Phát triển kinh tế thị trường ở Việt Nam - Pdf 28

Website: Email : Tel : 0918.775.368
I. Phát triển kinh tế thị trờng ở nớc ta là một tất yếu khách
quan.
1.Kinh tế tự nhiên và kinh tế hàng hoá.
1.1. Kinh tế tự nhiên.
Kinh tế tự nhiên và kinh tế hàng hoá là hai hình thức tổ chức
kinh tế xã hội đã tồn tại trong lịch sử. Hai hình thức này đ ợc hình
thành trên cơ sở trình độ phát triển của lực lợng sản xuất xã hội, trình
độ phát triển và phạm vi của quan hệ trao đổi.
Trong nền kinh tế tự nhiên, ngời sản xuất cũng đồng thời là ngời
tiêu dùng. Tự sản xuất, tự tiêu dùng là đặc điểm nổi bật của kinh tế tự
nhiên. Mục đích của sản xuất là tạo ra những giá trị sử dụng nhằm
thoả mãn nhu cầu tiêu dùng của chính bản thân ngời sản xuất. Vì thế
có thể nói quá trình sản xuất của nền kinh tế tự nhiên chỉ gồm hai
khâu: sản xuất tiêu dùng. Các quan hệ kinh tế trong nền kinh tế tự
nhiên đều mang hình thái hiện vật.
1.2. Kinh tế hàng hoá.
Trong nền kinh tế hàng hoá, mục đích của sản xuất là trao đổi
hay là để bán. Mục đích đó đợc xác định trớc quá trình sản xuất và có
tính khách quan. Sản xuất và toàn bộ quá trình tái sản xuất đều gắn
với thị trờng.
So với kinh tế tự nhiên, kinh tế hàng hoá có những u thế cơ bản
sau đây:
Một là, Trong kinh tế hàng hoá do sự phát triển của sự phân
công lao động xã hội cho nên sản xuất đợc chuyên môn hoá ngày càng
cao, thị trờng ngày càng mở rộng. Điều đó tạo điều kiện phát huy lợi
thế so sánh của mỗi vùng, mỗi đơn vị sản xuất, thúc đẩy việc cải tiến
Đỗ Thị Hà Thơng Cao học 16B
1
Website: Email : Tel : 0918.775.368
công cụ lao động, nâng cao trình độ kỹ thuật, mở rộng phạm vi sản

và phát triển kinh tế hàng hoá đã phủ định dần kinh tế tự nhiên và
khẳng định mình là một kiểu tổ chức kinh tế và xã hội độc lập.
Phân công lao động xã hội đã tạo ra những ngành nghề sản xuất
khác nhau. Do phân công lao động xã hội cho nên mỗi ng ời chuyên
làm một việc trong một ngành với một nghề nhất định và chuyên sản
xuất ra một hoặc một số sản phẩm nhất định. Nhng nhu cầu tiêu dùng
của họ lại cần nhiều loại sản phẩm khác nhau. Để thoả mãn nhu cầu
của mình những ngời sản xuất phải nơng tựa vào nhau, trao đổi sản
phẩm cho nhau. Phân công lao động xã hội làm nảy sinh những quan
hệ kinh tế giữa những ngời sản xuất với nhau.
Trong điều kiện t hữu về t liệu sản xuất, những ngời sản xuất
độc lập với nhau và có lợi ích kinh tế khác nhau.
Do phân công lao động xã hội và sự độc lập tơng đối về kinh tế
giữa những ngời sản xuất, cho nên quan hệ giữa những ngời sản xuất
là quan hệ mâu thuẫn : họ vừa liên hệ phụ thuộc vào nhau vừa độc lập
với nhau. Giải quyết mối quan hệ mâu thuẫn này tất yếu đòi hỏi phải
có quan hệ trao đổi dựa trên cơ sở giá trị, nghĩa là dựa trên cơ sở trao
đổi ngang giá.
Phân công lao động xã hội phát triển thì quan hệ trao đổi cũng
đợc mở rộng và ngày càng phức tạp. Phân công lao động xã hội làm
xuất hiện thủ công nghiệp và tách nó ra khỏi ngành nông nghiệp, làm
hình thành xu hớng công nghiệp thành thị dần dần tách khỏi nông
nghiệp nông thôn. Phân công lao động xã hội phát triển cũng dẫn tới
sự ra đời của ngành thơng nghiệp. Khi thơng nghiệp ra đời, quan hệ
trao đổi có sắc thái mới: ngời sản xuất và ngời tiêu dùng có quan hệ
sản xuất với nhau qua ngời thứ ba là thơng nhân. Việc mở rộng phạm
vi xã hội hoá sản xuất đồng thời cũng kéo theo việc chuyên môn hoá
ngành nghề. Ngời sản xuất chuyên sản xuất, còn lu thông hàng hoá đã
Đỗ Thị Hà Thơng Cao học 16B
3

Website: Email : Tel : 0918.775.368
Một là, sự xuất hiện của hàng hoá sức lao động và thị trờng sức
lao động. Trớc hết cần khẳng định sự xuất hiện của hàng hoá sức lao
động là một tiến bộ lịch sử. Ngời lao động đợc tự do, anh ta có quyền
làm chủ khả năng lao động của mình và là chủ thể bình đẳng trong
việc thơng lợng với ngời khác. Chủ nghĩa t bản đã thực hiện đợc bớc
tiến bộ lịch sử trong khuôn khổ lợi dụng tính chất đặc biệt của hàng
hoá sức lao động để phuc vụ túi tiền của các nhà t bản. Vì vậy đã làm
nảy sinh mâu thuẫn giữa t bản với lao động làm thuê. Trong điều kiện
lịch sử mới thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội không phải mọi
ngời có sức lao động đem bán đều là những ngời vô sản. Do sự chi
phối lợi ích kinh tế và của chi phí cơ hội những ngời lao động vẫn có
thể bán sức lao động của mình cho ngời khác nếu nh họ cảm thấy việc
làm này có lợi hơn so với việc tổ chức quá trình tổ chức.
Trong lịch sử sự hoạt động của quy luật giá trị đã từng dẫn tới
sự phân hoá những ngời sản xuất thành kẻ giàu ngời nghèo. Sự phân
hoá này diễn ra chậm chạp, cho nên cần phải có bạo lực của Nhà nớc
để thúc đẩy sự phân hoá này diễn ra đợc nhanh hơn. Chính sự phân
hoá những ngời sản xuất thành kẻ giàu ngời nghèo tới một giới hạn
nhất định đã làm nảy sinh hàng hoá lao động và thị trờng sức lao
động.
Kinh tế thị trờng là nền kinh tế phát triển. Nó có năng suất lao
động cao. Ngoài những sản phẩm cần thiết còn có những sản phẩm
thặng d. Chính sự xuất hiện của hàng hoá sức lao động đã phản ánh
điều đó. Hàng hoá sức lao động là hàng hoá đặc biệt. Tính chất đặc
biệt của nó đợc thể hiện tập trung ở thuộc tính giá trị sử dụng của nó.
Giá trị sử dụng của hàng hoá sức lao động. Sở dĩ nh vậy là vì: do kỹ
thuật sản xuất phát triển cho nên năng suất lao động của ngời công
nhân đã cao. Ngày lao động của ngời công nhân đợc chia thành 2
Đỗ Thị Hà Thơng Cao học 16B

Đỗ Thị Hà Thơng Cao học 16B
6
Website: Email : Tel : 0918.775.368
nó, chỉ duy trì tái sản xuất giản đơn. Trong cơ chế kinh tế cũ vì coi
thờng quy luật giá trị nên các cơ sở kinh tế cũng thiếu sức sống và
động lực để phát triển sản xuất. Sử dụng sản xuất hàng hoá là sử dụng
quy luật giá trị, quy luật này buộc mỗi ngời sản xuất tự chịu trách
nhiệm về hàng hoá do mình làm ra. Chính vì thế mà nền kinh tế trở
nên sống động. Mỗi ngời sản xuất đều chịu sức ép buộc phải quan tâm
đến sự tiêu thụ trên thị trờng, sao cho sản phẩm của mình đợc xã hội
thừa nhận và cũng từ đó họ mới có đợc thu nhập.
Phát triển kinh tế thị trờng là sự phát triển của lực lợng sản xuất
xã hội, cũng có nghĩa là sản phẩm xã hội ngày càng phong phú, đáp
ứng nhu cầu đa dạng của mọi ngời. ở nông thôn nớc ta, sự phát triển
kinh tế hàng hoá và và việc tăng tỷ lệ hàng hoá nông sản đã làm cho
tỷ lệ hàng hoá bán ra của nông dân nhiều lên, thu nhập tăng lên, đồng
thời các ngành nghề ở nông thôn cũng tơng đối phát triển, tạo ra cho
nông dân nhiều viẹc làm. Đó cũng là điều đã diễn ra ở thành phố, đối
với những ngời lao động thành thị.
Phát triển sản xuất hàng hoá có thể đào tạo ngày càng nhiều cán
bộ quản lý và lao động. Muốn thu đợc lợi nhuận họ phải vận dụng
nhiều biện pháp để quản lý kinh tế để thúc đẩy tiến bộ kỹ thuật, hạ
giá thành sản phẩm, làm cho sản xuất phù hợp với nhu cầu của thị tr -
ờng, nâng cao hơn nữa hiệu quả kinh tế. Qua cuộc cạnh tranh trên thị
trờng, những nhân tài quản lý kinh tế và lao động thành thạo xuất
hiện ngày càng nhiều và đó là một dấu hiệu quan trọng của tiến bộ
kinh tế.
Nh vậy phát triển kinh tế hàng hoá đối với nớc ta là một tất yếu
kinh tế, một nhiệm vụ kinh tế cấp bách để chuyển nền kinh tế lạc hậu
thành nên kinh tế hiện đại, hội nhập vào sự phân công lao động quốc

sản xuất, vô tình hạn chế việc ứng dụng những tiến bộ của khoa học
kỹ thuật vào sản xuất, năng suất lao động tăng chậm, gây rối loạn và
Đỗ Thị Hà Thơng Cao học 16B
8


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status