Mối quan hệ giữa "nhập thế" của Phật giáo Việt Nam với sự hình thành và phát triển của văn học cổ điển Việt Nam Phần 2 - Pdf 19



Mối quan hệ giữa "nhập thế" của
Phật giáo Việt Nam với sự hình
thành và phát triển của văn học cổ
điển Việt Nam
Phần 2

Vào năm 981, để trả lời Lê Đại Hành hỏi về vận nước, Thiền sư Đỗ Pháp
Thuận đã làm một bài thơ Quốc tộ:

Quốc tộ như đẳng lạc,
Nam thiên lý thái bình.
Vô vi cư điện các,
Xứ xứ tức đao binh

(Vận nước rất bền vững,
Trời Nam mở thái bình.
Vô vi trên điện gác,
Chốn chốn dứt đao binh)

Bài Quốc tộ là một bài thơ cổ nhất còn giữ được của dòng văn học viết
Việt Nam. Tuy là tác phẩm thuộc thời kỳ nảy nở của văn học Việt Nam, nhưng
nó rất chuẩn xác về vần bằng trác. Với phong cách “đi sát hiện thực”, nó đã
sớm xác lập được hướng đi cho cả một tiến trình văn học về sau. Đó là tiến

Sự trục nhãn tiền quá,
Lão tòng đầu thượng lai.
Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận,
Đình tiền tạc dạ nhất chi mai.

(Xuân qua, trăm hoa rụng,
Xuân tới, trăm hoa tươi.
Trước mắt, việc đi mãi,
Trên đầu, già đến rồi.
Chớ bảo xuân tàn hoa rụng hết,
Đêm qua sân trước nở hoa mai)

Dương Không Lộ (?~1119 ) có để lại 2 bài thơ, trong đó Ngư Nhàn là một
bài thơ hay. Với ngôn ngữ chất phác, bài thơ cho chúng ta thấy cảnh tượng
trong sáng tĩnh mịch, siêu nhiên cao khiết, hoà nhập vào thiên nhiên:

Vạn Lý thanh giang, vạn lý thiên,
Nhất thôn tang giá, nhất thôn yên.
Ngư ông thuỵ trước vô nhân hoán,
Quá ngọ tỉnh lai tuyết mãn thuyền.

(Bát ngát sông xanh, bát ngát trời,
Một thôn mây khói, một dâu gai.
Ông chài ngủ tít không người gọi,
Tỉnh dậy thuyền trưa ngập tuyết rơi)

Tóm lại, trên văn đàn Việt Nam vào thế kỷ X-XII, có khoảng trên bốn chục
nhà sư viết văn làm thơ
(27)
. Sự nghiệp sáng tác của các nhà sư đã góp phần

Chống gậy nhởn nhơ ngoài thế gian.
Hoặc đến chỗ núi mây cao cao,
Hoặc đến chỗ biển nước sâu sâu.
Đói thì ăn cơm hoà la,
Mệt thì ngủ làng “không có làng” )

(Phóng cuồng ngâm)

Để bày tỏ tình cảm của mình, Tuệ Trung Thượng sĩ đã khéo cải biến
những câu thơ Đường Trung Quốc: Cựu thời Vương Tạ đường tiền yến, Phi
nhập tầm thường bách tính gia (Đàn chim én trước lầu họ Vương họ Tạ thời
trước, Nay bay vào đậu ở nhà trăm họ tầm thường) thành Quân khán Vương,
Tạ lầu tiền yến, Kim nhập tầm thường bách tính gia (Hãy xem đàn én lầu
Vương, Tạ, Nay xuống làm thân với mọi nhà. Thế thái hư huyễn). Ông cải biến
như vậy đã làm phong phú thủ đoạn diễn đạt thơ ca chữ Hán Việt Nam.

Trúc Lâm Đại sĩ Trần Nhân Tông tên họ là Trần Khâm, là vua thứ ba nhà
Trần, cũng là một vua có thành tựu lớn nhất về văn học trong thời kỳ nhà Trần.
Trần Nhân Tông “thánh tính sáng suốt, đa tài, hiếu học, đọc khắp sách vở,
thông hiểu cả nội và ngoại điển. Lúc rảnh việc nước, vua mời các khách Thiền
đến giảng dạy tâm tông, lại tham vấn Tuệ Trung Thượng sĩ, nhờ thế đạt được
cốt tuỷ của Thiền, nên thờ Tuệ Trung theo lễ của bậc thầy”
(29)
. Trần Nhân Tông
không yêu ngôi vua, mà yêu Phật giáo. Năm 1293, ông truyền ngôi lại cho Trần
Anh Tông. Năm 1299, Trần Nhân Tông vào thẳng núi Yên Tử, tinh cần tu 12
hạnh đầu đà lấy hiệu là “Hương Vân Đại Đầu Đà”. Cuối đời, Trần Nhân Tông
khai sáng phái Trúc Lâm trong đạo Phật Việt Nam. Ông được gọi là “vị tổ thứ
nhất Trúc Lâm”. Ông sáng tác nhiều tác phẩm Phật giáo và thơ văn chữ Hán.
Tác phẩm thơ văn chữ Hán có Trần Nhân Tông thi tập và Đại Hương Hải ẩn thi

chữ cũng không thể bớt. Rồi in thành sách để truyền lại cho đời sau”
(31)
. Tam tổ
thực lục chép: “Buổi chiều trở về phòng tăng thiền định, chợt thấy đôi chim
khách trắng không biết từ đâu bay tới đậu trên cây trước sân, rồi vừa bay liệng
vừa kêu như điềm báo tin vui, sư liền ngâm một bài theo điệuTây Giang
nguyệt”
(32)
.

Đoạn văn nói trên có thể chứng tỏ tài năng thơ văn cao siêu của
Huyền Quang. Nói chung, thơ chữ Hán của Huyền Quang cô đọng, súc tích,
cảnh thơ cao xa:

Thu phong ngọ dạ phất thiềm nha,
Sơn vũ tiêu nhiên chẩm lục la.
Dĩ hỉ thành thiền tâm nhất phiến,
Cùng thanh tức tức vị thuỳ đa.

(Gió thu ban tối thổi hiên tây,
Nhà núi đìu hiu tựa đám cây.
Tấm dạ tu hành từ những thuở,
Dế kêu rầu rĩ bởi ai đây)

(Sơn vũ)

Phật giáo Việt Nam không những góp phần lớn vào sự hình thành và phát
triển của văn học chữ Hán Việt Nam, mà còn thúc đẩy sự hình thành và phát
triển của văn học chữ Nôm Việt Nam. Hầu như tất cả tác phẩm chữ Nôm trong
thời kỳ ban đầu của văn học chữ Nôm bây giờ vẫn giữ được đều là do các đại

sử thế kỷ X-XIV là biểu hiện của việc Việt Nam hoá Phật giáo. Sau khi truyền
vào Việt Nam, Phật giáo đã hoà nhập vào văn hoá Việt Nam, dung hợp Nho
giáo, Đạo giáo. Phật giáo Việt Nam có tính cởi mở, tính hiện thực và tính đa
dạng riêng biệt của mình. Những đặc tính nói trên của Phật giáo Việt Nam đã
hun đúc nên tính “nhập thế tích cực” của mình. Chính tính “nhập thế tích
cực”này đã trở thành nguồn động lực của văn học cổ điển Việt Nam hình thành
và phát triển./


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status