Phê bình văn học Việt Nam 1945-1986 (Nhìn từ phương diện chức năng) - Pdf 25



B
B

ỘG
G
I
I
Á
Á
O
OD
D


C
CV
V
À
À



Đ
Đ


I
IH
H


C
CS
S
Ư
ƯP
P
H
H


M

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN HÀ NỘI - 2015
B
B

ỘG
G
I
I
Á
Á
O
O
T
T
R
R
Ư
Ư


N
N
G

Đ


I
IH
H


C
C
 NGÔ VĂN TUẦN
PHÊ BÌNH VĂN HỌC VIỆT NAM 1945-1986
(Nhìn từ phương diện chức năng)
Chuyên ngành: Lí luận văn học
Mã số: 62.22.01.20 LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
GS.TS Trần Đình Sử
HÀ NỘI - 2015
LỜI CAM ĐOAN


4. Nhiệm vụ và đóng góp của luận án 5
5. Bố cục của luận án 6
Chương 1. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN ÁN 7
1.1. Hướng tiếp cận vấn đề nghiên cứu của luận án 7
1.2. Tình hình nghiên cứu về phê bình văn học Việt Nam giai đoạn 1945-1986 8
1.3. Những vấn đề đặt ra 24
Chương 2. CHỨC NĂNG PHÊ BÌNH NHƯ MỘT VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 26
2.1. Khái lược về phê bình văn học 26
2.1.1. Khái niệm phê bình văn học 26
2.1.2. Đối tượng và phạm vi của phê bình văn học 28
2.1.3. Tính chất của phê bình văn học 30
2.1.4. Phương pháp phê bình văn học 33
2.2. Chức năng của phê bình văn học 35
2.2.1. Chức năng nhận thức 36
2.2.2. Chức năng diễn giải tác phẩm văn học 37
2.2.3. Chức năng quy phạm hoá và xác lập kinh điển của văn học 38
2.2.4. Chức năng xác lập trường phái 41
2.2.5. Chức năng tự ý thức 42
2.3. Chức năng phê bình văn học theo quan điểm lãnh đạo của Đảng giai đoạn
1945-1986 44
2.3.1. Bối cảnh xã hội, lịch sử của phê bình văn học 1945-1986 44
2.3.2. Quan niệm về chức năng của phê bình văn học trong đường lối văn nghệ
của Đảng giai đoạn 1945-1986 45
Chương 3. PHÊ BÌNH VĂN HỌC TRONG CHỨC NĂNG XÂY DỰNG NỀN
VĂN HỌC CÁCH MẠNG 52
3.1. Chức năng xây dựng nền văn học cách mạng 52
3.1.1. Các quan điểm chỉ đạo 52
3.1.2. Mô hình của nền văn học mới - văn học cách mạng 55
3.1.3. Nhiệm vụ của nền phê bình văn học cách mạng 56


CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ LUẬN ÁN 151
TÀI LIỆU THAM KHẢO 152
PHỤ LỤC 162
1
MỞ ĐẦU

1. Lí do chọn đề tài
1.1. Cuộc Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công khai sinh ra nước
Việt Nam dân chủ cộng hoà, ngày nay là nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt
Nam. Cùng với sự kiện lịch sử ấy, một nền văn học mới ra đời và phát triển trong
hoàn cảnh Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, nhân dân Việt Nam vừa tiến hành hai
cuộc trường chinh để giải phóng dân tộc, vừa xây dựng đất nước theo con đường xã
hội chủ nghĩa. Văn hoá văn nghệ, theo đó, cũng được xem là một mặt trận, dưới sự
lãnh đạo của Đảng, tham gia tích cực vào công cuộc chiến đấu và xây dựng ấy.
Giai đoạn văn học từ năm 1945 đến trước thời kì đổi mới (1986) là một giai
đoạn lớn trong tiến trình văn học Việt Nam thế kỉ XX. Nó là đối tượng quan tâm
của nhiều nhà nghiên cứu, từ lịch sử văn học đến từng lĩnh vực như văn xuôi, thơ
ca, nghiên cứu lí luận, phê bình văn học.
1.2. Phê bình văn học là một bộ phận không thể tách rời của đời sống văn học
hiện đại nói chung, đặc biệt là của giai đoạn diễn ra những biến đổi to lớn của xã
hội như giai đoạn 1945-1986. Phê bình văn học giai đoạn này có một địa vị quan
trọng, vừa đóng vai trò là nhân tố tác động, tổ chức quá trình văn học từ 1945 đến
trước thời kì đổi mới, lại vừa là sự tự ý thức của quá trình văn học ấy. Bởi vậy, để
nghiên cứu và đánh giá một cách khách quan, toàn diện giai đoạn văn học 1945-
1986, không thể không tìm hiểu, nghiên cứu về hoạt động phê bình văn học giai
đoạn này.
1.3. Những nghiên cứu về văn học Việt Nam giai đoạn 1945-1986 cho đến

tính chuyên nghiệp của phê bình bị xem nhẹ; xuất hiện lối phê bình cảm tính, thiếu
một hệ thống tiêu chí tin cậy để đánh giá tác giả và tác phẩm, văn hoá phê bình bị
hạ thấp…”. Trong hoàn cảnh đó, việc nghiên cứu tổng kết những vấn đề phê bình
văn học của các giai đoạn trước có thể giúp ích cho việc thúc đẩy hoạt động của phê
bình văn học hiện nay.
Về mặt thực tiễn, trong các khoa Văn học ở các trường Đại học, các bài giảng
về lịch sử văn học Việt Nam thường chỉ lướt qua vài nét về tình hình phê bình văn
học ở mỗi giai đoạn để tập trung trọng tâm vào tình hình sáng tác, các tác giả và tác
phẩm tiêu biểu cho mỗi giai đoạn văn học ấy. Công trình này trước hết có thể giúp
ích cho việc nghiên cứu lịch sử văn học Việt Nam giai đoạn từ năm 1945 đến trước 3
thời kì đổi mới (1986), đồng thời là một phần quan trọng trong việc nghiên cứu và
biên soạn lịch sử phê bình văn học Việt Nam thế kỉ XX. Tài liệu này cũng có thể
hữu ích và cần thiết cho việc học tập chuyên đề Phê bình văn học Việt Nam hiện đại
trong các khoa Văn ở các trường Đại học.
2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
2.1. Luận án chọn phạm vi nghiên cứu là hoạt động phê bình văn học Việt
Nam giai đoạn 1945-1986 khu vực do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, không
xét đến phê bình thuộc khu vực văn học vùng địch tạm chiếm (1945-1954) và sau
này là phê bình văn học miền Nam thời kháng chiến chống Mĩ (1954-1975).
2.2. Dù phê bình gắn với lí luận như một thực thể khó tách rời nhưng trong
luận án này, chúng tôi chỉ tập trung nghiên cứu lĩnh vực phê bình văn học với
phạm vi là những bài phê bình, những công trình phê bình những tác phẩm văn
học cụ thể mà không đi vào những vấn đề lí luận dù có liên quan. Đối tượng nghiên
cứu trọng tâm của luận án là vấn đề chức năng của phê bình trong giai đoạn văn
học 1945-1986.
2.3. Phê bình văn học gắn với báo chí, do đó mà phạm vi bao quát của nó rất
rộng. Với mục đích nghiên cứu của luận án, chúng tôi không chủ trương tập hợp

trong quá trình hình thành và phát triển, trong những mối liên hệ với các điều kiện
xã hội, lịch sử, văn hoá cụ thể. Vận dụng phương pháp lịch sử cụ thể, chúng tôi xem
xét các vấn đề của phê bình văn học giai đoạn này trong từng thời điểm ra đời, gắn
với các sự kiện cũng như ý nghĩa xã hội lịch sử nóng hổi của nó. Đồng thời, quan
điểm lịch sử cũng cho phép chúng ta nhìn nhận đối tượng trong xu thế vận động,
phát triển và đổi mới của nền lí luận, phê bình văn học nước nhà nói chung để có
thể cho phép đánh giá một cách khách quan, công bằng những đóng góp và hạn chế
của nó đối với sự phát triển của lịch sử văn học dân tộc.
3.3. Phê bình văn học Việt Nam giai đoạn 1945-1986 là một chỉnh thể gồm
nhiều phương diện, nhiều yếu tố có mối liên hệ phức tạp. Hệ thống hoá các yếu tố
cấu thành nên đối tượng nghiên cứu cũng như xem xét đối tượng nghiên cứu trong
mối quan hệ với các yếu tố khác của nền văn học đòi hỏi chúng ta phải nghiêm túc
vận dụng phương pháp hệ thống.
3.4. Phê bình văn học là một phương diện của tiếp nhận văn học. Quá trình
tiếp nhận các hiện tượng văn học nói chung (trong đó có các sáng tác và cả những 5
tác phẩm phê bình) có sự thay đổi theo thời gian. Chính vì vậy, vấn đề đối sánh
quan niệm của người đọc đương thời và của những giai đoạn sau này đối với các tác
phẩm văn học và các tác phẩm phê bình của giai đoạn văn học 1945-1986 là một
việc làm cần thiết và rất có ý nghĩa đối với những kết luận của luận án. Với phương
pháp so sánh, chúng ta có dịp kiểm nghiệm các quan niệm về phê bình văn học giai
đoạn đó qua thực tiễn để từ đó thấy được đâu là những giá trị vững bền, đâu là vết
chân trên cát của lịch sử.
3.5. Để làm sáng tỏ các luận điểm đề ra trong luận án, chúng tôi còn sử dụng
phương pháp nghiên cứu trường hợp. Theo đó, chúng tôi tiến hành lựa chọn phân
tích một số trường hợp phê bình cụ thể, thể hiện nổi bật những nét đặc trưng và
chứa đựng những đặc điểm mang tính tổng quát của phê bình văn học giai đoạn
này. Những trường hợp mà chúng tôi lựa chọn đóng vai trò như là những hiện

Chương 3. Phê bình văn học trong chức năng xây dựng nền văn học cách mạng
Chương 4. Phê bình văn học trong chức năng đấu tranh tư tưởng 7
Chương 1
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN ÁN

1.1. Hướng tiếp cận vấn đề nghiên cứu của luận án
Luận án nghiên cứu phê bình văn học Việt Nam giai đoạn 1945-1986, khu
vực do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, không xét đến phê bình thuộc khu vực
văn học vùng địch tạm chiếm và sau này là phê bình văn học miền Nam thời kì
kháng chiến chống Mĩ.
Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1986 là giai đoạn hình thành và phát triển nền
văn học cách mạng Việt Nam; xây dựng lí luận, phê bình văn học dưới sự lãnh đạo
của Đảng Cộng sản Việt Nam. Phê bình văn học cùng với lí luận văn học trở thành vũ
khí chiến đấu đắc lực của Đảng nhằm chống lại văn học phi vô sản, khẳng định, xây
dựng nền văn học cách mạng, xây dựng xã hội chủ nghĩa, xây dựng con người mới,
đem văn học cách mạng đến với đông đảo quần chúng nhân dân.
Phê bình văn học trong một giai đoạn lịch sử cụ thể thường được tiếp cận
theo các hướng: hoặc là, a) Nghiên cứu lịch sử phê bình; b) Nghiên cứu lí luận phê
bình, phương pháp phê bình; c) Nghiên cứu chức năng của phê bình.
Với hướng nghiên cứu lịch sử phê bình, các nhà nghiên cứu tiến hành mô tả
tiến trình, phân chia các giai đoạn, giới thiệu đội ngũ tác giả, các tác phẩm phê bình
tiêu biểu, đánh giá giá trị của các hiện tượng phê bình.
Trong khi đó, các nhà nghiên cứu lí luận phê bình, phương pháp phê bình
chia các hiện tượng phê bình thành các trường phái, tìm hiểu vấn đề phong cách,
phương pháp phê bình của từng tác giả hay nhóm tác giả.
Nghiên cứu chức năng của phê bình trong một giai đoạn văn học cụ thể là
hướng nghiên cứu của luận án. Theo đó, đề tài của chúng tôi tập trung tìm hiểu vấn

bày các công trình nghiên cứu theo mỗi nhóm như dưới đây chắc chắn có tính chất
tương đối, bởi một công trình có thể lúc ở khu vực này, lúc khác lại sang khu vực
khác. Chúng tôi cố gắng trình bày theo trật tự thời gian xuất hiện của các công
trình đồng thời ít nhiều có sự khu biệt theo các nhóm để tiện cho việc hình dung
vấn đề nghiên cứu của các công trình này. Từ đó, chúng tôi cũng muốn làm rõ hơn
ý nghĩa của đề tài nghiên cứu mà chúng tôi lựa chọn.
1.2.1. Tình hình nghiên cứu về phê bình văn học Việt Nam giai đoạn
1945-1986 trong các sách có tính chất văn học sử
Những công trình mà chúng tôi lược thuật trong phần này nhìn chung đều là 9
những công trình nghiên cứu lịch sử văn học Việt Nam theo các giai đoạn. Phần viết
về phê bình văn học trong các công trình này về cơ bản có thể gọi là “điểm danh”
để đảm bảo có đủ các thành phần cơ bản của một giai đoạn văn học cụ thể. Do yêu
cầu của một công trình văn học sử, phải xét một giai đoạn văn học trong mọi biểu
hiện của nó, thành thử ở đây phê bình văn học không được đề cập đến nhiều hoặc
chủ yếu là những nhận xét có tính chất khái quát chung, không tách bạch, không có
điều kiện đi sâu vào các phương diện, lĩnh vực cụ thể của phê bình văn học.
Một trong những cuốn sách viết về lịch sử văn học Việt Nam giai đoạn từ sau
1945 xuất hiện khá sớm là cuốn Văn học Việt Nam kháng chiến chống Pháp 1945-
1954 của nhóm tác giả Phong Lê (Chủ biên), Vũ Tuấn Anh, Vũ Đức Phúc, Phạm
Xuân Nguyên in năm 1986. Trong cuốn sách này, ngoài các phần Mở đầu, Kết luận
và Phụ lục, còn có bốn phần: Lí luận phê bình văn học, Văn xuôi, Thơ ca, Các thể
loại sân khấu. Dù được kết cấu thành một chương, nhưng có lẽ do mục đích và yêu
cầu chung của cuốn sách nên chương Lí luận phê bình văn học mới chỉ phác thảo
những nét lớn trên những đường hướng cơ bản của mười năm lí luận phê bình văn
học kháng chiến chống Pháp. Diện mạo lí luận phê bình văn học được các tác giả
dựng lại qua hai chặng đường. Chặng một, từ Cách mạng tháng Tám đến ngày toàn
quốc kháng chiến 19-12-1946. Chặng hai, lí luận văn học trong thời kỳ kháng chiến

sách này trình bày một vài điểm khái quát về tình hình phê bình theo mỗi giai
đoạn văn học. Sau khi điểm qua đội ngũ tác giả, những vấn đề của phê bình, thành
tựu phê bình của từng giai đoạn, cuốn sách đi đến kết luận: “Nhìn chung không
thể phủ nhận được thành tựu đáng kể của lí luận, phê bình mấy chục năm qua. Nó
đã góp phần đấu tranh có hiệu quả bảo vệ những nguyên tắc cơ bản của mĩ học
Mác-Lênin và đường lối văn nghệ của Đảng. Nó đã nhiệt tình và nghiêm khắc phê
phán những rơi rớt tiểu tư sản ở những cây bút ra đời trước cách mạng, đã đấu
tranh quyết liệt chống những luận điệu của bọn Nhân văn – Giai phẩm. Nó đã kịp
thời cổ vũ, biểu dương những thành tựu của nền văn học mới, phát huy tác dụng
của nó đối với nhân dân” [81; tr.195].
Về nhược điểm của lí luận, phê bình văn học giai đoạn này, các tác giả khẳng
định: “Trước hết, tính chiến đấu chưa cao, chưa thật nhạy cảm về chính trị, đề xuất
chưa kịp thời và giải quyết chưa thấu đáo những vấn đề tư tưởng nảy sinh trong đời
sống văn học nhất là khi cách mạng chuyển giai đoạn hay gặp khó khăn” [81; tr.196].
Thêm nữa, lí luận phê bình văn học giai đoạn này cũng “chưa khổ công nghiên cứu, 11
nhiều bài viết quá dễ dãi, ý kiến không có trọng lượng, một số lỗi điểm sách đại
khái. Một số sách vở khối lượng đồ sộ, tên gọi to tát, nhưng nội dung pha loãng, ý
tứ văn chương trùng lặp, cẩu thả, mắc cả những lỗi về cú pháp và từ ngữ thông
thường. Ngoài ra lí luận, phê bình còn nghèo nàn về bút pháp, về phong cách, về thể
tài” [81; tr.198].
Trong công trình này, các tác giả cũng đã có công giới thiệu khái quát
những văn kiện quan trọng của Đảng về văn hoá, văn nghệ và những tác phẩm
phê bình đặc sắc, như: Tiếng thơ của Xuân Diệu, Nói chuyện thơ kháng chiến
của Hoài Thanh.
Kế thừa những tư tưởng đã được thể hiện trong cuốn sách trên, 20 năm sau,
năm 2007, khi biên soạn cuốn Lịch sử văn học Việt Nam, tập 3, các tác giả Nguyễn
Đăng Mạnh và Nguyễn Văn Long (đồng chủ biên) đã bổ sung thêm những nhận

luận, phê bình văn học theo mỗi giai đoạn. Những bài viết này, thông thường là
những bài tham luận tại các hội nghị, hội thảo tổng kết các giai đoạn văn học. Dung
lượng của các bài viết thường không đủ lớn để có thể đề cập chi tiết đến những hiện
tượng phê bình cụ thể nhưng ở một số khía cạnh nhất định nó đảm bảo được tiêu chí
khái quát chung. Các bài viết bổ khuyết cho nhau và góp phần đáng kể vào việc tìm
hiểu những khía cạnh đa dạng, phức tạp của phê bình văn học giai đoạn 1945-1986.
Năm 1960, nhà nghiên cứu Nam Mộc đăng bài viết Vài nét về công tác lí
luận, phê bình văn học của chúng ta mười năm qua trên tạp chí Nghiên cứu văn
học. Trong bài viết này, tác giả đã có những nhận định rất đúng về tình hình lí luận
phê bình văn học Việt Nam giai đoạn 1945-1954. Ông cho rằng trong quá trình giải
quyết vấn đề quan hệ giữa văn học và cách mạng, giữa văn học và quần chúng, giữa
văn học và đời sống thực tế, vấn đề cách mạng hoá, tư tưởng hoá quần chúng hoá
sinh hoạt là vấn đề trung tâm… Trên thực tế, giai đoạn từ khi Cách mạng tháng
Tám thành công đến năm 1954, phê bình về cơ bản thực hiện nhiệm vụ tuyên
truyền, phổ biến đường lối văn hoá, văn nghệ của Đảng. Phê bình giai đoạn này
chưa chú trọng và cũng chưa có điều kiện tập trung nhiều vào phê bình tác phẩm.
Các hội nghị văn nghệ và nhất là các cuộc tranh luận sôi nổi được tổ chức ở nhiều
nơi, nhìn chung đều nhằm giải quyết những vấn đề liên quan đến lập trường, tư
tưởng, giải quyết những khúc mắc, những trăn trở về thế giới quan, về phương pháp
sáng tác của hàng loạt nhà văn vốn trước đó thuộc tầng lớp tiểu tư sản, sáng tác tự
do theo nhiều khuynh hướng khác nhau. 13
Cũng trong năm 1960, trên tạp chí Nghiên cứu văn học còn có hai bài viết rất
đáng chú ý: bài Mười lăm năm văn học Việt Nam dưới chế độ dân chủ cộng hoà của
Hồ Tuấn Niêm và Vài nét về văn học cách mạng trong mười lăm năm qua của Lưu
Quý Kỳ. Trong hai bài viết này, các tác giả đã nhìn lại hoạt động văn học và công
tác lí luận phê bình văn học giai đoạn 1945-1960. Điểm chung trong những bài viết
này là ở chỗ từ thực tiễn đời sống văn học mười lăm năm sau Cách mạng tháng

đọc, làm cho nhiều người tìm đọc các tác phẩm đó. Việc biểu dương các tác phẩm tốt
đã có tác dụng thúc đẩy, khuyến khích đối với sự sáng tạo nghệ thuật” [19; tr.104].
Cũng trong bài viết, tác giả chỉ ra những nhược điểm của phê bình văn học giai đoạn
này như: thái độ nể nang, e dè, gượng nhẹ xuê xoa trong phê bình; nhiều bài phê bình
chỉ tóm tắt những nội dung tác phẩm mà không nêu được vấn đề gì,… Khẳng định
phê bình đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng nền văn học mới, tác giả đề
xuất muốn nâng cao chất lượng phê bình văn học cần xây dựng được một đội ngũ phê
bình chuyên nghiệp, nhà phê bình cần đi vào đời sống của quần chúng nhân dân để
nâng cao những hiểu biết về thực tế cuộc sống, tránh được những bài phê bình nhạt
nhẽo, có khi sai lầm.
Nhìn chung các bài viết của Hồng Chương thường theo sát các chủ trương,
chính sách, những chỉ đạo của Đảng về công tác văn nghệ. Các bài viết có xu hướng
tổng kết, đánh giá việc thực hiện các nhiệm vụ văn nghệ của giới phê bình. Những
công trình này tương đối gần gũi với vấn đề nghiên cứu của luận án.
Trong cuốn Nhà văn Việt Nam (1945-1975), tập 1, in năm 1979, ngoài các
chuyên mục tổng kết thành tựu của văn xuôi, thơ ca cách mạng, khái quát những
chặng đường phát triển của sân khấu cách mạng, các tác giả Phan Cự Đệ và Hà
Minh Đức cũng dành hẳn một chuyên mục để viết về lí luận, phê bình văn học với
tiêu đề: Về một nền lí luận, phê bình nghiên cứu văn học theo quan điểm mác xít ba
mươi năm qua 1945-1975. Trong chuyên mục này, các tác giả trình bày quan điểm
của Đảng về vai trò, chức năng và nhiệm vụ của lí luận, phê bình văn học, thuyết
minh về phương pháp hiện thực xã hội chủ nghĩa trong phê bình văn học, sơ lược
trình bày những thành tựu của lí luận, phê bình, nghiên cứu qua các thời kì đấu
tranh trên mặt trận tư tưởng, văn hoá đồng thời cũng điểm qua một số vấn đề liên
quan đến sự trưởng thành và những đóng góp của đội ngũ lí luận, phê bình và
nghiên cứu trong sự nghiệp văn học nói chung của dân tộc. Nhìn chung bài viết
bám sát các quan điểm của Đảng về đường lối văn nghệ, trong đó đặc biệt nhấn 15
16
học Việt Nam thời kỳ hiện đại”. Song Vũ Đức Phúc “vẫn có lúc rơi vào chủ quan và
quá đáng với một số nhận định đơn giản và kết luận vội vã trước các hiện tượng văn
học tinh vi, phức tạp” [37; tr.131].
Nhận xét của Hà Minh Đức là có cơ sở bởi trong công trình này, khi bàn về
một số sáng tác của Văn Cao (Chiếc xe xác đi qua phường dạ lạc, Trương Chi), của
Nguyễn Huy Tưởng (Vết cũ, Một phút yếu đuối), Vũ Đức Phúc đã khá gay gắt khi
cho rằng đấy là những “tác phẩm lãng mạn không tốt”, “truyện ngắn, kịch ngắn lệch
lạc ít nhiều về tư tưởng”. Khó có sức thuyết phục khi ông kết luận: “Điều đáng chú ý
là chính vì một số nhà văn không theo đường lối văn học của Đảng cho nên viết dở,
chứ không phải do đường lối văn học của Đảng cản trở sự sáng tác” [114; tr.173].
Cũng đánh giá về cuốn sách của Vũ Đức Phúc, nhà nghiên cứu Phong Lê
trong Vẫn chuyện văn và người nhận định: “Cuốn sách có dụng ý điểm lại lịch sử
những cuộc xung đột ý kiến trong đời sống văn học, lịch sử lí luận và bút chiến giữa
các trào lưu. Đó là một đề tài lịch sử thú vị, tất nhiên mọi vấn đề cho đến nay vẫn
còn đang mở (…). Bàn về những cuộc đấu tranh tư tưởng – đó là khuynh hướng ưu
thế của một người ưa chiến đấu như Vũ Đức Phúc, với tố chất chính trị dường như
có sẵn trong con người ông” [66; tr.262].
Dù không đặt ra và giải quyết được những vấn đề cụ thể của phê bình văn
học giai đoạn này nhưng chuyên luận của Vũ Đức Phúc vẫn là một công trình khoa
học có giá trị, nhiều tài liệu phong phú, phân tích cụ thể, hùng hồn, có ý nghĩa trong
việc nghiên cứu phê bình văn học Việt Nam giai đoạn này. Nó có thể được xem là
công trình tiêu biểu thuyết minh cho quan niệm của Đảng về vai trò, chức năng và
nhiệm vụ của lí luận, phê bình văn học – một thứ vũ khí đấu tranh tư tưởng, một vũ
khí sắc bén để bảo vệ đường lối văn nghệ của Đảng. Tuy nhiên, “sự thiếu hiểu biết
về đặc trưng văn học và bệnh suy diễn cực đoan đã làm cho không ít những nhận
xét của ông rơi vào xã hội học dung tục” [29; tr.750].
Trong khoảng thời gian từ năm 1984 đến năm 1986, một số công trình có tính

Một công trình khác cũng rất đáng chú ý là cuốn 40 năm văn học do Hội Nhà
văn Việt Nam kết hợp với Nhà xuất bản Tác phẩm mới cho ra mắt công chúng bạn
đọc năm 1986. Cuốn sách là một công trình tập thể gồm những bài viết của các nhà
nghiên cứu và các nhà văn, nhìn lại con đường và những thành tựu lớn của nền văn
học cách mạng Việt Nam bốn mươi năm (1945-1985). Cũng như một số công
trình có tính chất tổng kết, khái quát nhằm nêu ra quy luật vận động, phát triển 18
của văn học giai đoạn này, cuốn sách gồm các bài viết tổng kết về thơ (Chất thơ
của một thời đại mới của Xuân Diệu), về văn xuôi (Bốn mươi năm văn xuôi, từ
một góc nhìn của Phong Lê; Văn xuôi, mấy suy nghĩ nghề nghiệp của Bùi Hiển),
về kịch (Về sự phát triển của văn học kịch 40 năm qua của Hồ Ngọc),… và tất
nhiên lí luận, phê bình văn học cũng được nhắc tới như một thành tố không thể
thiếu của giai đoạn văn học này (Nhìn lại chặng đường 40 năm lí luận, phê bình
văn học của Phan Cự Đệ).
Bài viết của Phan Cự Đệ đặt tiêu đề với ý định đánh giá, tổng kết chặng
đường lí luận phê bình văn học 1945-1985 nhưng trên thực tế chủ yếu trình bày sơ
lược quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về lí luận, phê bình văn học và quá
trình đấu tranh để bảo vệ những quan điểm, định hướng phát triển đó. Tư tưởng của
bài viết được tác giả nêu ra ngay ở phần mở đầu: “Thực tiễn văn học bốn chục năm
qua đã chứng minh rằng phê bình là một vũ khí đấu tranh tư tưởng, một vũ khí sắc
bén để bảo vệ đường lối văn nghệ của Đảng, một phương thức chỉ đạo cụ thể của
Đảng trong lĩnh vực văn nghệ. Những cuộc đấu tranh giai cấp, đấu tranh trên lĩnh
vực ý thức hệ đã làm cho mặt trận lí luận phê bình luôn luôn bị náo động bởi những
cuộc luận chiến nhằm xây dựng một nền phê bình, nghiên cứu theo quan điểm và
phương pháp luận mác xít, xây dựng một nền văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa và
một nền lí luận về chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam” [105; tr.114].
Phần tiếp theo của bài viết là những lập luận nhằm phê phán các phương
pháp phê bình như: phê bình ấn tượng, các phương pháp phê bình phân tâm hiện

sáng tạo của người nghệ sĩ, phân tích tác phẩm theo lối suy diễn tuỳ tiện về ý nghĩa
chính trị, rồi đao to búa lớn, chụp mũ lung tung” [78; tr.43].
Đánh giá chung về sự vận động, phát triển của phê bình văn học giai đoạn
này, tác giả cho rằng: “Phê bình văn học đã khắc phục dần những lệch lạc ấu trĩ, tỏ
ra nắm vững hơn bản chất và đặc trưng của đối tượng, vươn tới quan điểm phê bình
sâu sắc và toàn diện hơn. Tính khoa học của phê bình được nâng cao. Từ lối viết
chỉ có khen chê, nhiều khi rất độc đoán phê bình muốn có lí lẽ hơn, nó nghiên cứu,
phân tích, lí giải… Lối phê bình giản đơn, thiếu tinh tế, thậm chí dung tục thô bạo
vẫn có thêm những cây bút mới, nhưng mất dần uy thế trong dư luận” [78; tr.44].
Từ những sự thay đổi này, tác giả nhận thấy một sự biến chuyển trong đời sống phê
bình. Theo đó, những cây bút chú ý tìm tòi về tư tưởng thẩm mĩ và bút pháp, phong 20
cách của nhà văn đã gây được những ảnh hưởng rõ rệt đối với giới sáng tác và công
chúng. Trong khi đó, những cây bút vốn chỉ nhằm vào nội dung xã hội và tính chất
tư tưởng hệ của văn học một cách phiến diện, cũng chú ý đến chất lượng thẩm mĩ
của tác phẩm văn chương. Những người thiếu tinh tế nhất cũng phân tích hình thức
nghệ thuật, cũng nói đến thi pháp của văn chương. Xu hướng này, theo Nguyễn
Đăng Mạnh, là “tuân theo quy luật trưởng thành của lí luận phê bình văn học dưới
ánh sáng đường lối văn nghệ của Đảng và theo yêu cầu đã được nâng cao của nền
văn học mới” [78; tr.44].
Trong bài viết, tác giả còn phân tích, đánh giá chất lượng cũng như sự lớn
mạnh của đội ngũ phê bình văn học trong từng giai đoạn; nhiệm vụ, nội dung của
phê bình văn học; những ưu điểm mà phê bình văn học đã làm được đồng thời cũng
nêu ra những tồn tại, những vấn đề mà phê bình văn học cần đối diện và giải quyết.
Có thể nói, bài viết này đã có những gợi mở quan trọng để chúng tôi tiếp tục đi sâu
nghiên cứu về phê bình văn học trong giai đoạn 1945-1986, nhất là từ khía cạnh
thực thi chức năng của phê bình.
Cuối năm 1987, nhóm các nhà nghiên cứu Nguyễn Đăng Mạnh, Lại Nguyên


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status