BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
NGUYỄN THỊ HÀNHỮNG XU HƯỚNG CHÍNH
CỦA PHÊ BÌNH VĂN HỌC VIỆT NAM
TRONG THẬP NIÊN ĐẦU THẾ KỈ XXI
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
NGHỆ AN - 2014
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
NGUYỄN THỊ HÀ
NHỮNG XU HƯỚNG CHÍNH
CỦA PHÊ BÌNH VĂN HỌC VIỆT NAM
TRONG THẬP NIÊN ĐẦU THẾ KỈ XXI
Chuyên ngành: Lý luận văn học
Mã số: 60.22.01.20
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
Người hướng dẫn khoa học:
PGS. TS. PHAN HUY DŨNG
NGHỆ AN - 2014
MỤC LỤC
Trang
!"#$!%&'
()*$)!%&'
+,-!"."!%&'
x!^7'jx!(
:h".7X'32 01t'^!"%RS$x!^7'j
x!
9y!2#S#d!01t'^!"%RS$x!^7'jx!
=z"{"`$|01t'^!"%RS$x!^7'jx!
6-!9:;9<Q:mn9<6:o9:6CD,:EFG9:HI9:J6H>K=9D=AL9<=:M,9>E9
=:NOPQQ>=p<q69:G9}>=m~9<,:EFG9:5(
:^!4Rh45(
r'1X$h!01t'^!"%RS^!4Rh4
9d'!01t'^!"%RS^!4Rh4
•!T1c€•01t'^!"%RS^!4Rh4
:^!.!h\
9y!3&/lh!01t'^!"%RS^!.!h
X$$^7!.€`"3 !01t'^!"%RS^!.
!h
=.)!]x")*$#ic !01t'^!"%RS
^!.!h
:^!.Wc014Y
6-vcۥ01t'^!"%RS^!.Wc014
=c7#!`'Rh2T010X"%RS7%t'^!j
bc!171U'1X$7!t'^!"%RS^!.Wc
014
4
ON=M9Z
=‚>>K=:DO:ƒLZ(
5
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Ở Việt Nam, phê bình văn học chỉ thực sự xuất hiện cùng với quá trình
1932, 1932- 1945, 1945-1985 và 1985- 2000. Do mục đích và nhiệm vụ bao
quát trên diện rộng (cả nghiên cứu, lí luận, phê bình) và trong suốt thời gian
một thế kỉ văn học với bốn giai đoạn, nên tác giả chưa có điều kiện trình bày
kĩ càng và đầy đủ diễn biến tình hình, diện mạo của phê bình văn học ở mỗi
giai đoạn, nhất là chưa thể tìm hiểu kĩ về những hiện tượng quan trọng, những
vấn đề của phê bình văn học ở mỗi chặng đường. Nhưng cho đến nay, đây là
công trình có quy mô bao quát nhất về lí luận phê bình văn học Việt Nam thế
kỉ XX, được viết một cách công phu, nghiêm túc với những nhận định xác
đáng, sâu sắc.
Tiếp đến, cuốn Lý luận và phê bình văn học - Đổi mới và phát triển
(Kỷ yếu Hội thảo khoa học) của Viện Văn học (Nxb Khoa học xã hội Hà Nội,
2005) tập hợp những bài viết trong Hội nghị về Tình hình phê bình văn học,
nghệ thuật do Hội đồng lý luận- phê bình văn học, nghệ thuật Trung ương tổ
chức tại Hà Nội ngày 22/ 7/ 2004. Cuốn sách đã giúp cho người đọc có một
cái nhìn khá bao quát về thực trạng của lý luận văn học trong nước và những
tác động của lý luận văn học nước ngoài đối với lý luận văn học Việt Nam.
Bên cạnh đó, các nhà nghiên cứu, phê bình trong nước như Phan Trọng
Thưởng, Trương Đăng Dung, Trần Đình Sử, Hoàng Trinh, Thành Duy, Lã
Nguyên, Nguyễn Văn Long, Trần Ngọc Vương, Nguyễn Đăng Điệp, Vương
Trí Nhàn, Phạm Xuân Nguyên, … qua các bài viết của mình đã đi sâu bàn bạc
các vấn đề về bản chất, đối tượng của phê bình văn học và bước đầu nhận
định thực trạng phê bình văn nghệ những năm gần đây. Tuy nhiên, các tác giả
7
cũng chưa đề cập nhiều đến những xu hướng của phê bình từ góc nhìn quan
điểm phê bình hay góc nhìn đối tượng phê bình.
Đến với Phê bình văn học Việt Nam hiện đại (Nxb Văn học, 2011) của
Trịnh Bá Đĩnh, một công trình tập hợp những bài viết của tác giả về phê
bình văn học Việt Nam trong quá khứ chưa xa và đương đại và được tác giả
gọi là “hiện đại”. Cuốn sách đề cập đến những vấn đề của nền phê bình văn
học hiện đại nước nhà: lịch sử, các phương pháp của nó và những vấn đề
dịch thuật, hoạt động lý luận), hành trình lý thuyết hóa hoạt động phê bình;
các thực hành phê bình thể loại, tác giả, tác phẩm qua ba giai đoạn chính;
những vấn đề đặt ra trong phê bình văn xuôi, tình hình thơ và phê bình thơ.
Không chỉ đề cập đến phê bình văn học trong nước, điểm nổi bật và mới
mẻ của cuốn sách là phần IV: Tổng quan phê bình văn học của người Việt
Nam ở nước ngoài từ 1975 đến nay. Đây có lẽ là lần đầu tiên, một công
trình lịch sử phê bình văn học trong nước đề cập một cách chi tiết, hệ thống
và khách quan về phê bình văn học hải ngoại, trước đó khu vực này chỉ
được nhắc qua trong một số bài viết hoặc còn dè dặt trong các công trình
quy mô. Một điều đáng lưu ý khác ở công trình này là phần III, tác giả
cũng đã nhận diện các khuynh hướng phê bình chính trong phê bình văn
học từ sau1975 đến 2005 nhưng thiên về hình thức phê bình với hai bộ
phận phê bình học thuật và phê bình truyền thông mà còn ít chú trọng đến
quan điểm phê bình và đối tượng phê bình để nhận diện các khuynh hướng.
Trong khi vấn đề đặt ra với việc thực hiện đề tài này là nhận diện những xu
hướng chính của phê bình trong thập niên đầu thế kỉ XXI từ góc nhìn quan
điểm phê bình và đối tượng phê bình.
Gần đây nhất là công trình do Trịnh Bá Đĩnh chủ biên: Lịch sử lí luận
phê bình văn học Việt Nam (Nxb Khoa học Xã hội, 2013).Trong công trình
9
này, Trịnh Bá Đĩnh cùng các đồng nghiệp đã xây dựng cuốn sách đầu tiên
nghiên cứu lí luận, phê bình văn học như một chỉnh thể độc lập, có lịch sử
riêng kéo dài từ khởi đầu cho đến hôm nay. Căn cứ vào thực tế nền văn học
nước nhà, nhóm nghiên cứu đã không xét hai đối tượng lí luận và phê bình
theo hai hướng độc lập, thường thấy trong những công trình trước đó mà viết
gộp lịch sử lí luận với phê bình theo từng giai đoạn cụ thể. Nhóm tác giả cũng
đã chú ý đến những sự kiện quan trọng như: các cuộc tranh luận văn học; các
sự kiện văn học, văn hóa, lịch sử có tác động mạnh đến đời sống lí luận, phê
bình. Cách kết cấu như vậy đảm bảo được tính hệ thống, tính cân đối, phù
hợp với sự triển diễn mang tính lịch sử của đời sống lí luận, phê bình. Như
Như vậy, vấn đề phê bình văn học Việt Nam đã thu hút được sự chú ý
nghiên cứu của nhiều tác giả. Với luận văn này, chúng tôi cũng muốn góp
tiếng nói của mình vào vấn đề, nhất là để thấy rõ hơn diện mạo phê bình văn
học Việt Nam thập niên đầu thế kỉ XXI, qua đề tài: Những xu hướng chính
của phê bình văn học Việt Nam trong thập niên đầu thế kỉ XXI.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những xu hướng chính của phê
bình văn học Việt Nam trong thập niên đầu thế kỉ XXI từ góc nhìn quan điểm
phê bình và từ góc nhìn đối tượng phê bình, gồm cả phê bình văn học trong
nước và phê bình văn học của người Việt ở nước ngoài. Tuy nhiên, do năng
lực nghiên cứu và thời gian hạn hẹp nên người viết hướng trọng tâm nghiên
cứu vào mảng phê bình văn học trong nước, mảng phê bình văn học của
người Việt ở nước ngoài chỉ được đề cập ở mức độ khái quát sơ lược. Chúng
tôi cũng tạm bỏ qua không trình bày về các xu hướng chính của phê bình văn
11
học Việt Nam trong thập niên đầu thế kỷ XXI nhìn từ phương pháp phê bình,
do đây là vấn đề hóc búa, vượt trình độ hiện có của người làm luận văn.
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1. Mục đích nghiên cứu
Luận văn tập trung xác định những xu hướng chính của phê bình văn
học Việt Nam trong thập niên đầu thế kỷ XXI để có thể đánh giá đúng thành
tựu và hạn chế của nó trước yêu cầu đổi mới văn học, đổi mới hoạt động
nghiên cứu, lý luận và phê bình văn học.
4.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Phân tích những tiền đề phát triển của phê bình văn học Việt Nam
trong thập niên đầu thế kỷ XXI.
- Nhận diện, đánh giá những xu hướng chính của phê bình văn học Việt
Nam trong thập niên đầu thế kỉ XXI từ góc nhìn quan điểm phê bình.
- Nhận diện, đánh giá những xu hướng chính của phê bình văn học Việt
Nam trong thập niên đầu thế kỉ XXI từ góc nhìn đối tượng phê bình.
chặt chẽ với nhau. Thiếu lí luận văn học, phê bình văn học không thể có
những phán đoán, khái quát sâu sắc về văn học.
Nói đến văn học của một thời kỳ, không thể không nói đến phê bình
văn học của thời kỳ đó, vì một nền văn học trưởng thành luôn phát triển trên
hai điểm tựa: sáng tác và phê bình. Tác phẩm văn học vừa là sáng tác của nhà
văn vừa là kết quả tiếp nhận của người đọc. Văn học vừa tồn tại trong văn
bản, vừa tồn tại trong tiếp nhận và phê bình. Chính hoạt động phê bình làm
cho tác phẩm có một đời sống riêng trong lịch sử, có thể được cảm nhận nông
sâu, hay dở… khác nhau.
Có thể nói, khái niệm phê bình văn học, qua thời gian, đã có khá nhiều
định nghĩa. Thoạt đầu nó là những phán đoán tự nhiên do nhu cầu thưởng
ngoạn tác phẩm. Sau đó nó được quan niệm là một khoa học về văn học mang
tính nghệ thuật cao. Nó đòi hỏi nhà phê bình phải có tri thức, biết phân tích,
giải thích đặc biệt là biết cảm thụ nghệ thuật mới có thể làm sáng tỏ vấn đề.
Từ buổi đầu hình thành nền phê bình văn học hiện đại ở Việt Nam, khái
niệm phê bình (văn học) đã được quan tâm giới thuyết, minh định. Năm 1933,
Thiếu Sơn cho rằng: “nhà phê bình là kẻ đọc giùm người khác”. Lê Thanh thì
thấy: “Phê bình tức là giải những tình cảm của mình về một công trình, một
nhân vật, nhưng mỗi người cảm một cách, nghĩ một cách”.
14
Cho đến nay, định nghĩa về phê bình văn học đã có những điều chỉnh,
bổ sung hợp lý, giúp chúng ta hình dung về bộ môn khoa học này một cách
đầy đủ, toàn diện và hoàn thiện hơn.
Từ điển Tiếng Việt năm 1999 định nghĩa: Phê bình văn học là “bộ môn
nghiên cứu chuyên phân tích các tác phẩm văn học nhằm mục đích đánh giá
và hướng dẫn việc sáng tác”[52,1034].
Còn với Từ điển thuật ngữ văn học (do Lê Bá Hán, Trần Đình Sử,
Nguyễn Khắc Phi đồng chủ biên), phê bình văn học được hiểu: “Là sự phán
đoán, phẩm bình, đánh giá và giải thích tác phẩm văn học. Phê bình văn học
vừa là một hoạt động, vừa là một bộ môn khoa học về văn học…” [19, 210].
hiện tượng văn học, thậm chí một thời đại văn học, nhưng cơ sở của tất cả các
phê bình trên vẫn là phê bình tác phẩm. Bởi, tác phẩm “bầu” lên nhà văn, gây
thành hiện tượng, tạo ra những thời đại văn chương. Như vậy, tác phẩm vừa là
ga đi mà cũng là ga đến của phê bình văn học” [60].
Nhưng, đối tượng của phê bình văn học, có phải chỉ là tác phẩm và hiện
tượng văn học đương đại hay còn bao gồm cả những tác phẩm trong quá
khứ ? Hiện tồn tại hai quan niệm về đối tượng của phê bình văn học:
Quan niệm thứ nhất cho rằng đối tượng của phê bình văn học là những
hiện tượng văn học đương đại. Mục Phê bình văn học trong sách Từ điển
thuật ngữ văn học của nhóm tác giả Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc
Phi đã diễn giải: “Là một môn khoa học, phê bình văn học nhận thức các
khuynh hướng vận động của văn học đương đại” [19, 210]. Cứ theo quan
niệm trên, những hiện tượng văn học quá khứ thường không được xem là đối
tượng của phê bình văn học, hoặc nếu có thì chỉ là thứ yếu. Họ cho rằng văn
học quá khứ, đặc biệt là những tác phẩm đạt tới trình độ cổ điển, giá trị của nó
16
đã ổn định, mặc nhiên được thừa nhận, hà cớ gì lại trở thành đối tượng của
phê bình văn học.
Tương tự, một thời gian dài, trong không ít sách lí luận văn học, khi
phân biệt phê bình văn học với lịch sử văn học, người ta thường khẳng định
phê bình văn học hướng tới văn học đương đại, còn lịch sử văn học hướng về
tác phẩm quá khứ. Nhưng theo R.Wellek, đối tượng của phê bình văn học là
hiện tượng văn học cụ thể, đối tượng của lịch sử văn học là tác phẩm, tác giả
trong dòng thời gian, đối tượng của lí luận văn học là tổng thể các hiện tượng
văn học.
Quan niệm thứ hai, đối tượng của phê bình văn học là toàn bộ những
hiện tượng văn học đã và đang diễn ra, có ý nghĩa đối với con người đương đại.
Còn nếu các nhà phê bình thường quan tâm hơn tới các hiện tượng văn học
đương đại thì đấy cũng là nhu cầu tự nhiên chú ý tới tiếng nói nghệ thuật của
thời đại mình. Đồng quan niệm này, GS.TS Trần Đình Sử khi bàn về đối tượng
phê bình xuất phát từ một quan niệm lý luận nhất định; chỉ ra ưu điểm và
khuyết điểm của tác phẩm; chỉ ra chỗ giống và khác của tác phẩm đó so với
tác phẩm trước nó và đồng thời với nó, “hiểu được cái gì mà các nhà thơ nói,
nhận định được những cái gì hay và cái gì không hay trong những trước tác
của họ” (Platon), “nêu được cái hay tuyệt vời, hoàn mỹ mà chúng ta phải
vươn tới, vừa thấu tình thấu lẽ cho sự sáng tác hơn nữa” (Xuân Diệu).
Khi Khổng Tử chọn lựa 305 bài ca dao ông cho là xuất sắc hoặc tiêu
biểu nhất từ vô số những bài ca dao đang được lưu hành trong dân gian thuở
ấy vào một tập sách gọi là Kinh Thi, ông thực hiện nhiệm vụ thứ nhất của phê
bình, tức là “phát hiện cái đẹp” (Nguyễn Hưng Quốc). Cũng như vậy, khi
Hoài Thanh chọn lấy 167 bài trong số hàng vạn bài của 45 tác giả trong số
18
hàng trăm tác giả phong trào Thơ mới đưa vào cuốn Thi nhân Việt Nam, nghĩa
là Hoài Thanh - Hoài Chân thực hiện nhiệm vụ thứ nhất của phê bình.
Thứ hai, phê bình phát hiện và thẩm định sự hình thành, tiến triển và
suy thoái của một xu hướng, một trào lưu văn học… Từ đó, góp phần quan
trọng cho việc định hướng quá trình tiếp nhận, đồng thời thúc đẩy quá trình
sáng tác của một tác giả, một trào lưu, một khuynh hướng.
Bản chất của phê bình văn học là hoạt động tác động. Do đó, mục tiêu
sau cùng, mục tiêu cao nhất mà phê bình văn học cần đạt được là tạo ra ảnh
hưởng mạnh mẽ, mang tính định hướng về những quan niệm, tiêu chí thẩm
định giá trị thẩm mĩ cho đời sống văn học đương thời, cả trong tiếp nhận và
sáng tác.
1.1.3. Phương pháp phê bình văn học
Chúng ta đã biết, phê bình văn học vừa là một khoa học, vừa là một
nghệ thuật. Là một khoa học, tất yếu, nó sẽ có phương pháp riêng. Tuy nhiên,
không phải phê bình nào cũng có hoặc thể hiện rõ phương pháp mà thường
chỉ trong phê bình học thuật. Phương pháp phê bình là cách thức nhà phê bình
vận dụng các lí thuyết văn chương, cách tiếp cận văn chương của các trường
phái (chủ nghĩa) như là công cụ đi vào tác phẩm, tác giả, xu hướng, trào lưu.
bình văn học mang tính học thuật có tính chất khai mở. Phan Ngọc là một
trong những tác giả tiên phong, công trình Tìm hiểu phong cách Nguyễn Du
trong Truyện Kiều (Nxb Lao động, Hà Nội 1985, tái bản 2009) của ông đã áp
dụng lý thuyết phong cách học và lý thuyết tâm lý học của cả phương Đông
và phương Tây để nghiên cứu Truyện Kiều. Nguyên tắc chi phối phương pháp
nghiên cứu của Phan Ngọc là luôn dùng cách đối lập để tìm ra sự khác nhau
giữa Truyện Kiều với Kim Vân Kiều truyện và truyện Nôm (cốt truyện, tư
tưởng chủ đạo, lối phân tích tâm lý…). Sự linh hoạt sáng tạo trong ứng dụng
nghiên cứu phong cách học của Phan Ngọc đã khiến công trình nghiên cứu
20
của ông có nhiều phát hiện đặc sắc, độc đáo về Truyện Kiều ở phương diện
kiến trúc ngôn ngữ, ngữ pháp thơ, đưa ra những kết luận mà so với cách tiếp
cận truyền thống có nhiều mới lạ. Ngoài ra, Phan Ngọc còn đóng góp cho phê
bình phong cách học công trình có giá trị: Thử xét văn hóa, văn học bằng
ngôn ngữ (Nxb Thanh niên, Hà Nội, 2000). Năm 1985, cuốn Ngôn ngữ thơ
(Nxb Đại học và giáo dục chuyên nghiệp, Hà Nội) của Nguyễn Phan Cảnh
cũng được xuất bản. Đây là nghiên cứu đầu tiên của một nhà ngữ học ở Việt
Nam viết về đặc trưng thi pháp của ngôn ngữ thơ theo quan điểm của chủ
nghĩa cấu trúc. Tiếp đó, Trần Đình Sử ra mắt Thi pháp thơ Tố Hữu (1987);
Hoàng Trinh áp dụng lý thuyết ký hiệu học để nghiên cứu thơ: Từ ký hiệu đến
thi pháp học (1992); Trần Đình Hượu, Trần Ngọc Vương, Trần Nho Thìn đã
áp dụng lý thuyết văn hóa học để nghiên cứu các hiện tượng văn học trung đại
Việt Nam; Đỗ Đức Hiểu có Thi pháp hiện đại (2000); Nguyễn Xuân Kính có
Thi pháp ca dao (1993); Đỗ Lai Thúy xuất bản Mắt thơ (1992), Hồ Xuân
Hương hoài niệm phồn thực (1999; 2009), Bút pháp của ham muốn (2009).
Nguyễn Văn Dân áp dụng “phương pháp ngưỡng tâm lý” dựa trên lý thuyết
tiếp nhận và lý thuyết ngưỡng tâm - sinh lý để nghiên cứu sự tiếp nhận đối với
văn học hiện đại của Việt Nam và của thế giới. Vào những năm đầu thế kỉ
XXI đến nay nghiên cứu văn học dưới lý thuyết tự sự học cũng đã được nhiều
nhà khoa học nước ta quan tâm chú ý. Tập hợp nhiều bài viết xung quanh hai
và Văn học bình luận (Nam Phong tạp chí). Thời kì này mọi hoạt động phê
bình trên báo chí ở nước ta hầu như còn ở trong tình trạng thưa thớt, vắng vẻ.
Các tác phẩm phê bình xuất hiện nhưng nhìn chung đều rất sơ lược, phương
thức nhận định còn giữ lối bình thơ văn cổ ngày trước.
Đầu thế kỉ XX là thời kì khởi đầu cho việc nghiên cứu lịch sử văn hóa,
văn học nước nhà. Dương Quảng Hàm, Phan Kế Bính, Bùi Kỷ… là những
22
người có nhiều đóng góp. Đầu thế kỉ XX cũng là thời kì mà các di sản văn
học tiếng Việt (ca dao, dân ca, tục ngữ, phú Nôm, truyện Nôm…) được giới
thiệu, sưu tầm rầm rộ. Trên cơ sở hình thành ý thức dân tộc về thể loại, về tác
giả, về văn hóa xuất hiện nhu cầu bình phẩm, đánh giá, tức nhu cầu phê bình
văn học. Như vậy, nhu cầu nghiên cứu lịch sử văn hóa, văn nghệ nước nhà là
một trong những nội dung làm nên diện mạo của phê bình văn học 1900-
1932. Các bài viết của các sĩ phu Đông Kinh nghĩa thục, của Phan Bội Châu,
Ngô Đức Kế, Huỳnh Thúc Kháng, các nhà báo- nhà văn Phan Kế Bính, Phan
Khôi, Tản Đà, Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Vĩnh, Nguyễn Văn Ngọc… có ý
nghĩa khơi dậy tinh thần độc lập tự chủ của dân tộc. Lần đầu tiên, các di sản
văn chương tiếng Việt được đánh giá cao. Những bài viết của họ giúp cho
đồng bào trong nước thấy rõ trước khi Pháp sang “khai hóa”, Việt Nam đã có
một nền văn hóa, văn học giàu bản sắc, rất đáng tự hào. Văn học bằng chữ
Nôm suốt một thời kì dài bị coi là “nôm na mách qué”, không được coi là văn
học, bị lu mờ trước chính sách đề cao văn học chữ Hán của nhà nước phong
kiến nay được sống lại, sống dậy.
Tuy nhiên, những bài phê bình hồi đó, nhìn chung vẫn nghiêng về lối
phê bình truyền thống điểm bình, yếu về năng lực tổng hợp và thiếu những
khái quát sâu: Việt Hán văn khảo (1918) của Phan Kế Bính, Nam âm thi thoại
(1918) của Phan Khôi, Nam thi hợp tuyển (1927) của Nguyễn Văn Ngọc, Sự
nghiệp và thi văn của Uy Viễn tướng công Nguyễn Công Trứ (1928) của Lê
Thước,… Nội dung chứa đựng bên trong các bài viết hay đầu sách có tên “thi
thoại”, “hợp tuyển”, kiểu như Nam âm thi thoại, Nam thi hợp tuyển, Việt Hán
văn học của phương Tây vào phê bình văn học Việt Nam, Phạm Quỳnh cũng
là người có ý thức “xây dựng cho nước nhà một nền “quốc học” đích đáng,
không Tây mà không Nho, có cái tính cách đặc biệt, tiêu biểu được cho cái
24
tinh thần, cố hữu của nòi giống”, nghĩa là xây dựng một nền học vấn giàu bản
sắc Việt.
Tóm lại, phê bình văn học ba mươi năm đầu thế kỉ XX là một giai đoạn
phê bình mang tính quá độ chuyển từ phương thức tư duy, phân tích văn học
theo lối bình điểm phương Đông sang lối tư duy, phân tích văn học theo lối
phương Tây bằng một ngôn ngữ hoàn toàn mới: chữ quốc ngữ.
Các trí thức Nho học đã có ý thức vận dụng kĩ thuật và phương pháp
phê bình văn học phương Tây nhưng sự vận dụng chưa thật nhuần nhuyễn, vả
lại sự tiếp thu chủ yếu vẫn là phương pháp và tinh thần duy lí hơn là thị hiếu
thẩm mĩ, cho nên những bài phê bình thường là sản phẩm lí trí khô khan,
thiếu sức hấp dẫn.
1.2.2. Phê bình văn học giai đoạn 1932 - 1945
Từ đầu những năm 30 thế kỉ XX, khi văn học Việt Nam bắt đầu bước
vào quỹ đạo văn học hiện đại, phê bình văn học với tư cách là một thể loại
độc lập của khoa học văn học đã được ý thức qua những bài viết của Thiếu
Sơn trên báo Phụ nữ tân văn, các năm 1931, 1932. Từ đây, phê bình theo
nghĩa hiện đại mới thực sự khẳng định được sự có mặt của mình trong đời
sống văn học nước nhà, bằng những hoạt động sôi nổi, náo nhiệt, bằng sự
xuất hiện hàng loạt cây bút phê bình chuyên nghiệp, bằng những cuốn sách
phê bình, và hàng trăm, hàng ngàn bài phê bình lẻ in trên các báo đương thời.
Từ 1932 đến 1945, phê bình văn học đề cập tới tất cả các thể loại văn học:
thơ, kịch, tiểu thuyết, nghiên cứu. Hoạt động lí luận- phê bình được triển khai
trên mọi hình thức: diễn thuyết, tranh luận, báo chí; bao quát đối tượng từ
phạm vi nhỏ tới những vấn đề mang tầm khái quát, từ phê bình một tác phẩm
tới một giai đoạn văn học. Nghĩa là phê bình đã có sự trưởng thành, phát triển
rầm rộ, ngoạn mục, sôi động trên cơ sở hoàn thiện và có nhiều thành tựu của