Lời nói đầu
Thời gian qua cùng với sự hình thành và phát triển của các loại hình
doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trờng. Doanh nghiệp vừa và nhỏ đã phát
triển một cách mạnh mẽ, đóng góp một vai trò quan trọng vào sự phát triển
chung của nền kinh tế nớc ta. Tuy nhiên hiện nay chúng ta cha có một chính
sách đồng bộ nhằm tạo điều kiện cho loại hình doanh nghiệp này phát triển.
Đứng trớc yêu cầu trên Nhà nớc cần phải đa ra một hệ thống chính sách
nhằm khuyến khích, tạo điều kiên phát triển loại hình doanh nghiệp này. Về
cơ bản, loại hình doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam hiên nay chủ yếu
thuộc thành phần kinh tế ngoài quốc doanh, vì vậy với đề tài " Phát triển
doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nền kinh tế thị trớng ở Việt Nam" chủ yếu
tập trung vào nghiên cứu thực trạng, giải pháp nhằm phát triển khu vực doanh
nghiệp này. Với mục đích nghiên cứu trên đề tài đợc chia thành ba phần.
Phần I : Tổng quan về doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Phần này nghiên cứu một cách khái quát loại hình doanh nghiệp vừa và
nhỏ.
Phần II : Phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nền kinh tế thị
trờng ở Việt Nam.
Đây là phần chính của đề tài, với phấn này sẻ nêu lên những điếu kiện
để phát triển các doang nghiệp vừa và nhỏ đồng thời nêu lên thực trạng phát
triển loại hình doanh nghiệp này thời gian qua ở nớc ta từ đó đa ra những
kiến nghị về mặt quản lý cùng nh những kiến nghị về mặt tổ chức điều hành
từ phìa các doanh nghiệp.
Phần III : Kinh nghiệm phát triển và quản lý doanh nghiệp vừa và
nhỏ của một số nớc trên thế giới.
1
Với phần này sẻ nêu lên một số kinh nghiệp của các nớc trên thế giời,
từ các nớc phát triển đến các nớc đang phát triển từ đó rút ra những bài học
ứng dụng vào Việt Nam.
2
Phần I
xuyên và doanh thu dới 500.000 USD/năm (nếu là bán lẻ) và dới 250.000
USD/ năm (nếu là bán buôn) đợc coi là doanh nghiệp vừa và nhỏ. Trong số
này doanh nghiệp nào có dới 5 lao động thòng xuyên đợc coi là doanh nghiệp
nhỏ
1
(các tiêu thức này đợc xác định từ những năm 70, đến nay tiêu thức về
lao động đã thay đổi từ 2 đến 3 lần và vốn đã tăng hàng chục lần).
Nhật Bản: là một nớc đã tạo nên huyền thoại thần kỳ trong phát triển
kinh tế vào những năm của thập kỷ 50 đến thập kỷ 70. Từ những năm 60,
Nhật Bản có đạo luật cơ bản về doanh nghiệp vừa và nhỏ, trong đó xác định
doanh nghiệp vừa và nhỏ nh sau:
Đối với doanh nghiệp sản xuất: doanh nghiệp có dới 300 lao động và
một khoản t bản hoá (vốn đầu t) dới 100 triệu Yên (tơng đơng với 1. 000. 000
USD) đợc coi là doanh nghiệp vừa và nhỏ. Trong số này, doanh nghiệp nào
có dới 20 lao động đợc coi là doanh nghiệp nhỏ.
Đối với doanh nghiệp bán buôn: doanh nghiệp có dới 100 lao động
hoặc có một khoản t bản hoá dới 30 triệu Yên (tơng đơng 100.000 USD) đợc
coi là doanh nghiệp nhỏ.
Đối với doanh nghiệp bán lẻ và dịch vụ: doanh nghiệp có dới 50 lao
động hoặc một khoản t bản hoá dới 10 triệu yên (tơng đơng 100. 000 USD)
đợc coi là doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ. Trong số này, doanh nghiệp
nào có dới 5 lao động đợc coi là doanh nghiệp nhỏ (những tiêu thức này nay
đợc xác định từ những năm 60, hiên nay vốn đã tăng lên hàng chục lần)
2
.
Trong khái niệm về doanh nghiệp vừa và nhỏ, Nhật Bản chỉ quan tâm
đến hai tiêu thức là vốn và lao động. Đối với tiêu thức lao động của loại hình
doanh nghiệp nhỏ, Nhật Bản quan niệm gần giống với Hàn Quốc, rất thấp so
1
Thông tin phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ, 1/1997, tr 2.
chỉ có tính ớc lệ, bản thân các tiêu chí đó cha đủ xác định thế nào là khu vc
DNV & N ở Việt Nam, bởi vì có rất nhiếu các quan điểm khác nhau về việc
các đối tợng, các chủ thể kinh doanh đợc coi là thuộc về hoặc không thuộc về
khu vực DNV & N. Vì vậy, nhiều ý kiến cho rằng cần quy định rõ DNV & N
ở Việt Nam là cơ sở sản xuất có đăng ký, không phân biệt thành phần kinh
3
Thông tin phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ, 1/1997, tr3
5
tế, có quy mô về vốn và/ hoặc lao động thoả mãn qui định của Chính phủ đối
với từng ngành nghề tơng ứng với từng thời kỳ phát triển của nền kinh tế.
Một số tiêu chí xác định DN vừa và nhỏ đã đợc áp dụng ở Việt Nam
Cơ quan, tổ chức đa ra
tiêu chí
Vốn Doanh thu Lao động
Ngân Hàng công Th-
ơng Việt Nam
Vốn cố định dới 10 tỷ
đồng, vốn lu động dới 8
tỷ đồng
dới 20 tỷ
đồng/tháng
Dới 500 ngòi
Liên Bộ Lao Động &
Tài chính
Vốn pháp định dới 1 tỷ
đồng
dới 1 tỷ
đồng/năm
dới 100 ngời
Dự án VIE/US/95 (Hỗ
- Doanh nghiệp vừa và nhỏ cần vốn đầu t ban đầu ít, hiệu quả cao, thu
hồi vốn nhanh.
- Doanh nghiệp vừa và nhỏ có tỷ suất đầu t trên lao động thấp nhiều so
với doanh nghiệp lớn, vì vậy nó có hiệu suất tạo việc làm cao.
- Hệ thống tổ chức sản xuất và quản lý ở các doanh nghiệp vừa và nhỏ
gọn nhẹ, linh hoạt, công tác điều hành mang tính trực tiếp.
- Quan hệ giữa ngời lao động và ngời quản lý (quan hệ chủ- thợ) trong
các doanh nghiệp vừa và nhỏ khá chặt chẻ.
- Sự đình trệ, thua lỗ, phá sản của các doanh nghiệp vừa và nhỏ có ảnh
hởng rất ít hoặc không gây khủng hoảng kinh tế- xã hội, đồng thời ít
chịu ảnh hởng của các cuộc khủng hoảng dây chuyền.
1.2 Những bất lợi của doanh nghiệp vừa và nhỏ:
Bên cạnh những lợi thế kể trên doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng có những
bất lợi so với doanh nghiệp có quy mô lớn.
- Thông thờng các doanh nghiêp vừa và nhỏ thờng có nguồn tài chính
hạn chế.
Cơ sở vật chất kỹ thuật, trình độ thiết bị công nghệ yếu kém, lạc hậu.
Khả năng đổi mới công nghệ hay áp dụng những tiến bộ khoa học- kỹ thuật
vào sản xuất là hạn chế.
7
- Khả năng tiếp cận thông tin và tiếp thị của các doanh nghiệp vừa và
nhỏ bị hạn chế rất nhiều.
- Trình độ quản lý ở các doanh nghiệp vừa và nhỏ còn bị hạn chế.
- Các doanh nghiệp vừa và nhỏ có năng suất lao động và sức cạnh
tranh kinh tế thấp hơn nhiều so với doanh nghiệp lớn.
2. Vai trò và tác động kinh tế-xã hội của DNV & N
Mặc dù có những thế bất lợi nhất định nhng doang nghiệp vừa và nhỏ
với những tính chất, đặc điểm và lợi thế của nó, nên các doanh nghiệp này có
vị trí và vai trò tác động kinh tế-xã hội rất lớn.
Thứ nhất, các DNV & N có vị trí rất quan trọng ở chỗ, chúng chiếm đa
5
Thứ t, các doanh nghiệp vừa và nhỏ góp phần làm năng động nền kinh
tế trong cơ chế thị trờng, do lợi thế quy mô vừa và nhỏ là năng động, linh
hoạt, sáng tạo trong kinh doanh, cùng với hình thức tổ chức kinh doanh có sự
kết hợp chuyên môn hoá và đa dạng hoá mềm dẻo, hoà nhịp đợc với những
đòi hỏi của nền kinh tế thị trờng.
Thứ năm, khu vực doanh nghiệp vừa và nhỏ thu hút đợc khá nhiều vốn ở
trong dân. Do tính chất nhỏ lẻ, dễ phân tán đi sâu vào dân c và yêu cầu về số
lợng vốn ban đầu không nhiều, cho nên các doanh nghiệp vừa và nhỏ cố tác
dụng rất lớn trong việc thu hút các nguồn vốn nhỏ lẻ, nhàn rỗi trong các tầng
lớp dân c đầu t vào sản xuất kinh doanh, chúng tạo lập dần tập quán đầu t vào
sản xuất kinh doanh và hình thành các khu vực để thực hiện có kết quả vấn
đề huy động vốn của dân c theo luật khuyến khích đầu t trong nớc.
Thứ sáu, các doanh nghiệp vừa và nhỏ có vai trò to lớn đối với quá trình
chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đặc biệt đối với khu vực nông thôn đã thúc đẩy
nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, làm cho công nghiệp phát triển
mạnh, đồng thời thúc đẩy các ngành thơng mại- dịch vụ phát triển. Sự phát
triển doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng góp phần làm tăng tỷ trọng công nghiệp,
dịch vụ và làm thu hẹp dần tỷ trọng khu vực nông nghiệp trong nền kinh tế
quốc dân. Các doanh nghiệp vừa và nhỏ còn góp phần đa dạng hoá cơ cấu
công nghiệp.
5
Báo cáo: Hoàn thiện chính sách kinh tế vĩ mô, cải cách thủ tục hành chính phát triển DNVVN ở Việt
Nam- Trong khuôn khổ dự ánUNIDO-MPI-US/VIE/95/004, tr 6
9
Thứ bảy, các doanh nghiệp vừa và nhỏ góp phần vào đô thị hoá phi tập
trung và thực hiện phơng châm ly nông bất ly hơng. Sự phát triển của các
doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nông thôn sẻ thu hút những ngời lao động thiếu
hoặc cha có việc làm và có thể thu hút lợng lớn lao động thời vụ trong các kỳ
nông nhàn vào hoạt động sản xuất-kinh doanh, rút dần lao động làm nông
khéo điều hành và tổ chức sắp xếp công việc, cần cù,chịu khó, tiết kiệm...đã
thành đạt, ngày càng giàu lên, tích luỹ đợc nhiều của cải, tiền vốn, thờng
xuyên mở rộng quy mô sản xuất-kinh doanh, đến một lúc nào đó, lực lợng
lao động của gia đình không đảm đơng hết công việc, cần phải thuê thêm ng-
ời làm và họ trở thành ông chủ. Ngợc lại , một bộ phận nguời sản xuất hàng
hoá nhỏ khác, hoặc do không gặp vận may trong sản xuất-kinh doanh và đời
sống, hoặc do kém cỏi không biết chớp thời cơ, không có sáng kiến cải tiến
kỹ thuật, không biết tính toán quản lý và điều hành doanh nghiệp... đã dẫn
đến thua lỗ triền miên, buộc phải bán t liệu sản xuất, đi làm thuê cho ngời
khác. Những giai đoạn đầu, các ông chủ và những ngời thợ cùng lao động
trực tiếp với nhau và những ngời làm thuê thờng là bà con họ hàng của ông
chủ sau đó thì mở rộng dần ra. Các học giả thờng xếp loại này vào phạm trù
DNV & N.
Trong quá trình sản xuất- kinh doanh, một số ngời thành đạt đã phát
triển doanh nghiệp của mình, bằng cách mở rộng sản xuất kinh doanh, và nh
vậy nhu cầu về vốn sẻ đòi hỏi nhiều hơn. Nhu cầu về vốn ngày càng tăng,
nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất- kinh doanh đã thôi thúc các nhà doanh
nghiệp, hoặc một số ngời cùng nhau góp vốn thành lập xí nghiệp sản xuất-
kinh doanh, hoặc phát hành cổ phiếu thành lập công ty cổ phần. bằng cách
liên kết ngang, dọc hoặc hổn hợp, nhiều tập đoàn kinh tế, nhiều doanh nghiệp
lớn hình thành và phát triển.
Nền kinh tế một quốc gia là tổng hợp các doanh nghiệp lớn, bé tạo
thành. Phần đông các doanh nghiệp lớn trởng thành, phát triển từ các doanh
11
nghiệp vừa và nhỏ. Quy luật đi từ nhỏ đến lớn là con đờng tất yếu của sự phát
triển bền vững mang tính phổ biến của đại đa số các doanh nghiệp trong nền
kinh tế thị trờng . Đồng thời, sự tồn tại đan xen và kết hợp các loại quy mô
doanh nghiệp làm cho nền kinh tế của mỗi nớc khắc phục đợc tính đơn điệu,
xơ cứng, tạo nên sự đa dạng, phong phú, linh hoạt, vừa đáp ứng những nhu
cầu phát triển đi lên lẫn những biến đổi nhanh chóng của thi trờng trong điều
phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nớc ta.
2. Về vốn tài chính
13
Mọi hoạt động sản xuất kinh doanh đều cần vốn tài chính. Qua sự vận
động của vốn có thể xác định đợc trạng thái hoạt động của doanh nghiệp.
điều kiện về vốn của các doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam hiện nay rất hạn
hẹp và gặp khó khăn rất lớn. Sự thiếu vốn của chúng đang diễn ra trên bình
diện khá rộng. Bởi vì, quy mô vốn tự có của nó đều rất nhỏ, hạn hẹp, không
đủ tài trợ cho các hoạt động sản xuất-kinh doanh có hiệu quả, đặc biệt đối với
những doanh nghiệp muốn mở rộng, phát triển quy mô và đổi mới nâng cấp,
phát triển công nghệ. Mặt khác, thị trờng vốn dài hạn, thị trờng chứng khoán,
về cơ bản nớc ta cha có. Và nếu có thì khả năng tham gia thị trờng chứng
khoán của các doanh nghiệp vừa và nhỏ là rất hạn chế, hiếm hoi. Đồng thời,
khả năng và điều kiện tiếp cận các nguồn vốn trên thị trờng tín dụng đối với
các doanh nghiệp vừa và nhỏ là rất hạn chế và gặp khó khăn lớn, là do:
không đủ tài sản thế chấp; mức lãi suất khá cao so với lợi nhuận thu đợc,
khối lợng cho vay ít, thời hạn cho vay quá ngắn, thủ tục rờm rà phiền hà;
hình thức và thể chế tín dụng, nhất là khu vực nông thôn, còn nghèo nàn, đơn
điệụ và hiệu lực pháp lý không cao. Những khó khăn đó rất cần đợc giải
quyết để tạo điều kiện cho sự tồn tại và phát triển của các doanh nghiệp vừa
và nhỏ.
3. Về thiết bị - công nghệ
Bộ ba vốn-thị trờng-công nghệ luôn là vấn đề cốt lõi của mỗi doanh
nghiệp, trong đó có doanh nghiệp vừa và nhỏ. Điều kiện thiết bị công nghệ sẻ
tác động trực tiếp tới năng suất, chất lợng sản phẩm, giúp cho doanh nghiệp
nâng cao khả năng cạnh tranh trên thị trờng.
Trong những năm đổi mới vừa qua do sức ép của thị trờng và cơ chế
quản lý kinh tế, các doanh nghiệp vừa và nhỏ đã có những đổi mới công nghệ
nhất định. Đó là việc dùng điện vào sản xuất và gắn liền với nó là thực hiện
nửa cơ khí, cơ khí hoá từng phần hoặc toàn bộ quá trình sản xuất. Song nhìn
doanh, đa doanh nghiệp của mình ngày càng phát triển. Mỗi chủ doanh
nghiệp phải biết thu thập, tổng hợp, phân tích, đánh giá các loại thông tin
kinh tế, kỹ thuật, biết đề ra những chiến lợc đúng đắn và đa ra những quyết
định sáng suốt, kịp thời. Đồng thời, chủ doanh nghiệp phải biết quản lý, giám
sát, điều hành công việc của những ngời lao động một cách hợp lý, có hiệu
15
quả, biết đánh giá, động viên, khuyến khích, thởng phạt và trả công chính
xác, tơng xứng với những đóng góp của họ vào kết quả chung của xí nghiệp.
Nhìn lại đội ngũ các chủ doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nớc ta hiện nay cho
thấy, họ có nhiều bất cập với đòi hỏi của kinh doanh trong thơng trờng hiện
đại. Đại đa số họ chỉ có trình độ kiến thức phổ thông cấp II
(45-50%), một số không nhiều có trình đồ văn hoá phổ thông trung học, cao
đẳng và đại học (30-40%). Còn một bộ phận đáng kể có trình độ tiểu học
(10-15%). Chỉ có rất ít các chủ doanh nghiệp đợc đào tạo kiến thức quản lý
chính quy, một số ít (20-30%) đợc tập trung đào tạo ngắn hạn (dới 6 tháng),
còn lại đại đa số chỉ quản lý doanh nghiệp mình bằng kinh nghiệm. Đây là
một điểm yếu rất lớn và là một khó khăn quan trọng đối với các doanh
nghiệp vừa và nhỏ cần có sự giúp đỡ từ phía nhà nớc và các tổ chức phi chính
phủ.
6
6. Về trí thức và trình độ tay nghề của lực lợng lao động
Trình độ tri thức và tay nghề của ngừơi lao động làm việc trong các
doanh nghiệp cũng rất quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của chúng .
Những ngời có trí thức, tay nghề sẻ sử dụng tốt các loại thiết bị công nghệ
cao, phức tap, tiếp thu áp dụng tốt các loại thiết bị công nghệ tiên tiến hiện
đại, làm ra những sản phẩm đẹp, có chất lợng, với năng suất và hiệu quả cao.
Đội ngũ lao động hiện có trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ, phân
nhiều có trình độ văn hoá cấp II (40-50%) số có trình độ văn hoá phổ thông
trung học cũng chiếm một tỷ trọng khá ( 20-30%) và số có trình độ tiểu học
và cha biết chữ còn chiếm một tỷ trọng khá lớn (25-30%). Song, về trình độ
khăn, rất cần sự giúp đỡ để cải thiện tình hình.
8. Về hệ thống chính sách và pháp luật của Nhà nớc
Hệ thống chính sách và pháp luật của Nhà nớc tác động tới toàn bộ
mọi mặt trong đời sống xã hội, trong đó có sự hình thành và phát triển của
các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Chúng hoặc là tạo điều kiện thuận lợi, hoặc là
gây khó khăn cản trở đối với sự ra đời, hoạt động và phát triển của các doanh
nghiệp vừa và nhỏ trong những năm đổi mới, hệ thống chính sách và pháp
luật liên quan đến khu vực ngoài quốc doanh (trong đó các doanh nghiệp vừa
và nhỏ là chủ yếu) đã đợc hình thành và đổi mới từng bớc với những kết quả
tích cc. Chúng đã tạo điều kiện khuyến khích, thúc đẩy sự hình thành và phát
triển khá mạnh mẽ đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Đặc biệt đối với khu
vực kinh tế t nhân.
17
Tuy nhiên, hệ thống chính sách và pháp luật hiện hành vẫn còn thiếu
đồng bộ, nhất quán và kém hoàn thiện. Chúng vẫn cha tạo ra môi trờng hoạt
đông thông thoáng và bình đẳng cho mọi loại hình doanh nghiêp, cha khuyến
khích các doanh nghiệp hoạt đông sản xuất-kinh doanh có hiệu quả và tuân
theo pháp luật, đặc biệt là các chính sách đất đai, thuế khoá, tín dụng và xuất
nhập khẩu ... Điều đó đòi hỏi phải có sự đổi mới, hoàn thiện hơn nữa hệ
thống chính sách và pháp luật của Nhà nớc để tạo điều kiện thúc đẩy mạnh
mẽ sự hình thành và phát triển của các doanh nghiệp vừa và nhỏ.
9. Về hệ thống tổ chức quản lý kiểm soát của Nhà nớc và các thiết
chế cộng đồng xã hội nông thôn
Hệ thống tổ chức quản lý, kiểm soát của Nhà nớc từ trung ơng đến các
cấp tỉnh, huyện, xã với nhiều ban ngành cồng kềnh và thực tế hoạt động
không có sự phối hợp chặt chẻ, phân công trách nhiệm rõ ràng, đã làm giảm
hiệu lực quản lý của bộ máy. Các hoạt động của đội kiểm tra liên ngành,
quản lý thị trờng, công an, thuế vụ ... không có sự thống nhất, chồng chéo,
dẩm đạp lên nhau, nhiều khi còn đổ lỗi và có những hành động triệt tiêu hiệu
quả công tác quản lý lẫn nhau. Một mặt, nó gây khó khăn cho các hoạt động
II. sự phát triển của doanh nghiệp vừa và nhỏ ở việt nam
Hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp vừa và nhỏ, có những
giai đoạn phát triển, nhng mức độ có khác nhau trong từng thời kỳ nhất định.
Theo tôi có thể chia làm hai thời kỳ chính để nghiên cứu về loại hình
doanh nghiệp vừa và nhỏ. Thời kỳ thứ nhất là những năm 1986 trở về trớc và
thời kỳ sau năm 1986. ở thời kỳ thứ nhất loại hình doanh nghiệp vừa và nhỏ
nhìn chung cha phát triển mạnh, chủ yếu tồn tại và phát triển ở hai loại hình
doanh nghiệp là HTX và DNNN, còn mang nặng tính chất hoạt động của thời
kỳ kế hoạch hoá, tập trung quan liêu bao cấp. ở thời kỳ thứ hai, nhìn chung
do chính sách cởi mở hơn về kinh tế của Đảng và Nhà nớc, do sự thúc ép cấp
bách về vấn đề giải quyết việc làm cho ngời lao động: Tăng trởng lao động tự
nhiên hàng năm d thừa lao động ở khu vực hành chính sự nghiệp, DNNN trải
qua giai đoạn cũng cố sắp xếp lại, sự trở về của hàng vạn lao động từ Liên Xô
(cũ) và Đông Âu, hồi hơng của những ngời di tản... Do đó doanh nghiệp vừa
và nhỏ chủ yếu thuộc thành phần kinh tế t nhân phát triển mạnh mẽ về số l-
19
ợng, ở các nghành, lĩnh vực kinh tế và các vùng lãnh thổ, đóng góp rất quan
trọng và việc thu hút nguồn lao động, nâng cao thu nhập cho ngời lao động
và là động lực tăng trởng nền kinh tế (xem bảng 2).
Bảng 2: Thu hút lao đông vầ tỷ trọng khu vực t nhân trong GDP
1995 1996 1997 1998 1999 2000
1. Tổng số l0ao động
làm việc trong khu vực
nhà nớc
- Trong khu vực
nhà nớc
- Trong khu vực
t nhân
100,00
11,28
50% tính đến tháng 6 năm 1996).
Theo số liệu thống kê năm 1996 doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nớc ta gồm
gần 18.000 doanh nghiệp, chính thức đăng ký hoạt động với các hình thức và
thuộc nhiều thành phần kinh tế: doanh nghiệp nhà nớc, công ty trách nhiệm
20
hữu hạn, công ty cổ phần, xí nghiệp liên doanh và còn có khoảng trên
500.000 cở sở sản xuất tiểu thủ công nghiệp nhỏ khác.
Doanh nghiệp vừa và nhỏ ở thời kỳ này có mức vốn và lao động bình
quân cao gấp hai lần thời kỳ trớc năm 1986, lực lợng lao động trẻ có trình độ
văn hoá, kỹ thuật tơng đối đồng đều, cao hơn trớc, tạo ra nhiều sản phẩm
hàng hoá phong phú về chủng loại, mẫu mã chất lợng tốt, có một số sản
phẩm đã cạnh tranh đợc với hàng ngoại nhập lậu và đáp ứng nhu cầu tiêu
dùng trong nớc là các mặt hàng: nhựa gia dụng, xà bông, hoá mỹ phẩm, giầy
da, may mặc... Xu hớc phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ tiếp tục tăng
nhanh về số lợng có thể lên tới 20.000 doanh nghiệp và gần 800.000 cở sở
sản xuất nhỏ khác vào năm 2000 với quy mô về vốn và lao động dự báo tăng
gấp 3 lần giai đoạn trớc năm 1986 và thông thờng có tới 70% doanh nghiệp
hoạt động trong lĩnh vực thơng mại, dịch vụ.
ở các nớc phát triển và đang phát triên trên thế giới , sự quan tâm hổ trợ
để tạo đà cho doanh nghiệp vừa và nhỏ phát triển là vấn đề hết sức quan trọng
của nhà nớc, đợc thể hiện bằng các đạo luật, chính sách và biên pháp cụ thể...
Chúng ta phấn đấu trong chiến lợc năm 2000-2010 đạt một số chỉ tiêu
sau:
- Tỷ trong trong GDP cả nớc chiểm khoảng từ 24% lên 25% vào năm 2000
và 28% vào năm 2010.
- Tỷ trọng lao động cả nớc từ 25% lên 26% vào năm2000 và 29% vào năm
2010.
- Doanh nghiệp vừa và nhỏ công nghiệp trong giá trị sản xuất toàn ngành
chiếm 31-32% vào năm 2000 và 34% vào năm 2010.
8
lệ hoạt động, giấy chứng nhận vốn, hợp đồng thuê mớn mặt bằng (hoặc
quyền sử dụng mặt bằng) là đủ điều kiện để các cơ quan có thẩm quyền cho
phép thành lập doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Mô hính quản lý DNV&N
22
bộ kh&đt
cục
qlht dnv&n
Chi cục khu vực Phòng tại Tỉnh-tp
( Thuộc sở kh &
đt)
hiệp hồi các
dnv&n
(tổ chức hỗ trợ
dnv&n
1.2 Chính sách tài chính tín dụng
23
Khó khăn phổ biến đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ ở các nớc là thiếu
vốn đầu t ban đầu.Vì vậy để khuyến khích tích tụ vốn nhanh ,cần phải áp
dụng chính sách giảm thuế với doanh nghiệp vừa và nhỏ. Việc u đãi, có thể
tiến hành trong 5 năm đối với các sắc thuế. Ngoài ra nếu doanh nghiệp chi
phí cho nghiên cứu và triển khai thử nghiệm sản phẩm mới . Đào tạo nghiệp
vụ và tay nghề thì đợc khấu trừ trớc khi tính thuế cả năm. Nên có chính sách
thuế u đãi theo quy mô doanh nghiệp và theo một số nghành mà nhà nớc
khuyến khích các doanh nghiệp vừa và nhỏ phát triển đồng thời cần phải
thống nhất các u đãi về thuế, không phân biệt loại hình doanh nghiệp.
Hiện nay tỷ lệ vốn tín dụng cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ chiếm tỷ
lệ rất thấp, vì vậy nên có quy định về việc các ngân hàng phải tăng tỷ lệ cho
các doanh nghiệp vừa và nhỏ vay trong tổng d tín dụng. Thông thờng các
doanh nghiệp vừa và nhỏ không có khả năng thế chấp để vay vốn, do đó cần
vừa và nhỏ cũng có thể đóng vai trò cung ứng quan trọng.
- Cần có chính sách khuyến khích mối quan hệ giữa doanh nghiệp lớn
với doanh nghiệp vừa và nhỏ để doanh nghiệp lớn có thể hỗ trợ cho
doanh nghiệp vừa và nhỏ thông qua việc ký kết các hợp đồng cung
ứng nguyên vật liệu, bán thành phẩm, gia công chi tiết, bộ phận,
phân phối sản phẩm. Tăng cờng mối quan hệ giữa doanh nghiệp lớn
với doanh nghiệp vừa và nhỏ vừ có tác dụng bảo đảm thị trờng, công
ăn việc lầm ổn định cho cả chủ doanh nghiệp và ngời lao động, vừa
tạo điều kiện thuận lợi để chuyển giao công nghệ, kỹ năng quản lý từ
doanh nghiệp lớn sang doang nghiệp vừa và nhỏ.
- Chống buôn lậu, chống hàng giả, trốn thuế, gian lận thơng mại cũng
đang là vấn đề bức xúc ảnh hởng đến hoạt động sản xuất- kinh
doanh của các doanh nghiệp vừa và nhỏ, bởi vì các doanh nghiệp vừa
và nhỏ có tiềm lực kinh tế thấp sản phẩm hành hoá sản xuất ra thờng
có sức cạnh tranh kém trên thị trờng. Điều này cho thấy Chính Phủ
và các cơ quan ban ngành có liên quan phải tổ chức phối hợp thật tốt
để giẩi quyết các vấn đề nêu trên.
1. 4 Chính sách xuất nhập khẩu
Các hàng rào đang tồn tại trong lĩnh vực xuất khẩu, thủ tục cấp phép,
25