Mối quan hệ giữa "nhập thế" của Phật giáo Việt Nam với sự hình thành và phát triển của văn học cổ điển Việt Nam potx - Pdf 19

Mối quan hệ giữa "nhập thế"
của Phật giáo Việt Nam với sự
hình thành và phát triển của văn
học cổ điển Việt Nam
Khi bàn về tình trạng văn học đương thời, Lê Quý Đôn đánh gia cao thơ và từ
của Đỗ Pháp Thuận và Ngô Chân Lưu: “Câu thơ của sư Thuận làm cho sứ
thần nhà Tống phải kinh phục, văn từ Chân Lưu vang tiếng trong một thời”
(26)
.
Quốc sư Vạn Hạnh đã viết 5 bài thơ, trong đó bài Thị đệ tử là bài thơ có
giá trị nhất:
Thân như điện ảnh hữu hoàn vô.
Vạn mộc xuân vinh, thu hựu khô.
Nhậm vận thịnh suy vô bố uý,
Thịnh suy như lộ thảo đầu phô.
(Thân như bóng chớp, có rồi không,
Cây cối xuân tươi, thu não nùng.
Mặc cuộc thịnh suy đừng sợ hãi,
Kìa kia ngọn cỏ giọt sương đông)
Bài thơ Cáo tật thị chúng của Đại sư Mãn Giác (? ~ 1096) tuy là cảm thán
sự ngắn ngủi của cuộc đời con người, nhưng đồng thời cũng báo cho chúng ta
biết một hy vọng của cuộc sống đang khi khó khăn gian nan, thể hiện một tinh
thần khắc phục hoàn cảnh để mà vươn lên:
Xuân khứ bách hoa lạc,
Xuân đáo bách hoa khai.
Sự trục nhãn tiền quá,
Lão tòng đầu thượng lai.
Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận,
Đình tiền tạc dạ nhất chi mai.
(Xuân qua, trăm hoa rụng,
Xuân tới, trăm hoa tươi.

Tuệ Trung Thượng sĩ (1230 ~ 1291) tên thật là Trần Tung. Thượng sĩ
“bẩm tính thanh cao, nổi tiếng thuần hậu. được cử trấn giữ quân dân ở lộ Hồng.
Hai lần giặc Bắc xâm lăng, có công với nước, lần hồi được thăng chuyển giữ
Tiết độ sứ vùng biển trại Thái Bình”
(28)
. Tuệ Trung Thượng sĩ sáng tác một số
bài thơ hay với phong cách nghệ thuật phóng khoáng, siêu việt, độc đáo:
Thiên địa diếu vọng hề hà mang mang,
Trượng sách ưu du hề phương ngoại phương.
Hoặc cao cao hề vân chi sơn,
Hoặc th âm thâm hề thuỷ chi dương.
Cơ tắc xan hề hoà la phạn.
Khốn tắc miên hề hà hữu hương
(Ngắm trông trời đất sao mà mênh mông,
Chống gậy nhởn nhơ ngoài thế gian.
Hoặc đến chỗ núi mây cao cao,
Hoặc đến chỗ biển nước sâu sâu.
Đói thì ăn cơm hoà la,
Mệt thì ngủ làng “không có làng” )
(Phóng cuồng ngâm)
Để bày tỏ tình cảm của mình, Tuệ Trung Thượng sĩ đã khéo cải biến
những câu thơ Đường Trung Quốc: Cựu thời Vương Tạ đường tiền yến, Phi
nhập tầm thường bách tính gia (Đàn chim én trước lầu họ Vương họ Tạ thời
trước, Nay bay vào đậu ở nhà trăm họ tầm thường) thành Quân khán Vương,
Tạ lầu tiền yến, Kim nhập tầm thường bách tính gia (Hãy xem đàn én lầu
Vương, Tạ, Nay xuống làm thân với mọi nhà. Thế thái hư huyễn). Ông cải biến
như vậy đã làm phong phú thủ đoạn diễn đạt thơ ca chữ Hán Việt Nam.
Trúc Lâm Đại sĩ Trần Nhân Tông tên họ là Trần Khâm, là vua thứ ba nhà
Trần, cũng là một vua có thành tựu lớn nhất về văn học trong thời kỳ nhà Trần.
Trần Nhân Tông “thánh tính sáng suốt, đa tài, hiếu học, đọc khắp sách vở,

thanh thoát, ý thú siêu quần”. “Cái tươi mới, chắc khoẻ ở đây vượt xa khuôn
khổ người thường. Vị quốc quân nghìn xe mà hứng cảm như vậy, ai bảo là
người cùng khổ thì thơ mới hay?”
(30)
.
Huyền Quang, vị tổ sư đời thứ ba của phái Trúc Lâm “học rộng xem
nhiều, tinh thông Phật pháp, tăng ni theo học đến gần ngàn người” Các tác
phẩm Phật học “từng qua tay Huyền Quang thì một chữ không thể thêm, một
chữ cũng không thể bớt. Rồi in thành sách để truyền lại cho đời sau”
(31)
. Tam
tổ thực lục chép: “Buổi chiều trở về phòng tăng thiền định, chợt thấy đôi chim
khách trắng không biết từ đâu bay tới đậu trên cây trước sân, rồi vừa bay liệng
vừa kêu như điềm báo tin vui, sư liền ngâm một bài theo điệu Tây Giang
nguyệt”
(32)
. Đoạn văn nói trên có thể chứng tỏ tài năng thơ văn cao siêu của
Huyền Quang. Nói chung, thơ chữ Hán của Huyền Quang cô đọng, súc tích,
cảnh thơ cao xa:
Thu phong ngọ dạ phất thiềm nha,
Sơn vũ tiêu nhiên chẩm lục la.
Dĩ hỉ thành thiền tâm nhất phiến,
Cùng thanh tức tức vị thuỳ đa.
(Gió thu ban tối thổi hiên tây,
Nhà núi đìu hiu tựa đám cây.
Tấm dạ tu hành từ những thuở,
Dế kêu rầu rĩ bởi ai đây)
(Sơn vũ)
Phật giáo Việt Nam không những góp phần lớn vào sự hình thành và
phát triển của văn học chữ Hán Việt Nam, mà còn thúc đẩy sự hình thành và

giáo. Phật giáo Việt Nam có tính cởi mở, tính hiện thực và tính đa dạng riêng biệt
của mình. Những đặc tính nói trên của Phật giáo Việt Nam đã hun đúc nên tính
“nhập thế tích cực” của mình. Chính tính “nhập thế tích cực”này đã trở thành
nguồn động lực của văn học cổ điển Việt Nam hình thành và phát triển./


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status