, tài liệu trong việc dạy học các chương trình

- Đối với lý luận, phê bình văn học Việt Nam, luận án chỉ nghiên cứu
giới hạn trong văn học cổ điển từ thế kỷ X đến cuối thế kỷ XIX, qua các tác
giả mang dấu ấn Lão Trang và Thiền tông.
Để làm rõ hơn đối tượng, phạm vi nghiên cứu, luận án giới thuyết một
số khái niệm sau:
3.2.1. Thiền Lão
Thiền Lão là một khái niệm mà nội hàm bao gồm cả tư tưởng Thiền
tông và Lão Trang xét trên bình diện những điểm tương đồng vi diệu của hai
tư tưởng. Từ đó tạo thành những phạm trù mỹ học Thiền Lão độc đáo như: Tự
nhiên, Hư tĩnh, Vô ngôn, Tiêu dao, Bình đạm,… Để thể hiện sự gắn kết, hòa
hợp của hai tư tưởng, từ đây, luận án sẽ sử dụng khái niệm Thiền-Lão (giữa
Thiền và Lão có dấu gạch ngang dính liền).


3
3.2.2. Văn học cổ Trung Quốc
Từ cách phân kỳ phổ biến của các nhà nghiên cứu, luận án xác định tên
gọi văn học cổ Trung Quốc là nền văn học từ Tiên Tần đến đời Thanh. Trên
phương diện lý luận văn học, luận án nghiên cứu văn học cổ Trung Quốc theo
kiểu tác giả mang dấu ấn Thiền-Lão, vì vậy, lý luận văn học cổ Trung Quốc
được chia theo triều đại, cụ thể gồm: Tiên Tần; Ngụy, Tấn, Nam Bắc triều;
Đường; Tống; Minh; Thanh.
3.2.3. Văn học cổ điển Việt Nam
- Về tên gọi:
Văn học Việt Nam từ thế kỷ X đến cuối thế XIX được các nhà nghiên
cứu gọi với nhiều cái tên, trong đó, văn học cổ điển Việt Nam và văn học
trung đại Việt Nam là hai thuật ngữ được sử dụng phổ biến. Luận án chọn tên
gọi là văn học cổ điển Việt Nam vì:
Khái niệm văn học trung đại Việt Nam chưa thật sự chính xác và chưa
bao hàm hết nội dung, ý nghĩa của thời kỳ văn học từ thế kỷ X đến cuối thế

tĩnh, Vô ngôn, Tiêu dao, Bình đạm trong lý luận, phê bình cũng như trong
thực tiễn sáng tác văn học cổ điển Việt Nam qua hai thời kỳ văn học Lý - Trần
và Lê - Nguyễn. Trong lý luận, phê bình văn học cổ điển Việt Nam, khuynh
hướng sùng thượng Tự nhiên, Hư tĩnh; đề cao Vô ngôn, Tiêu dao, Bình đạm
đã trở thành một trong những khuynh hướng chủ đạo và xuyên suốt, tạo nên
sự uyên áo và trường tồn đối với văn học cổ điển Việt Nam.
Luận án có thể được xem là công trình đầu tiên, tương đối có hệ thống
nghiên cứu về ảnh hưởng của tư tưởng Thiền-Lão trong lý luận, phê bình văn
học cổ điển Việt Nam. Từ đó, luận án góp phần làm rõ hơn về di sản lý luận
văn học, giúp hiểu sâu hơn tác phẩm văn học cổ điển Việt Nam và là tài liệu
tham khảo hữu ích cho việc tìm hiểu, học tập, nghiên cứu về văn học cổ điển
Việt Nam.
6. Cấu trúc nội dung của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, luận án được kết cấu
gồm 4 chương, 8 tiết.
Chương 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ
CÁC KHUYNH HƯỚNG TRONG LÝ LUẬN, PHÊ BÌNH
VĂN HỌC CỔ ĐIỂN VIỆT NAM
1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu
1.1.1. Việc nghiên cứu tư tưởng Thiền-Lão
Tư tưởng Lão Trang và Thiền tông đã được nhiều nhà nghiên cứu quan
tâm, trong đó các công trình tiêu biểu của các học giả, gồm:
Trung Quốc triết học sử của Phùng Hữu Lan; Lịch sử văn minh Trung
Quốc của Will Durant; Đạo của Vật lý, Một sự khám phá mới về sự tương
đồng giữa Vật lý hiện đại và Đạo học phương Đông của Frijof Capra; Thiền


5
luận của Daisetz Teitaro Suzuki; Thiền, Lịch sử về giai thoại và ảnh hưởng

Trung Quốc của các tác giả Việt Nam thể hiện trên hai phương diện: thứ nhất
là dịch thuật, thứ hai là các công trình nghiên cứu. Về dịch thuật, các tác giả
Việt Nam đã dịch các tác phẩm kinh điển về lý luận văn học cổ Trung Quốc
và dịch các công trình nghiên cứu về lý luận văn học cổ Trung Quốc. Các


6
công trình nghiên cứu của các tác giả Việt Nam, tiêu biểu gồm: Tinh hoa lý
luận văn học cổ điển Trung Quốc của Phương Lựu; Tư tưởng lý luận văn học
Trung Quốc - Lịch sử và tư liệu của Lê Giang; Khái niệm và Thuật ngữ lý
luận văn học Trung Quốc của Phạm Thị Hảo; Thi học cổ điển Trung Hoa Học phái, Phạm trù, Mệnh đề do Phương Lựu chủ biên.
1.1.3. Việc nghiên cứu tư tưởng Thiền-Lão trong lý luận, phê bình
văn học cổ điển Việt Nam
Trong phần này, luận án đề cập 3 nội dung:
Một là: Tình hình nghiên cứu lý luận, phê bình văn học cổ điển Việt
Nam, bao gồm: công tác khảo cứu, sưu tập và các công trình nghiên cứu về lý
luận, phê bình văn học cổ điển Việt Nam, tiêu biểu: Góp phần xác lập hệ
thống quan niệm văn học trung đại Việt Nam của Phương Lựu; Ý thức văn
học cổ trung đại Việt Nam của Lê Giang; Văn học Việt Nam từ thế kỷ X đến
hết thế kỷ XIX của Trần Nho Thìn; Lịch sử lý luận phê bình văn học Việt Nam
do Trịnh Bá Đĩnh chủ biên; Tìm hiểu quan niệm thơ cổ Việt Nam của Phạm
Quang Trung; Sự phát triển tư tưởng Thi học Việt Nam từ thế kỷ X đến hết thế
kỷ XIX của Nguyễn Thanh Tùng. Từ công tác khảo cứu, sưu tầm và nghiên
cứu lý luận, phê bình văn học cổ điển, có thể khẳng định: Thời cổ điển, ông
cha ta đã có một di sản lý luận, phê bình tồn sại song song với thực tiễn sáng
tác. Đây là một di sản tuy không đồ sộ nhưng lại đa dạng, phức tạp, có bề dày
gần mười thế kỷ và phát triển ngày càng mang tính tự ý thức. Công tác nghiên
cứu lý luận, phê bình văn học cổ điển vẫn đang tiếp tục nghiên cứu, nhưng rõ
ràng công việc này chưa tương xứng với di sản mà người xưa đã để lại. Tuy
nhiên, qua các công trình nghiên cứu của những người đi trước đã tạo tiền đề,

học cổ trung đại Việt Nam của Lê Giang; Thi pháp văn học trung đại Việt
Nam của Trần Đình Sử; Văn học Việt Nam từ thế kỷ X đến hết thế kỷ XIX của
Trần Nho Thìn. Từ những bài viết, công trình này, chúng tôi nhận thấy rằng:
Tuy đã được các nhà nghiên cứu quan tâm, đề cập ở những mức độ, mục đích
khác nhau, nhưng vấn đề ảnh hưởng của tư tưởng Thiền-Lão trong lý luận,
phê bình văn học cổ điển Việt Nam vẫn chưa được nghiên cứu một cách
chuyên sâu, hoàn chỉnh và có hệ thống.
1.2. Các khuynh hướng trong lý luận, phê bình văn học cổ điển Việt
Nam
Từ sự ảnh hưởng, chi phối của lý luận văn học cổ Trung Quốc và cơ sở
xã hội, ý thức tư tưởng, thực tiễn văn học Việt Nam; lý luận, phê bình văn học
cổ điển Việt Nam hình thành các khuynh hướng cơ bản như:
1.2.1. Khuynh hướng đề cao đạo đức trong sáng tác văn học
Khuynh hướng đề cao đạo đức của văn học có thể coi là dòng chính, là
văn thống của tư tưởng lý luận văn học cổ Trung Quốc. Khuynh hướng này có
nền tảng chủ yếu từ tư tưởng Nho giáo. Khuynh hướng đề cao đạo đức trong
văn học ở Trung Quốc được hình thành từ Khổng Tử, phát triển qua nhiều
chặng đường và có thể chia thành hai giai đoạn. Giai đoạn chính thống với
Khổng Tử, giai đoạn phi chính thống với Tống Nho. Về cơ bản, khuynh


8
hướng đề cao đạo đức thể hiện ở quan niệm “Văn học truyền thụ đạo lý
phong kiến”, “Văn dĩ tải đạo” và “Thi dĩ ngôn chí”. Trong lý luận, phê bình
văn học cổ điển Việt Nam những mệnh đề này luôn hiển hiện, tạo nên khuynh
hướng văn học có tính chủ đạo, chi phối, tất nhiên nó cũng mang đậm bản sắc
Việt Nam. Chính sức ảnh hưởng, lan tỏa mạnh của các quan niệm này đã góp
phần tạo nên một văn học cổ điển Việt Nam vừa đậm đà bản sắc dân tộc, vừa
là di sản đồ sộ với những giá trị nhân văn cao cả. Theo chiều hướng tích cực,
khi vào Việt Nam, với truyền thống yêu nước, các mệnh đề “Văn học truyền

định quan niệm về vai trò của văn học trong việc làm rạng danh đất nước,
tăng quốc thể, tự tôn dân tộc. Điều đó đã thể hiện rõ bản lĩnh, lòng tự tôn dân
tộc của ông cha ta trong quan hệ, ứng xử với Trung Quốc.
1.2.3. Khuynh hướng đề cao Tự nhiên, Hư tĩnh trong sáng tác văn học
Khuynh hướng đề cao Tự nhiên, Hư tĩnh trong sáng tác văn học gắn với
tư tưởng Thiền-Lão. Tư tưởng Thiền-Lão có tính hướng nội, vì vậy nhìn từ
bên ngoài, khuynh hướng đề cao Tự nhiên, Hư tĩnh của Thiền-Lão có vẻ mờ
nhạt trong lý luận, phê bình văn học cổ điển Việt Nam. Nhưng thực chất,
khuynh hướng này không chỉ xuất hiện từ rất sớm, mà còn biểu hiện khá sâu
đậm. Thời Lý - Trần, các thiền sư đã để lại nhiều tác phẩm văn học có giá trị,
trong đó đã bộc lộ ý thức văn học mang khuynh hướng Thiền-Lão. Từ đời Lê
đến đời Nguyễn, Nho giáo chiếm vị thế chủ đạo, nhưng trong văn học, các
nhà nho, bên cạnh quan niệm văn học Nho giáo, thẳm sâu trong tâm hồn vẫn
có một phần Thiền-Lão. Việc đề cao Tự nhiên, Hư tĩnh đã làm cho văn học
thời kỳ này có chiều sâu và sức sống trường tồn.
1.2.4. Khuynh hướng đề cao con người cá nhân và nghệ thuật tài tử
trong sáng tác văn học
Từ thế kỷ XVIII, lý luận, phê bình văn học cổ điển Việt Nam phát triển
phong phú và hình thành khuynh hướng mới - khuynh hướng đề cao con
người cá nhân và nghệ thuật tài tử - bên cạnh các khuynh hướng trước đó.
Những người theo khuynh hướng này vẫn là nhà nho, nhưng mang những nét
phi nho. Trong quan niệm và sáng tác văn chương của các nhà nho tài tử có
nét khá khác biệt với nhà nho chính thống, họ không còn bị vướng trong vòng
lễ tiết của Nho giáo, không sống trong cái ta phận vị, họ đề cao cái tài, cái
tình, cái tôi, đề cao tính hiện thực, nghệ thuật tài tử, muốn tách văn chương
nghệ thuật ra khỏi học thuật, xem văn chương và tài năng văn chương có một
giá trị riêng không đánh đồng với các ngành học thuật khác.
Tiểu kết
Sự hòa hợp độc đáo, kỳ diệu giữa Lão Trang và Thiền tông là căn cứ
tiền đề để bước đầu nghiên cứu tư tưởng Thiền-Lão với tư cách là một khái

2.1. Tự nhiên trong tư tưởng Thiền-Lão và trong lý luận, phê bình
văn học cổ Trung Quốc
Tự nhiên là phạm trù bản thể luận của tư tưởng Lão Trang. Khi Phật
giáo du nhập vào Trung Quốc, kết hợp với Lão Trang hình thành Thiền tông
Trung Quốc. Vì thế, tư tưởng Thiền tông cũng có quan niệm Tự nhiên giống
như Lão Trang.
Trong quan niệm của Lão Trang, Tự nhiên được hiểu ở hai cấp độ. Tự
nhiên là bản thể của Đạo, tức là Đạo và Tự nhiên là quy luật của vạn vật. Hai
nét nghĩa này cũng được Thiền tông quan niệm. Tự nhiên theo quan niệm của
Lão Trang và Thiền tông chính là “vô vi” và “vô tâm”. Tức là hốt nhiên làm,
không cần cố gắng, không miễn cưỡng, không câu nệ, là làm mà không cần
để ý việc mình làm nữa. Đó là hành động đến mức hoàn thiện.


11
Từ quan niệm về Tự nhiên của Lão Trang và Thiền tông, có thể thấy ở
cấp độ mỹ học, tư tưởng Thiền-Lão là tư tưởng sùng thượng Tự nhiên. Đó là
vẻ đẹp của Tự nhiên, tức Đạo, đó là vẻ đẹp của hành động “vô vi”, của quy
luật Tự nhiên.
Lý tưởng sùng chuộng Tự nhiên của Thiền-Lão có ảnh hưởng rất lớn
đối với nghệ thuật Trung Quốc, trong đó có quan niệm về văn học. Trong lịch
sử lý luận, phê bình văn học cổ Trung Quốc, từ thời Ngụy Tấn - Nam Bắc
triều đến thời Minh - Thanh đều có dấu ấn của Tự nhiên.
Khởi đầu cho khuynh hướng này là Lục Cơ trong Văn phú. Lục Cơ cho
rằng cần phải tránh những sự trang sức thái quá trong văn chương và phê
phán lối văn cầu kỳ mà vô vị, qua đó đề cao Tự nhiên. Lưu Hiệp, trong Văn
tâm điêu long, đã đề cao Tự nhiên trong văn chương. Tự nhiên theo quan
niệm của Lưu Hiệp có nét của Đạo và chủ trương vô vi mang ý vị Thiền-Lão.
Chung Vinh, trong Thi phẩm, đã đề cao vẻ đẹp Tự nhiên của thơ ca, phê phán
việc lạm dụng điển cố và thanh vận. Ông cho rằng trang sức che đậy không

các tác giả khác cũng đã bộc lộ quan niệm này, tiêu biểu là Trần Anh Tông,
Trần Quang Triều, Nguyễn Trung Ngạn, Chu Văn An, Nguyễn Phi Khanh.
Tìm hiểu về quan niệm Tự nhiên của các tác giả thời Lý -Trần, chúng ta
thấy rằng, tuy không có những phát biểu trực tiếp, nhưng từ thực tiễn sáng
tác, quan niệm sùng thượng Tự nhiên, ý thức về tầm quan trọng của Tự nhiên
trong văn chương cũng đã được các vị bộc lộ. Văn chương chính là Đạo, là
Tự nhiên. Sáng tác văn chương chính là đến với Đạo, trở về với chân tánh là
phục kỳ bổn. Văn chương phải Tự nhiên, phải tùy duyên mới đến được Tự
nhiên với Đạo. Tự nhiên là nơi di dưỡng tâm hồn để có thể an nhiên, tự tại
trong cuộc đời. Tất cả những điều này sẽ được các tác giả giai đoạn sau thể
hiện một cách trực tiếp hơn.
2.2.2. Tự nhiên trong quan niệm của các tác giả thời Lê - Nguyễn
Sau thời Lý - Trần, quan niệm sùng thượng Tự nhiên trong văn chương
được các tác giả thời Lê - Nguyễn tiếp tục thể hiện rõ nét hơn, trực tiếp hơn.
Tiêu biểu là Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm và sau đó, nhất là từ thế kỷ
XVIII nhiều tác giả đã phát biểu quan niệm về sùng thượng Tự nhiên trong
văn chương. Các ý kiến phát biểu tập trung vào nội dung chính: Văn chương
- Tự nhiên - Đạo, Văn chương - Tự nhiên không gọt giũa.
Văn chương - Tự nhiên - Đạo là quan niệm của các tác giả tiêu biểu:
Nguyễn Dưỡng Hạo, Ngô Thì Nhậm, Bùi Dương Lịch, Bùi Huy Bích, Ngô
Thì Chí, Vũ Duy Thanh, Nguyễn Đức Đạt, Cao Xuân Dục. Một số tác giả còn
bộc lộ quan niệm: Văn chương - quy luật Tự nhiên như: Lê Quý Đôn, Ngô
Thì Nhậm, Phạm Nguyễn Du, Nguyễn Quýnh, Lê Hữu Trác, Cao Bá Quát,
Nguyễn Hàm Ninh, Vũ Duy Thanh.
Văn chương - Tự nhiên không gọt giũa là quan niệm của nhiều tác giả,
tiêu biểu: Lê Quý Đôn, Nguyễn Địch Cát, Ngô Thì Nhậm, Nguyễn Văn Siêu,
Nguyễn Thông, Ngô Thì Sỹ, Cao Bá Quát, Bùi Văn Dị.


13

dưỡng tính tình, giữ gìn sự thanh sạch của tâm hồn và cao hơn là để thể hiện
sự thấu triệt chân lý cuộc đời và hướng đến sự giác ngộ, đạt Đạo.


14
Chương 3
PHẠM TRÙ HƯ TĨNH VÀ VÔ NGÔN
TRONG LÝ LUẬN, PHÊ BÌNH VĂN HỌC CỔ ĐIỂN VIỆT NAM
3.1. Hư tĩnh
3.1.1. Hư tĩnh trong tư tưởng Thiền-Lão và trong lý luận, phê bình
văn học cổ Trung Quốc
Nếu phạm trù Tự nhiên có nguồn gốc chủ yếu từ Lão Trang thì phạm
trù Hư tĩnh là sản phẩm hài hòa tuyệt vời nhất của tư tưởng Thiền-Lão.
Tư tưởng Lão Trang rất đề cao Hư - Vô. Lão Tử xem Hư - Vô là nguồn
gốc của vạn vật. Kế thừa Lão Tử, Trang Tử cũng đề cao Hư - Vô trong tư
tưởng của mình. Ông cho rằng, chỉ có Hư mới tiếp xúc được với Đạo và Hư
cũng chính là Đạo. Lão Trang quan niệm Hư - Vô là bản thể, là Đạo, tương tự
như quan niệm tính Không của Phật giáo. Nguyên lý Không của Thiền Phật
giáo là một khẳng định ở tầm chủ thuyết chứ không phải là một phủ
định thông thường. Tính Không là tính không thực thể của mọi sự vật hiện
tượng và gắn với vô ngã, vô thường. Về mặt bản thể luận, Hư - Vô - Không
có điểm tương đồng giữa Lão Trang và Phật giáo Thiền tông.
Cùng với phạm trù Hư, quan niệm của Lão Trang rất coi trọng Tĩnh,
Tĩnh là bản thể, thuộc tính của Đạo. Hư tương thông với Tĩnh. Có Hư tĩnh,
tức không thành kiến, không tư dục, sẽ thấy được Đạo, thấy được quy luật của
Đạo, đó là từ vô sinh hữu, rồi từ hữu trở về vô. Giống như tư tưởng Lão
Trang, Hư tĩnh cũng là bản thể của Thiền tông. Nói đến Hư tĩnh trong ThiềnLão tức là nói đến Hư, Không, Tĩnh. Cũng giống như phạm trù Tự nhiên,
phạm trù Hư tĩnh trong Thiền-Lão đã ảnh hưởng rất lớn đến văn hóa, nghệ
thuật. Khuynh hướng văn học Thiền-Lão không chỉ sùng thượng Tự nhiên,
mà rất coi trọng Hư tĩnh.

Cứu Chỉ, thiền sư Ngộ Ấn, thiền sư Viên Chiếu, Tuệ Trung Thượng Sĩ.
Thứ ba: Cùng với cái tâm Hư tĩnh, cảnh trong thơ Thiền cũng Hư tĩnh,
với các bài thơ tiêu biểu của Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Huyền
Quang.
Thứ tư: Quan niệm Hư tĩnh trong Khóa hư lục của Trần Thái Tông.
3.1.2.2. Quan niệm Hư tĩnh của các tác giả thời Lê - Nguyễn
- Hư tĩnh qua những lời phát biểu trực tiếp
Kế thừa các bậc tiền bối, các tác giả thời Lê - Nguyễn khi bàn về văn
chương chú trọng đến lợi ích của Hư tĩnh. Vì Hư tĩnh không những là phép
dưỡng sinh của con người, mà còn là môi trường thuận lợi cho thơ ca. Người
sáng tác văn chương cần đạt đến cái tâm thanh tĩnh, giữ tâm hồn thanh đạm,
hồn nhiên thì mới có thơ hay. Ngoài tứ thơ hay, thi nhân cần có môi trường
yên tĩnh, nhàn hạ, và đặc biệt là tâm không vướng mắc chuyện công danh.
Người nhàn, cảnh nhàn và cái tâm thanh thản thì tự nhiên sẽ sáng tác được
thơ hay.
Lê Thánh Tông, Nguyễn Trãi, đặc biệt là từ thế kỷ XVIII, nhiều tác giả


16
trình bày trực tiếp quan niệm Hư tĩnh trong văn chương. Tiêu biểu: Ngô Thế
Lân, Trần Thế Xương, Ninh Tốn, Nguyễn Hành, Nhữ Bá Sĩ, Miên Trinh và
Ngô gia văn phái. Các phát biểu của họ đều đề cao vai trò của Hư tĩnh trong
sáng tác văn chương, xem Hư tĩnh là phẩm chất của văn chương.
- Hư tĩnh trong thực tiễn sáng tác
Quan niệm Hư tĩnh trong văn chương không chỉ được thể hiện thông
qua những lời phát biểu trực tiếp, những tác phẩm văn học có tính lý luận, mà
còn được biểu hiện thông qua sáng tác. Từ thời Lê - Nguyễn, trong thơ văn
của các tác giả: Lê Thánh Tông, Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn
Du, Miên Thẩm, Nguyễn Khuyến luôn có dấu ấn của Hư tĩnh.
Hư tĩnh là quan niệm văn học xuyên suốt qua hai giai đoạn văn học văn

nghĩa vừa khơi gợi trí tưởng tượng, sự khám phá nơi người đọc. Trung Quốc
là trung tâm của nghệ thuật phương Đông, từ ảnh hưởng của Thiền-Lão, quan
niệm Vô ngôn trong văn học cổ nói chung và trong lý luận, phê bình văn học
nói riêng rất được quan tâm.
Ngay từ thời Ngụy Tấn, thời kỳ được xem là giai đoạn khởi phát và
hình thành nền lý luận, phê bình văn học cổ Trung Quốc, quan niệm Vô ngôn
đã được Lục Cơ đề cập. Và từ đó, quan niệm này dần trở thành tiêu chuẩn
nghệ thuật cơ bản vào đời Đường, đời Tống và kéo dài cho đến đời Thanh.
Trong lý luận, phê bình văn học cổ Trung Quốc, Vô ngôn không chỉ là yếu tố
thẩm mỹ mà theo thời gian, Vô ngôn đã trở thành lý tưởng thẩm mỹ, phong
cách nghệ thuật và trở thành nét truyền thống trong văn học cổ Trung Quốc.
3.2.2. Vô ngôn trong lý luận, phê bình văn học cổ điển Việt Nam
Vô ngôn trong lý luận, phê bình văn học cổ điển Việt Nam biểu hiện
khá đa dạng và xuyên suốt.
3.2.2.1. Quan niệm Vô ngôn của các tác giả thời Lý - Trần
Quan niệm “vô” trong Thiền tông hết sức uyên áo, nhiều sắc thái như
vô tâm, vô niệm, vô ngã, vô tướng, vô pháp, vô lự, vô sự,… và Vô ngôn.
Thiền tông không dùng lời nói làm phương tiện để dạy dỗ, truyền Đạo, Thiền
tông dĩ tâm truyền tâm. Vì vậy, Vô ngôn là quan niệm cốt tử của các thiền sư.
Vô ngôn trong quan niệm của các thiền sư vừa là Vô ngôn trong triết lý
Thiền và cũng là Vô ngôn trong thơ Thiền. Vô ngôn mở ra cảnh giới tinh thần
vô hạn không chỉ riêng ở thiền sư mà còn cho những người cảm thụ.
Không chỉ ở các thiền sư, quan niệm Vô ngôn còn được các nhà nho,
quý tộc thể hiện trong sáng tác của mình, tiêu biểu là Trần Quang Triều, Trần
Minh Tông.
Các tác giả thời Lý - Trần đã thể hiện quan niệm Vô ngôn ngay chính
trong tác phẩm. Từ quan niệm Vô ngôn của Thiền tông, họ đã thể hiện quan
niệm Vô ngôn trong thơ. Đó chính là những khoảng lặng, khoảng trống nhiệm
màu, là không nói nhưng lại nói rất nhiều, Vô ngôn nhưng ý lại vô cùng.


đậm đến văn học Trung Quốc và các nước khác, trong đó có Việt Nam.
Văn học cổ điển Việt Nam hình thành vào khoảng thế kỷ thứ X, thời
gian này, ở Trung Quốc, văn học đã phát triển rực rỡ, lý luận, phê bình văn
học đã đạt đến độ hoàn thiện. Vì vậy, sự ảnh hưởng của khuynh hướng đề cao
Hư tĩnh, Vô ngôn vào văn học cổ điển Việt Nam là điều không phải bàn luận.
Trong lý luận, phê bình văn học cổ điển Việt Nam, quan niệm Hư tĩnh, Vô


19
ngôn khởi phát từ thời Lý - Trần phát triển hoàn thiện trong thời Lê - Nguyễn.
Nếu như thời Lý - Trần, quan niệm Hư tĩnh, Vô ngôn chủ yếu được biểu hiện
qua tác phẩm văn chương, thì đến thời Lê - Nguyễn, quan niệm này được bộc
lộ chủ yếu qua các lời tựa, lời bạt, lời bình,... Quan niệm Hư tĩnh, Vô ngôn đã
góp phần quan trọng tạo nên sự uyên áo, nét đặc sắc và giá trị trường tồn cho
văn học cổ điển Việt Nam.
Chương 4
PHẠM TRÙ TIÊU DAO VÀ BÌNH ĐẠM
TRONG LÝ LUẬN, PHÊ BÌNH VĂN HỌC CỔ ĐIỂN VIỆT NAM
4.1. Tiêu dao
4.1.1. Tiêu dao trong tư tưởng Thiền-Lão và trong lý luận, phê bình
văn học cổ Trung Quốc
Tiêu dao ban đầu là quan niệm của Lão Trang, sau đó là của Thiền tông.
Tiêu dao vừa mang quan niệm vô vi của triết học Lão Trang, vừa bao hàm tư
tưởng giải thoát của Phật giáo Thiền tông. Tiêu dao không chỉ là quan niệm
quan trọng trong tư tưởng Thiền-Lão, mà đã trở thành một khuynh hướng
nghệ thuật trong văn học cổ Trung Quốc. Quan niệm Tiêu dao trong lý luận,
phê bình văn học cổ Trung Quốc xuất hiện từ rất sớm, ngay từ thời Ngụy Tấn
và kéo dài đến tận thời Minh, Thanh. Tiêu biểu như: Lục Cơ, Lưu Hiệp, Lý
Bạch, Thích Hiệu Nhiên, Tư Không Đồ, Tô Đông Pha, Nghiêm Vũ, Âu
Dương Tu, Viên Mai. Trong lý luận, phê bình văn học cổ Trung Quốc, Tiêu

vô cùng, tức là phải đưa tinh thần ra ngoài tám cõi, thả tâm chí trên muôn
tầm. Cũng là quan niệm Tiêu dao, nhưng Ngô Thì Hoàng, Cao Bá Quát, Miên
Trinh thì bộc lộ ở thái độ bằng lòng, than trách vì không được Tiêu dao.
Quan niệm Tiêu dao của các tác giả văn học thời Lý - Trần và thời Lê Nguyễn đều mang sắc thái Tiêu dao của Thiền-Lão. Với họ, Tiêu dao là vượt
ra khỏi những vướng bận của cuộc đời chật hẹp, tung cánh tự do trong vũ trụ
bao la, sống huyền đồng với vạn vật, không nương nhờ bất kỳ thứ gì. Tiêu
dao của họ đã đạt đến tuyệt đối với trạng thái vô tâm, vô niệm, vô ngã, vô sự.
Lý luận, phê bình văn học cổ điển Việt Nam không chỉ có quan niệm Tiêu dao
như đã bàn, mà Tiêu dao còn thể hiện ở phong cách nghệ thuật.
4.1.2.2. Phong cách nghệ thuật Tiêu dao
- Phong cách Tiêu dao qua những lời bàn trực tiếp
Qua lời của Nguyễn Dữ, Lê Quý Đôn, Phan Huy Ích, Phan Huy Chú,
phong cách Tiêu dao thường gắn với biểu hiện của tự do, phóng khoáng,
phiêu dật mang màu sắc Thiền-Lão.
- Phong cách Tiêu dao của một số tác giả tiêu biểu
Phong cách Tiêu dao trong văn chương cổ điển Việt Nam được hình
thành, phát triển từ thời Lý - Trần đến thời Lê - Nguyễn, tiêu biểu như Tuệ
Trung, Lý Tử Cấu, Ninh Tốn, Miên Thẩm, Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát.
Trong những tác giả này, có lẽ chỉ một mình Tuệ Trung mới có phong cách
Tiêu dao, phiêu dật như kiểu Lý Bạch, những tác giả còn lại, Tiêu dao chỉ


21
mới dừng lại ở mức độ sắc thái.
4.2. Bình đạm
4.2.1. Bình đạm trong tư tưởng Thiền-Lão và trong lý luận, phê bình
văn học cổ Trung Quốc
Bình đạm có nguồn gốc chủ yếu từ tư tưởng Lão Trang và Thiền tông.
Bình đạm bao hàm ý nghĩa nhẹ mà cạn tương thông với “hư”, “vô”, “tĩnh”.
Chỉ có Bình đạm mới có thể tĩnh lặng, mới có thể phá chấp, vô ngã. Bình đạm

22
Thứ nhất: Một số tác giả thông qua nhận xét về văn chương thời xưa, về
các tác giả mà mình ái mộ, để từ đó nêu lên quan niệm Bình đạm của mình.
Tiêu biểu: Nguyễn Dữ, Ngô Thì Sĩ, Lê Quý Đôn, Phan Huy Chú, Nguyễn Văn
Siêu, Nhữ Bá Sĩ, Miên Trinh, Nguyễn Đức Đạt,...
Thứ hai: Một số tác giả khác trình bày trực tiếp quan niệm Bình đạm
của mình qua các bài bạt, tựa, bình. Tiêu biểu: Nguyễn Dữ, Nguyễn Cư Trinh,
Vũ Phương Đề, Lê Quý Đôn, Ngô Thì Nhậm, Ngô Thì Chí, Phạm Nguyễn
Du, Nguyễn Dưỡng Hạo, Vũ Duy Thanh,... Các tác giả này đã đề cập đến
Bình đạm ở các phương diện: ý nghĩa của Bình đạm, Bình đạm gắn với tự
nhiên, sự thô vụng, giản dị; Bình đạm dưới góc độ ngôn từ; Bình đạm gắn với
tư tưởng.
4.2.2.2. Phong cách nghệ thuật Bình đạm
Như đã nói, quan niệm Bình đạm trong văn chương mang màu sắc
Thiền-Lão, vì vậy, trong thơ cổ điển Việt Nam, Bình đạm chủ yếu được biểu
hiện trong thơ Thiền và một số tác giả cổ điển có thiên hướng gắn với tư
tưởng Thiền-Lão. Và cũng chính điều đó, phong cách Bình đạm trong thơ cổ
điển Việt Nam thường được biểu hiện chủ yếu qua bốn dạng thức: (1) Tư
tưởng hòa đồng, lấy cảm hứng từ thiên nhiên; (2) Những gam màu nhạt trong
thơ; (3) Ngôn ngữ giản dị, hàm súc, tứ thơ ngắn gọn; (4) Sự dửng dưng của
người nghệ sĩ.
Cũng giống như Trung Quốc, Bình đạm trong lý luận văn học cổ điển
Việt Nam không đơn thuần là một yếu tố thẩm mỹ, mà đã được nâng lên
thành lý tưởng thẩm mỹ và phong cách nghệ thuật. Bình đạm trong lý luận,
phê bình văn học cổ điển Việt Nam có ảnh hưởng từ quan niệm Bình đạm của
văn học cổ Trung Quốc, nhưng mang dấu ấn Việt Nam. Bởi nó gắn với tình
yêu quê hương, đất nước; gắn với cách sống giản dị, liêm chính; cách ứng xử
linh hoạt, an nhiên, tự tại của người Việt Nam. Sở dĩ Bình đạm được yêu
thích, vì nó gắn với sự giản dị, lạt, dợt, ít, mỏng, sơ sài,... rồi từ đó những
khoảng không, rỗng, lặng hiện ra; nó hiện ra cái u, cái tế, cái vi, cái mật, cái


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status