Lý thuyết của chủ nghĩa Mác-Lênin về
Lời mở đầu
Việt nam là một nớc anh hùng bất khuất trong công cuộc bảo vệ tổ quốc vài
thập kỷ trớc.Còn hiện nay,bớc vào thế lỷ 21 Việt nam vẫn là một nớc nghèo của thế
giới.Những chiến thắng trên mặt trận không thể làm ra những chiến thẵng về kinh
tế, sách lợc chiến trờng không thể là sách lợc kinh tế.Đứng trớc thực trạng đó, Đại
hội VI của Đảng đánh dấu một bớc ngoặt lịch sử đó là bắt đầu công cuộc đổi mới
nền kinh tế nớc ta.
Trong sự nghiệp đổi mới ở nớc ta, vấn đề đổi mới cơ chế quản lý kinh tế chiếm
vị trí quan trọng.Đặc biệt trong bối cảnh Việt nam đang chuyển đổi cơ chế quản lý
kinh tế từ cơ chế tập trung, quan liêu, bao cấp sang cơ chế thị trờng có sự quản lý
của Nhà nớc và định hớng theo chủ nghĩa xã hội nh đờng lối của Đảng ta đã đề ra từ
các kì Đại hội VI, VII, VIII. Thực tế những năm qua cho thấy đờng lối của Đảng là
hoàn toàn đúng đắn, những thành tựu đạt đợc trong nhữnh năm qua đã chứng minh
điều đó.
Trong phạm vi bài viết của mình, em xin trình bày một số vấn đề về lý luận của
chủ nghĩa Mác-Lênin về nền kinh tế thị trờng và vận dụng nó ở Việt nam trong thời
gian qua,hiện nay và trong tơng lai.Em xin chân thành cảm ơn thầy giáo Phạm
Thành hớng dẫn và giúp đỡ em hoàn thành bài viết này.
Do thời gian và tri thức,kinh nghiệm có hạn nên bài viết không thể tránh khỏi
những sai sót, rất mong đợc thầy và các bạn đóng góp ý kiến. Em xin chân thành
cảm ơn!
1
Lý thuyết của chủ nghĩa Mác-Lênin về
A.phần mở đầu.
C.Mác ngời thầy và lãnh tụ vĩ đại của giai cấp công nhân và nhân dân lao động
toàn thế giới.Là một nhà lý luận kiệt xuất, ông đã để lại cho loài ngời một kho tàng
lý luận quý báu về triết học, kinh tế chính trị và chủ nghĩa xã hội khoa học. Trong
bộ t bản và một số tác phẩp có quan hệ đén bộ sách đó,C.Mác đã đề cập tới nhiều lý
1.Sự hình thành và phát triển của kinh tế thị trờng theo quan điểm của chủ
nghĩa Mác - Lênin.
1.1. Quá trình chuyển từ kinh tế tự nhiên lên kinh tế hàng hoá.
Về phơng diện kinh tế có thể khái quát rằng,lịch sử phát triển của đời sống xã hội
của nhân loại đã và đang trải qua hai kiểu tổ chức thích ứng với trình độ phát triển
của lực lợng sản xuất và phân công lao động xã hội,hai thời đại kinh tế khác nhau
về chất.Đó là:thời đại kinh tế tự nhiên,tự cung tự cấp và thời đại kinh tế hàng
hoá,mà giai đoạn cao của nó đợc gọi là kinh tế thị trờng.
a.Khái quát về kinh tế tự nhiên và kinh tế hàng hoá.
Kinh tế tự nhiên hay sản xuất tự cung,tự cấp là kiểu tổ chức kinh tế đầu tiên mà
loài ngời sử dụng để giải quyết vấn đề sản xuất cái gì?sản xuất nh thế nào? và cho
ai? ở đây,ngời sản xuất đồng thời là ngời tiêu dùng.Mụcđích của sản xuất là tạo ra
giá trị sử dụng nhằm thoả mãn nhu cầu tiêu dùng của chính bản thân ngời sản
xuất.Vì vậy,có thể nói quá trình sản xuất của nền kinh tế tự nhiên chỉ gồm hai
khâu:sản xuất tiêu dùng.nó có tính chất bảo thủ,trì trễ,bị giới hạn ở nhu cầu hạn
hẹp.Sản xuất tự cung tự cấp chỉ thích ứng với thời kì lực lợng sản xuất cha phất
triển.Khi lực lợng sản xuất phát triển cao,phân công lao động đợc mở rộng thì dần
xuất hiện trao đổi hàng hoá.Khi trao đổi hàng hoá trở thành mục đích thờng xuyên
của sản xuất thì sản xuất hàng hoá ra đời và xuất hiện nền kinh tế hàng hoá.Kinh tế
3
Lý thuyết của chủ nghĩa Mác-Lênin về
hàng hoá bắt đầu bằng kinh tế hàng hoá giản đơn,ra đời từ khi chế độ chủ nghĩa
cộng sản tan rã,dựa trên hai tiền đề cơ bản là có sự phân công lao động xã hội và có
sự tách biệt về kinh tế do chế độ sở hữu khác nhau về t liệu sản xuất,sản xuất và
toàn bộ quá trình tái sản xuất đều gắn với thị trờng.Chuyển từ kinh tế tự nhiên sang
kinh tế hàng hoá là đánh dấu bớc chuyển sang thời đại kinh tế của sự phát triển,thời
đại văn minh của nhân loại.
b.Hai điều kiện ra đời và tồn tại của kinh tế hàng hoá.
Cơ sở kinh tế - xã hội của sự ra đời và tồn tại của sản xuất hàng hoá là phân công
Trong lịch sử phát triển của mình,vị thế của kinh tế hàng hoá cũng dần đợc thay
đổi:từ chỗ nh là kiểu tổ chức kinh tế xã hội không phổ biến không hợp thời trong xã
hội chiếm hữu nô lệ của những ngời thợ thủ công và nông dân tự do,đến chỗ đợc
thừa nhận trong xã hội phong kiến,và đến chủ nghĩa t bản thì kinh tế hàng hoá giản
đơn không những đợc thừa nhận mà còn đợc phát triển cao hơn đó là kinh tế thị tr-
ờng.
1.2.Bớc chuyển từ kinh tế hàng hoá giản đơn sang kinh tế thị trờng.
a.Kinh tế thị trờng là kinh tế hàng hoá phát triển ở trình độ xã hội hoá cao
Nền kinh tế thị trờng là nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trờng.Đây là một
kiểu tổ chức kimh tế trong đó sản xuất cái gì?nh thế nào?và cho ai?đợc quyết định
thông qua thị trờng.Trong nền kinh tế thị trờng các quan hệ kinh tế của các cá
nhân,các doanh nghiệp đều biểu hiện qua mua bán hàng hoá,dịch vụ trên thị tr-
ờng.Thái độ c xử của từng thành viên tham gia thị trờng là hớng vào tìm kiếm lợi
ích của chính mình,theo sự dẫn dắt của giá cả thị trờng hay Bàn tay vô hình.
(Adam Smith)
Kinh tế thị trờng nh là một yêu cầu khách quan của nền kinh tế hàng hoá Song
không phải là đồng nhất nó với kinh tế hàng hoá.Xét về mặt lịch sử,kinh tế hàng
hoá có trớc kinh tế thị trờng.Kinh tế hàng hoá ra đời thì thị trờng cũng xuất hiện,nh-
5
Lý thuyết của chủ nghĩa Mác-Lênin về
ng không có nghĩa đó là kinh tế thị trờng.Với sự tăng trởng của kinh tế hàng hoá,thị
trờng đợc mở rộng,phong phú,đồng bộ,các quan hệ thị trờng tơng đối hoàn
thiện,đều đợc tiền tệ hoá.Khi đó ngời ta gọi kinh tế hàng hoá là kinh tế thị trờng hay
nói cách khác kinh tế thị trờng là kinh tế hàng hoá phát triển ở trình độ xã hội hoá
cao.Kinh tế thị trờng không phải là một giai đoạn khác biệt,độc lập,đứng ngoài kinh
tế hàng hoá mà là giai đoạn cao của kinh tế hàng hoá.
b.Những điều kiện hình thành kinh tế thị trờng.
Kinh tế thị trờng đợc hình thành dựa trên những điều kiện sau đây:
Một là. Sự xuất hiện của hàng hoá sức lao động và thị trờng sức lao động.Trớc hết
mua bán.Sự xuất hiện của hàng hoá sức lao động phản ánh giai đoạn sản xuất đã
phát triển trong đó năng suất lao động đã cao.
- Nhờ có sự xuất hiên của hàng hoá sức lao động và thị trờng sức lao động mà tiền
tệ không chỉ là phơng tiện lu thông mà còn trở thành phơng tiện làm tăng giá
trị,nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh,thúc đẩy sự tăng trởng và phát triển kinh
tế.
- Với sự xuất hiện của hàng hoá sức lao động dẫn tới sự hình thành thị trờng các
yếu tố sản xuất một cách hoàn chỉnh.Kinh tế thị trờng ra đời.
Hai là.Phải tích luỹ đợc một số tiền nhất định và số tiền đó phải trở thành vốn để
tiến hành sản xuất kinh doanh nhằm mục đích có lợi nhuận.Lý luận kinh tế của tr-
ờng phái trọng thơng đã phản ánh rõ điều kiện tiền đề này.
Ba là.Kinh tế thị trờng là kinh tế tiền tệ cho nên vai trò của tiền tệ vô cùng quan
trọng.Để hình thành đợc nền kinh tế thị trờng cần có hệ thống tài chính,tín
dụng,ngân hàng tơng đối phát triển.Không thể có đợc kinh tế thị trờng nếu nh hệ
thống tài chính,ngân hàng còn quá yếu ớt, hệ thống quan hệ tín dụng còn quá giản
đơn, không đáp ứng đợc nhu cầu về vốn cho sản xuất và kinh doanh.
Bốn là.Sự hình thành nền kinh tế thị trờng đòi hỏi phải có một hệ thống kết cấu hạ
tầng tơng đối phát triển,trên cơ sở đó mới bảo đảm cho lu thông hàng hoá và lu
thông tiền tệ đợc thuận lợi dễ dàng,mới tăng đợc phơng tiện vật chất nhằm mở rộng
quan hệ trao đổi.
7
Lý thuyết của chủ nghĩa Mác-Lênin về
Năm là.Tăng cờng vai trò kinh tế Nhà nớc.Nhà nớc phải tạo ra môi trờng,hành lang
cho thị trờng phát triển lành mạnh.Đồng thời Nhà nớc sử dụng những biện pháp
hành chính cần thiết để phát huy những u thế và hạn chế những mặt tiêu cực của thị
trờng.Nhà nớc thực hiện chính sách phân phối và điều tiết một cách hợp lý,xử lý hài
hoà các quan hệ kinh tế xã hội.
c.Những đặc trng chung của kinh tế thị trờng.
Trên thế giới đã có nhiều quốc gia phát triển nền kinh tế của mình theo mô hình
kinh tế thị trờng.Chẳng hạn kinh tế thị trờng của Thuỷ Điển,kinh tế thị trờng mang
quá trình quốc hữu hoá đan xen với quá trình t nhân hoá,Nhà nớc trực tiếp đầu t vào
một số lĩnh vực then chốt quan trọng trong nền kinh tế quốc dân nh:dầu khí,hoá
dầu (Hàn Quốc,Thái Lan,Inđônêsia, ).Hiện nay khu vực này đ ợc xem là khu vực
đầy năng động,phát triển với tốc độ tăng trởng cao hàng đầu thế giới.Trong đó có
những nớc đợc dự đoán sẽ trở thành cờng quốc kinh tế trong thế kỉ 21.
Tóm lại,nếu gác lại những đặc trng riêng,cá biệt của mô hình kinh tế trên và chỉ
tính đến những đặc trng chung vốn có của kinh tế thị trờng.Có thể nêu những đặc tr-
ng mang tính phổ biến nh sau:
Một là. Tính tự chủ của các chủ thể kinh tế rất cao.Các chủ thể kinh tế tự bù đắp
những chi phí và tự chịu trách nhiệm đối với kết quả sản xuất và kinh doanh của
mình.Các chủ thể kinh tế đợc tự do liên kết liên doanh,tự do tổ chức qúa trình sản
xuất theo luật định.Đây là đặc trng rất quan trọng của kinh tế thị trờng.Đồng thời
cũng là biểu hiện và yêu cầu nội tại của kinh tế hàng hoá,kinh tế hàng hoá không
bao dung hành vi bao cấp.Nó đối lập với bao cấp và đồng nghĩa với tự chủ và năng
động.
Hai là. Trên thị trờng hàng hoá rất phong phú.Ngời ta tự do mua bán hàng
hoá,trong đó ngời mua chọn ngời bán,ngời bán tìm ngời mua.Họ gặp nhau ở giá cả
thị trờng.Đặc trng này phản ánh tính u việt hơn hẳn của kinh tế thị trờng so với kinh
tế tự nhiên.Sự đa dạng và phong phú về chủng loại những hàng hoá trên thị trờng
một mặt phản ánh trình độ cao của năng suất lao động xã hội,mặt khác cũng nói lên
9
Lý thuyết của chủ nghĩa Mác-Lênin về
mức độ phát triển của quan hệ trao đổi,trình độ của phân công lao động xã hội và sự
phát triển của thị trờng.Những u thế trên của kinh tế thị trờng phản ánh trình độ
phát triển của khoa học-kĩ thuật và công nghệ,tựu chung phát triển trình độ cao của
lực lợng sản xuất xã hội.Vì vậy nói đến kinh tế thị trờng là nói đến một nền kinh tế
phát triển cao.
Ba là. Giá cả đợc hình thành ngay trên thị trờng.Giá cả thị trờng vừa biểu hiện
bằng tiền của giá trị thị trờng vừa chịu sự tác động của quan hệ cạnh tranh và quan
hệ cung cầu hàng hoá dịch vụ.Trên cơ sở giá trị thị trờng,giá cả là kết quả của sự th-
d.Các hình thức của kinh tế thị trờng.
Nh trên đã nói:kinh tế thị trờng là giai đoạn phát triển cao của kinh tế hàng hoá.Nó
đã trải qua ba giai đoạn phát triển:giai đoạn thứ nhất.Giai đoạn chuyển từ kinh tế
hàng hóa lên kinh tế thị trờng(còn gọi là kinh tế thị trờng sơ khai).Giai đoạn thứ hai
là giai đoạn phát triển kinh tế thị trờng tự do,trong giai đoạn này sự phát triển kinh
tế diễn ra theo tinh thần tự do,Nhà nớc không can thiệp vào hoạt động kinh tế.Giai
đoạn ba là giai đoạn kinh tế thị trờng hiện đại,trong giai đoạn này Nhà nớc can
thiệp vào kinh tế thị trờng và mở rộng giao lu kinh tế với các nớc ngoài.
Nền kinh tế thị trờng không có sự can thiệp của Nhà nớc là nền kinh tế thị trờng tự
điêu tiết,trong đó Nhà nớc chỉ làm các chức năng truyền thống của Nhà nớc pháp
quyền nh:-Bảo vệ quyền sở hữu của các nhà kinh doanh.Nhà nớc bảo đảm an
ninh,chính trị,quốc phòng,an toàn xã hội,tạo môi trờng thuận lợi cho các doanh
nghiệp.Xử lý các tranh chấp trong kinh doanh và vi phạm pháp luật.
Trong giai đoạn kinh tế thị trờng hiện đại,Nhà nớc can thiệp vào kinh tế hay còn
gọi kinh tế thị trờng có sự điều tiết của Nhà nớc.Trên thế giới ngày nay không có n-
ớc nào mà Nhà nớc không can thiệp vào kinh tế.Chỉ khác ở biện pháp,mục tiêu và
kết quả đạt đợc.Kinh tế thị trờng ở các nớc đều có sự kết hợp giữa cơ chế thị tr-
ờng(Bàn tay vô hình) và sự can thiệp điều tiết của Nhà nớc còn gọi là bàn tay hữu
hình.Thực tiễn đã chỉ rõ cần có bàn tay của Nhà nớc đối với kinh tế thị trờng dù
phát triển theo khuynh hớng nào,mục tiêu nào.Mặt khác một điều cần khẳng định là
mô hình kinh tế của các nớc trên thế giới ngày nay dù có phát triển và hoàn thiện
11
Lý thuyết của chủ nghĩa Mác-Lênin về
đến mức nào cũng không phải là thiên đờng mà vẫn có những khuyết tật nhất
định.Theo thời gian kinh tế thị trờng ngày càng bộc lộ nguyên hình những mặt trái
của nó:nạn thất nghiệp,bất công xã hội,phân hoá giàu nghèo,tình trạng tội
phạm Những điều đó khẳng định thêm một lần nữa nền kinh tế thị trờng cần có sự
can thiệp của Nhà nớc.Nhà nớc đa ra những chính sách để hạn chế những khuyết tật
nói trên.Chẳng hạn,chính sách tài chính-tiền tệ,kinh tế đối ngoại(Thuế,lãi suất,điều
tiết xuất nhập khẩu ) chú ý vấn đề tiền lơng,trợ cấp thất nghiệp,phúc lợi xã hội
Sản phẩm nào không chứa đựng lao động của con ngời thì không có giá trị.Khi giá
trị thay đổi thì giá trị trao đổi cũng thay đổi,giá trị trao đổi chính là hình thức biểu
hiện của giá trị.
Giá trị và giá trị sử dụng là hai thuộc tính của hàng hoá,hàng hoá đợc thể hiện nh
là sự thống nhất chặt chẽ nhng lại mâu thuẫn giữa hai thuộc tính này.
b.Khái niệm về thị trờng,vai trò và tác dụng,phân loại thị trờng.
Thị trờng gắn liền với quá trình sản xuất và lu thông hàng hoá.Nó ra đời và phát
triển cùng với sự ra đời và phát triển của sản xuất lu thông hàng hoá
Vậy thị trờng là gì? Theo nghĩa ban đầu thị trờng gắn liền với địa điểm nhất
định,trên đó diễn ra quá trình trao đổi mua bán hàng hoá.Thị trờng có tính không
gian và thời gian.Theo nghĩa này thị trờng là cái chợ,cái địa d,khu vực tiêu thụ hàng
hoá phân theo các mặt hàng,ngành hàng.
Sản xuất hàng hoá luôn phát triển,lợng hàng hoá lu thông trên thị trờng ngày càng
dồi dào và phong phú,thị trờng đợc mở rộng.Thị trtờng đợc hiểu theo nghĩa đầy đủ
hơn,nó là lĩnh vực trao đổi hàng hoá thông qua tiền tệ làm môi giới.Tại đây ngời
mua và ngời bán tác động qua lại lẫn nhau để xác định giá cả và sản lợng hàng hoá
lu thông trên thị trờng.
Ngày nay các nhà khoa học thống nhất với nhau khái niệm về thị trờng nh sau:Thị
trờng là một quá trình mà trong đó ngời bán và ngời mua tác động qua lại với nhau
để xác định giá cả và sản lợng.
13
Lý thuyết của chủ nghĩa Mác-Lênin về
Phân đoạn thị trờng: Trong lịch sử đã xuất hiện nhiều cách phân loại thị trờng
khác nhau.Chẳng hạn dựa vào lu thông hàng hoá ngời ta đã phân chia thị trờng
thành:thị trờng cung ứng vật t kĩ thuật,thị trờng hàng tiêu dùng.Dựa vào quan hệ sở
hữu ngời ta chia thị trờng thành thị trờng có tổ chức và thị trờng tự do.Kinh tế học
hiện đại chia thị trờng thành thị trờng yếu tố sản xuất và thị trờng hàng hoá tiêu
dùng,dịch vụ;thị trtờng trong nớc và thị trờng nớc ngoài.
Thị trờng yếu tố sản xuất hay thị trờng đầu vào là nơi mua bán các yếu tố sản
xuất nh sức lao động,t liệu sản xuất,vốn và các điều kiện vật chất để sản xuất kinh
sống tồn tại và phát triển.
Từ đó,thị trờng chính là điều kiện và là môi trờng cho hoạt động sản xuất hàng
hoá.Thị trờng là nơi kiểm tra cuối cùng chủng loại các hàng hoá,số lợng hàng hoá
cũng nh chất lợng hàng hoá.Thị trờng kiểm nghiệm tính phù hợp của sản xuất đối
với tiêu dùng xã hội.Thị trờng còn là nơi cuối cùng để chuyển lao động t nhân cá
biệt thành lao động xã hội.
c. Khái niệm về cơ chế thị trờng, quy luật vận động của kinh tế thị trờng.
Cơ chế thị trờng là gì?cho đến nay đã có nhiều định nghĩa về cơ chế thị trờng do
nội hàm và ngoại diện rộng,cho nên rất khó định nghĩa,nhng ta có thể hiểu một
cách cơ bản nh sau:
Cơ chế thị trờng là cơ chế tự điều tiết của nền kinh tế hàng hoá do sự tác động
của các quy luật vốn có của nó để nhằm giải quyết 3 vấn đề cơ bản của tổ chức
kinh tế xã hội là cái gì ? bằng cách nào ? và cho ai?
Nói tới cơ chế thị trờng trớc hết phải nói tới thị trờng
Nói tới cơ chế thị trờng là phải nói tới các nhân tố cơ bản cấu thành thị trờng đó là
hàng - tiền , ngời mua và ngời bán . Từ đó hình thành nên các quan hệ hàng hoá -
tiền tệ,mua bán,cung cầu và giá cả thị trờng
Nói tới cơ chế thị trờng là phải nói tới lợi nhuận vì nó là động lực thúc đẩy các
chủ thể tham gia thị trờng.Cho nên ở trong nền kinh tế thị trờng phải lấy lỗ, lãi để
tính toán.
15
Lý thuyết của chủ nghĩa Mác-Lênin về
Nói tới cơ chế thị trờng và thị trờng là phải nói tới cạnh tranh và các quy luật kinh
tế chi phối sự vận động của thị trờng (quy luật giá trị ,cạnh tranh, cung cầu ) trong
đó quy luật giá trị là căn bản nhất.Chừng nào còn sản xuất và trao đổi hàng hoá thì
chừng đó còn quy luật giá trị
Nội dung và yêu cầu của quy luật giá trị.
Quy luật giá trị là trừu tợng.Nó thể hiện sự vận động thông qua sự biến động của
giá cả thị trờng.Giá cả thị trờng là giá bán hàng hoá trên thị trờng,đó là giá cả thoả
thuận giữa ngời mua và ngời bán,ngời bán muốn bán giá cao còn ngời mua muốn
ngành sản xuất thông qua sự biến động của giá cả thị trờng.Nh đã nói ở trên,do ảnh
hởng của quan hệ cung cầu nên giá cả của hàng hoá trên thị trờng lên xuống xoay
quanh giá trị của nó.Nếu có ngành nào đó cung không đáp ứng cầu,giá cả hàng hoá
tăng lên thì ngời sản xuất sẽ đổ xô vào ngành đó.Ngợc lại,khi ngành đó thu hút qúa
nhiều lao động xã hội,cung vợt cầu dẫn đến giá cả hàng hoá hạ xuống thì ngời sản
xuất sẽ phải chuyển bớt t liệu sản xuất và sức lao động ra khỏi ngành này để đầu t
vào nơi có giá cả hàng hoá cao.Nhờ vậy mà t liệu sản xuất và sức lao động đợc phân
phối qua lại một cách tự phát vào các ngành khác nhau.Trong lĩnh vực lu thông,quy
luật giá trị điều tiết nguồn hàng từ nơi giá cả thấp đến nơi giá cả cao.
Quy luật giá trị có tác dụng kích thích lực lợng sản xuất phát triển:Lợi nhuận là cái
mà ngời sản xuất luôn mong muốn đạt đợc,càng nhiều càng tốt.Hơn nữa trên thị tr-
ờng luôn xảy ra sự cạnh tranh.Để đạt đợc lợi nhuận ngày càng nhiều,đứng vững và
thắng trong cạnh tranh thì mọi ngời sản xuất đều tìm cách rút ngắn đến mức tối
thiểu hao phí lao động cá biệt.Để làm đợc điều đó họ phải luôn luôn tìm cách cải
tiến kĩ thuật,tăng năng suất lao động.Vì thế trong nền kinh tế thị trờng lực lợng sản
xuất đợc kích thích và phát triển nhanh hơn nhiều so với trong nền kinh tế tự cấp tự
túc.
Quy luật giá trị có tác dụng thực hiện sự bình tuyển tự nhiên và phân hoá ngời sản
xuất thành kẻ giàu ngời nghèo: Trong cuộc cạnh tranh chạy theo giá trị,lao động cá
biệt của mỗi ngời sản xuất có thể không nhất trí với lao động xã hội cần
thiết.Những ngời làm giỏi,làm tốt có hao phí lao động cá biệt thấp hơn hao phí xã
hội cần thiết.Nhờ đó phát tài,làm giàu,mua sắm thiệt bị sản xuất,mở rộng theo quy
17
Lý thuyết của chủ nghĩa Mác-Lênin về
mô sản xuất,mở rộng doanh nghiệp của mình.Bên cạnh đó,những ngời làm ăn kém
cỏi,không gặp may,hao phí lao động cá biệt lớn hơn hao phí lao động xã hội cần
thiết.Nên họ bị lỗ vốn,thâm chí đi đến phá sản.Nh vậy quy luật giá trị có ý nghĩa
bình tuyển,đánh giá ngời sản xuất,nó mang lại phần thởng cho những ngời làm
tốt,làm giỏi và hình phạt cho những ngời làm ăn kém cỏi.Về phơng diện này thì quy
luật giá trị bảo đảm sự bình đẳng với ngời sản xuất.
Ph.Ăngghen đã tóm tắt ý nghĩa của C.Mác năm 1875 rằng: một khi xã hội nắm
giữ các t liệu sản xuất nền sản xuất hàng hoá sẽ bị loại trừ.Tuy nhiên,từ những di
sản lý luận của các ông,đó mới chỉ là một trong hai cách luận giải về vận mệnh của
nền sản xuất hàng hoá trong xã hội cộng sản tơng lai,xét từ góc độ biến đổi sẽ xảy
ra trong tính chất của chế độ sở hữu.Còn khi hai ông xem xét vấn đề từ góc độ
nguyên tắc tổ chức kinh tế kiểm kê và thông ớc và hao phí lao động,bức tranh đã
biến đổi nó,và giá trị,với tất cả các đặc thù của nó,ít ra cũng là tất yếu trong giai
đoạn đầu của chủ nghĩa cộng sản.Nghĩa là,ở hai ông ngời ta chỉ tìm thấy những
phán đoán lẻ tẻ chứ cha phải là một học thuyết hoàn chỉnh về vận mệnh của nền sản
xuất hàng hoá ttrong tơng lai.Nh vậy cả hai phơng hớng tìm kiếm khoa học giải
quyết vấn đề,không một phơng hớng nào cho ta câu trả lời dứt khoát.
Còn Lênin thì sao? Quan điểm của Lênin.
Sau khi cách mạng tháng mời Nga thành công.Nớc Nga bớc vào cuộc nội
chiến.Nhà nớc xô viết thực hiện chính sách cộng sản thời chiến.Thực chất của chính
sách này là xoá bỏ nhanh chóng những chế độ t hữu t bản về t liệu sản xuất,không
thừa nhận quan hệ hàng hoá tiền tệ,quan hệ thị trờng Sau khi nội chiến kết thúc
chính sách cộng sản thời chiến không thích hợp nữa.Lênin đề ra chính sách kinh tế
mới.Nh vậy thoạt đầu ông cũng mắc sai lầm nh chính ông thừa nhận:tởng rằng có
thể trực tiếp dùng pháp luật của Nhà nớc vô sản để tổ chức theo kiểu cộng sản chủ
nghĩa việc sản xuất và phân phối sẩn phẩm trong một nớc tiểu nông.
Và để sửa sai,ông đã đa ra chính sách kinh tế mới mà thực chất là sử dụng quan hệ
hàng hoá-tiền tệ,đặt thơng nghiệp,thị trờng lên hàng đầu.Coi nó nh chiếc đòn xeo
để phát triển lực lợng sản xuất.Nh vậy chính Lênin là ngời mác xít đầu tiên đã đa ra
19
Lý thuyết của chủ nghĩa Mác-Lênin về
luận điểm về sự cần thiết phải sử dụng và phát triển kinh tế hàng hoá trong điều
kiện chính quyền do giai cấp vô sản lãnh đạo.
Luận điểm này phù hợp với quy luật phát triển tự nhiên của lịch sử kinh tế theo
quan điểm biện chứng duy vật,sự ngự trị của một hình thức tổ chức kinh tế xã
hội nào đó là tuỳ thuộc trình độ phát triển của lực lợng sản xuất và nhu cầu của ph-
nghĩa,nớc ta bắt đầu xây dựng mô hình kinh tế kế hoạch hoá tâp trung dựa trên hình
thức sở hữu công cộng về t liệu ssản xuất.Với sự nỗ lực của nhân dân ta có thêm sự
giúp đỡ tận tình của các nớc xã hội chủ nghĩa khác,mô hình kinh tế kế hoạch hoá
tập trung đã phát huy đợc tính u việt của nó.Từ một nền kinh tế lạc hậu và phân tán
bằng công cụ kế hoạch hoá,Nhà nớc đã tập trung vào tay mình một lực lợng vật chất
quan trọng về đất đai,tài sản và tiền bạc để ổn định và phát triển nền kinh tế.Nền
kinh tế kế hoạch hoá trong thời kì đầu thực hiện ở nớc ta đã tỏ ra phù hợp,nó đã tạo
ra những bớc chuyển biến quan trọng về mặt kinh tế xã hội.Đồng thời nó cũng thích
hợp với nền kinh tế thời chiến và đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra chiến
thắng vĩ đại của dân tộc.Bởi nó đã cho phép Đảng và Nhà nớc huy động ở mớc cao
nhất sức ngời và sức của cho tiền tuyến.
Tuy nhiên sau ngày giải phóng Miền nam,chúng ta vẫn duy trì cơ chế kinh tế
trên.Do các quan hệ kinh tế đã thay đổi rất nhiều,việc áp dụng cơ chế quản lý kinh
tế cũ vào điều kiện nền kinh tế đã thay đổi làm xuất hiện rất nhiều hiện tợng tiêu
cực,đó là:
- Nhà nớc quản lý nền kinh tế bằng các mệnh lệnh hành chính,mang tính tổ chức
hình thức.Nhiều nơi không nắm vững nguyên tắc động viên tự nguyện và làm đúng
quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất của lực lợng sản xuất,coi nhẹ hiệu
qua kinh tế xã hội.
- Không xác định rõ và can thiệp không đúng về quyền tự chủ về kinh tế tài
chính,quyền chủ động sáng tạo của cấp dới,không gắn nghĩa vụ với quyền lợi,trách
nhiệm với quyền hạn,lợi ích với kết quả cuối cùng.
21
Lý thuyết của chủ nghĩa Mác-Lênin về
- Coi nhẹ và không vận dụng các quy luật kinh tể trong tổng thể hệ thống các quy
luật khách quan,tồn tại trong nền kinh tế có thời gian dài nặng về kế hoạch hoá tập
trung,không gắn kế hoạch sản xuất với thị trờng,kìm hãm sản xuất và lu thông,coi
nhẹ các quan hệ hàng hoá-tiền tệ,quan niệm còn giản đơn về chủ nghĩa xã
hội,không đảm bảo quan hệ thích đáng giữa ba lợi ích:xã hội-tập thể-ngời tiêu
dùng làm cho xã hội thiếu động lực phát triển hay phát triển không lành mạnh.
dân,phong kiến còn nhiều,lại chịu ảnh hởng nặng nề của cơ chế tập trung quan liêu
bao cấp.
Với những đặc điểm xuất phát nh trên có thể nhận xét rằng:Nền kinh tế nớc ta
không còn hoàn toàn là nền kinh tế tự nhiên tự cấp tự túc,nhng cũng cha phải là
kinh tế hàng hoá theo nghĩa đầy đủ.Mặt khác,do có sự đổi mới về mặt kinh tế cho
nền kinh tế nớc ta cũng không còn là kinh tế chỉ huy.Có thể nói thực trạng nớc ta
khi chuyển sang kinh tế hàng hoá là nền kinh tế hàng hoá kém phát triển,còn mang
nặng dấu ấn tự cấp tự túc và chịu ảnh hởng nặng nề của cơ chế tập trung quan liêu
bao cấp.Thực trạng đó đợc biểu hiện ở các mặt sau đây:
a.Kinh tế hàng hoá còn kém phát triển,nền kinh tế còn mang nặng tính chất tự
cung tự cấp.
Sự yếu kém của kinh tế hàng hoá nớc ta đợc thể hiện ở những dấu hiệu có tính
điển hình dới đây:
- Trình độ cơ sở vật chất kĩ thuật và công nghệ sản xuất còn thấp kém.
- Hệ thống kết cấu hạ tầng dịch vụ sản xuất và dịch vụ xã hội cha đủ để phát triển
kinh tế thị trờng ở trong nớc và cha có khả năng để mở rộng giao lu với thị trờng
quốc tế.
- Cơ cấu kinh tế còn mất cân đối và kém hiệu quả.Từ điểm xuất phát thấp,nền
kinh tế còn phổ biến là sản xuất nhỏ cho nên cơ cấu kinh tế của nớc ta còn mang
nặng đặc trng của một cơ cấu kinh tế nông nghiệp.Hiện tợng độc canh cây lúa vẫn
tồn tại,ngành nghề cha phát triển.
23
Lý thuyết của chủ nghĩa Mác-Lênin về
- Cha có thị trờng theo đúng nghĩa của nó.
Thị trờng ở nớc ta còn là thị trờng ở trình độ thấp,tính chất của nó còn hoang
sơ,dung lợng thị trờng còn thiếu và có phần rối loạn.Chúng ta mới từng bớc có thị
trờng hàng hoá nói chung:trớc hết là thị trờng hàng tiêu dùng thông thờng với hệ
số giá cả và quan hệ mua bán bình thờng theo cơ chế thị trờng.Về cơ bản nớc ta vẫn
cha có thị trờng tiền tệ và thị trờng tiền vốn mà chỉ có thị trờng này ở khu vực ngoài
quốc doanh với quan hệ vay trả,mua bán còn thô sơ.Khu vực kinh tế Nhà nớc vẫn sử
hội lần thứ VII của Đảng ta đã khẳng định: Xoá bỏ triệt để cơ chế tập trung quan
liêu bao cấp,hình thành cơ chể thị trờng có sự quản lý của Nhà nớc bằng pháp
luật,kế hoạch,chính sách và các công cụ khác.Xây dựng và phát triển đồng bộ các
thị trờng hàng tiêu dùng,vật t,dịch vụ,tiền vốn,sức lao động thực hiện giao lu kinh
tế thông suốt trong cả nớc và với thị trờng thế giới.
2.2.Thực chất của qua trình chuyển nền kinh tế Việt nam sang kinh tế thị trờng
định hờng xã hội chủ nghĩa.
Trong khi mô hình kinh tế kế hoạch hoá tập trung ở nớc ta rơi vào tình trạng nh
đã nêu trên thì các nớc vận dụng mô hình kinh tế hàng hoá vận động theo cơ chế thị
trờng.Tuy nền kinh tế có lâm vào suy thoái,nhng nó khắc phục đợc nhanh,nó thích
nghi với sự tác động vủa cách mạng khoa học và công nghệ,nền kinh tế còn tăng tr-
ởng ở mức độ nhất định.Vì vậy Đảng và Nhà nớc ta chủ trơng chuyển từ mô hình
kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang sang phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều
thành phần vận động theo cơ chế thị trờng có sự quản lý của Nhà nớc và định hớng
xã hội chủ nghĩa.Hay nói cách khác là phát triển nền kinh tế thị trờng có sự quản lý
của Nhà nớc và định hớng xã hội chủ nghĩa ở Việt nam.
Chủ trơng trên là đúng đắn vì:
Thứ nhất: Theo quan điểm của C.Mác- kinh tế hàng hoá không phải là một phơng
thức sản xuất độc lập mà là một hình thức tổ chức kinh tế tồn tại trong các phơng
thức sản xuất xã hội.Với phạm vi và mức độ khác nhau,tuy cùng là kinh tế hàng hoá
25