giao lưu văn hóa việt chăm ở ninh thuận từ 1832 đến 2012 - Pdf 32

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH

Cao Võ Đăng Thanh

GIAO LƯU VĂN HÓA VIỆT - CHĂM Ở
NINH THUẬN TỪ 1832 ĐẾN 2012

LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ

Thành phố Hồ Chí Minh – 2013


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH

Cao Võ Đăng Thanh

GIAO LƯU VĂN HÓA VIỆT - CHĂM Ở
NINH THUẬN TỪ 1832 ĐẾN 2012

Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam
Mã số
: 66 22 02 13
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. TRẦN THỊ THANH THANH

Thành phố Hồ Chí Minh – 2013



LỜI CẢM ƠN .............................................................................................................. 2
MỤC LỤC .................................................................................................................... 3
MỞ ĐẦU....................................................................................................................... 5
1. Lý do chọn đề tài ............................................................................................................5
2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ................................................................................6
3. Lịch sử nghiên cứu vấn đề.............................................................................................7
4. Mục đích nghiên cứu: .................................................................................................. 11
5. Phương pháp nghiên cứu ............................................................................................ 11
6. Đóng góp của luận văn: ...............................................................................................12
7. Bố cục luận văn ............................................................................................................12

CHƯƠNG 1: VÀI NÉT VỀ NGƯỜI CHĂM Ở NINH THUẬN ........................... 14
1.1. Khái quát về đất nước của người Chăm .................................................................14
1.2. Quá trình người Chăm hòa nhập vào cộng đồng quốc gia dân tộc Việt Nam
thống nhất .............................................................................................................................17
1.3. Về người Chăm ở Ninh Thuận.................................................................................20
1.3.1. Dân cư và địa bàn cư trú ....................................................................................20
1.3.2. Tổ chức cộng đồng.............................................................................................24
1.3.3. Văn hóa Chăm ở Ninh Thuận ............................................................................25

CHƯƠNG 2: GIAO LƯU VĂN HÓA VIỆT - CHĂM Ở NINH THUẬN .......... 52
2.1. Những cơ sở hình thành văn hóa vùng đất Ninh Thuận .......................................52
2.1.1. Đặc điểm tự nhiên của vùng đất Ninh Thuận ....................................................52
2.1.2. Về các thay đổi hành chính của Ninh Thuận .....................................................54
2.1.3. Đặc điểm cư dân Ninh Thuận ............................................................................57
2.2. Đặc trưng văn hóa của cư dân người Việt ở Ninh Thuận .....................................58
2.2.1. Về tôn giáo, tín ngưỡng .....................................................................................59
2.2.2. Về phong tục, tập quán ......................................................................................61
2.2.3. Về đời sống kinh tế ............................................................................................63
2.3. Những biểu hiện của giao lưu văn hóa Việt - Chăm ở Ninh Thuận .....................64

phát triển của quốc gia dân tộc Việt Nam, tộc Chăm đã trở thành một bộ phận không thể
tách rời, người Chăm cùng với người Việt và nhiều tộc người khác đã làm nên cộng đồng
văn hóa các dân tộc anh em của Việt Nam. Văn hóa Chăm trở thành một bộ phận cấu thành
của nền văn hóa Việt Nam đa dạng và thống nhất.
Người Chăm đã từng sinh sống lâu đời trên phần đất miền Trung Việt Nam, từ Đèo
Ngang (Quảng Bình) đến Bình Thuận, khá tập trung ở các tỉnh Bình Định, Phú Yên, Ninh
Thuận, Bình Thuận, Bình Phước, Bình Dương, Đồng Nai, Tây Ninh, An Giang, thành phố
Hồ Chí Minh, ở các tỉnh Tây Nguyên và một số tỉnh khác. Ngoài ra, người Chăm còn sinh
sống ở đảo Hải Nam (Trung Quốc), Indonesia, Malaysia, Thailand và Cambodia, trong đó
đông nhất ở Cambodia. Những người Chăm này vốn từ Champa di cư từ thế kỷ thứ X đến
thế kỷ XIX, để tránh các cuộc nội chiến và chiến tranh xung đột với bên ngoài, trong đó có
chiến tranh với Đại Việt. Tỉnh Ninh Thuận có số dân người Chăm đông nhất so với các tỉnh
thành khác, hiện nay là 67.274 người 1, chiếm gần 50% người Chăm ở Việt Nam. Ninh
F
0

Thuận cũng là vùng đất cực nam của Champa thuộc tiểu quốc Panduranga, nơi người Chăm
đã xây dựng nên nhiều công trình kiến trúc đặc sắc và kì vĩ trong lịch sử. Người Chăm
chiếm 11,93% dân số Ninh Thuận, có vai trò quan trọng trong quá trình hình thành cộng
đồng cư dân, là chủ nhân sắc thái văn hóa riêng của vùng đất này. Trong quá trình cư trú, lao
động sản xuất và sinh hoạt cùng nhau, hai cộng đồng cư dân Việt - Chăm đã có sự giao lưu,
1

Theo kết quả tổng điều tra dân số năm 2009.

5


tiếp biến trên nhiều lĩnh vực văn hóa vật chất và tinh thần.
Hiện nay có rất nhiều công trình nghiên cứu về người Chăm - văn hóa Chăm, về giao

6


Không gian nghiên cứu của đề tài là tỉnh Ninh Thuận theo phân vùng địa lý hành chính
hiện tại, tuy ngày nay người Chăm sinh sống tập trung chủ yếu ở các khu vực: Ninh Hải,
Ninh Phước, Ninh Sơn, Thành phố Phan Rang Tháp Chàm. Trên các địa bàn này, luận văn
tập trung nghiên cứu văn hóa của những làng người Chăm và người Việt sinh sống đan xen.

3. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Theo cuốn Chămpa – Tổng mục lục các công trình nghiên cứu của Viện Nghiên cứu
Văn hóa Nghệ thuật, Phân viện Nam Trung Bộ ở Huế (2002), có 2278 công trình, tác phẩm
có liên quan tới Chămpa và người Chăm của nhiều tác giả trong và ngoài nước, người Chăm
và người Việt.
Về văn hóa Chăm:
Dohanide và Dorohiem (1965), Dân tộc Chàm lược sử, Sài Gòn: Đây có thể coi là
công trình nghiên cứu về Champa trước năm 1975 đầu tiên do Hiệp hội Chàm Hồi giáo xuất
bản tại Sài Gòn. Đây là công trình khảo cứu lịch sử dân tộc Chăm bằng tiếng Việt đầu tiên ở
Việt Nam mang tính khái quát và hệ thống, trình bày về các triều đại vương quốc Champa.
Đặc biệt, đã cho đăng lại nguyên văn biên niên sử các triều vua Panduranga được dịch từ
văn bản Chăm Akhar thrah.
Tác giả Lê Ngọc Canh có nhiều công trình nghiên cứu về các khía cạnh của văn hóa
chăm như: Nghệ thuật múa Chăm (1978), NXB VHDT, Hà Nội; Lê Ngọc Canh, Tô Đông
Hải (1995), Nghệ thuật biểu diễn truyền thống Chăm, NXB VHDT, Hà Nội; Tư duy âm
nhạc của người Chăm, tạp chí Văn hóa dân gian, số 1/1992; Thử tìm hiểu các giai đoạn của
nghệ thuật múa truyền thống Chăm, số 3/1992; Phong tục cưới của dân tộc Chăm, Tạp chí
Dân tộc học, số 4/1991.
Ngô Văn Doanh (1994), Văn hóa Champa, NXB VHTT, Hà Nội: tác phẩm giới thiệu
một nền văn hóa Champa rất đa dạng và phong phú. Từ đời sống chính trị, ngôn ngữ, chữ
viết, âm nhạc, múa… đến nghệ thuật điêu khắc đều được ghi lại trong cuốn sách này. Ngoài
ra, tác giả trên còn có nhiều công trình nghiên cứu khác về văn hóa Chăm như; Ngô Văn

cũng gửi gắm nhiều nỗi niềm của một người con mang dòng máu của dân tộc Chăm. Tác giả
Inrasara có nhiều tác phẩm về văn hóa Chăm như: Văn học Chăm, tập 1(1994), NXB
VHDT, Hà Nội; Inrasara (1996), Văn học Chăm, tập 2, NXB VHDT, Hà Nội; Inrasara
(1995), Ca dao, tục ngữ Chăm, NXB VHDT, Hà Nội; Inrasara (1999), Các vấn đề văn hóa
xã hội Chăm, NXB VHDT, Hà Nội: Cách nhìn tổng thể của tác giả về các vấn đề văn hóa –
xã hội Chăm với một nền văn hóa mang sắc thái độc đáo. Tác giả Văn Món nghiên cứu trên
nhiều lĩnh vực văn hóa, xã hội, con người Chăm như: Lễ hội của người Chăm (2003), NXB
VHDT, Hà Nội; Văn Món (2010), Văn hóa Chăm nghiên cứu và bình luận, NXB Phụ nữ,
Hà Nội: Đây là công trình nghiên cứu khoa học nghiêm túc của tác giả, thể hiện sự khảo cứu
chuyên sâu và rộng lớn ở nhiều lĩnh vực của văn hóa Chăm, được trình bày thành 7 chủ đề:
8


Di tích-lịch sử, Văn hoá-xã hội, Tôn giáo, Lễ hội, Văn chương, Ngôn ngữ, Nghệ thuật biểu
diễn.
Về văn hóa Chăm ở Ninh Thuận:
Nguyễn Đình Tư (1974), Non nước Ninh Thuận, NXB Sống mới, Sài Gòn: tác phẩm
giới thiệu những tư liệu quý giá về lịch sử, địa lí, nhân vật, giai thoại, huyền thoại, di tích,
thắng cảnh cũng như các địa danh năm xưa của tỉnh Ninh Thuận. Theo tác giả thì người
Chăm ở Ninh Thuận đã sinh sống xen lẫn với người Việt và đã Việt hóa, cụ thể là trong giao
tiếp bằng tiếng Việt, ăn Tết Nguyên đán….
Phan Xuân Biên, (1989), Người Chăm ở Thuận Hải, Sở VHTT Thuận Hải
Nhà nghiên cứu Vương Hoàng Trù có hai công trình nghiên cứu về văn hóa Chăm
Ninh Thuận là: Bước đầu tìm hiểu tín ngưỡng dân gian ở người Chăm tỉnh Thuận Hải,
Những vấn đề dân tộc học ở miền Nam Việt Nam, tập 2, quyển II, Viện Khoa học xã hội tại
Tp. Hồ Chí Minh; Tín ngưỡng dân gian của người Chăm ở Ninh Thuận và Bình Thuận,
Luận án tiến sĩ, Viện Khoa học xã hội tại Tp. Hồ Chí Minh.
Ngô Văn Doanh (2002), Ninh Thuận trong lịch sử Chămpa, Viện nghiên cứu văn hóa
dân gian, 2002: Tác giả nêu bật lịch sử của vùng đất Chămpa thuộc tỉnh Ninh Thuận thông
qua các giai đoạn lịch sử: ngoài cõi Lâm Ấp, trong lòng Chămpa, dấu tích cuối cùng của

người Chăm ở Phan Rang đã xảy ra xung đột đổ máu vì lý do tôn giáo. Nhận định về vai trò
của người Chăm và mối quan hệ bằng hữu của 2 dân tộc Việt – Chăm, các tác giả cho rằng:
người Chăm và người Việt có mối quan hệ tương hỗ khách quan và tất yếu trong cuộc kháng
chiến chống các thế lực phong kiến bành trướng Trung Quốc; đặc biệt là chống quân xâm
lược Nguyên Mông vào thế kỷ XIII. Thế kỷ XVIII, người Chăm đã có mặt trong nghĩa quân
Tây Sơn đánh các lực lượng gây chia cắt đất nước Trịnh – Nguyễn; góp phần đánh tan quân
Xiêm xâm lược (1784 -1785) và quân viễn chinh nhà Thanh (1788 -1789). Người Chăm
cũng đã cùng với các dân tộc anh em ở Việt Nam đi theo Đảng Cộng sản Việt Nam chống
thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược.
Các tác giả Phan Xuân Biên, Phan An, Phan Văn Dốp có công trình nghiên cứu “Văn
hóa Chăm” ((1991), NXB KHXH, Hà Nội: ngoài nội dung nghiên cứu về các yếu tố của
văn hóa Chăm, các tác giả còn cho thấy sự giao lưu về văn hóa Chăm và văn hóa Việt rất rõ
ràng trong việc chế tác đồ gốm, trang phục hay sinh hoạt trong đời sống hằng ngày.
Hà Bích Liên (2000), Quan hệ giữa Vương quốc cổ Champa với các nước trong khu
vực, Luận án tiến sĩ lịch sử: tác giả nêu lên mối quan hệ đầy biến động về chính trị, quân sự,
ngoại giao giữa hai dân tộc Việt – Chăm trước năm 1832. Ngoài ra, Luận án còn nêu lên
mối giao lưu, hội nhập và tiếp biến giữa hai nền văn hóa.
Lê Quang Định (2005), Hoàng Việt Nhất Thống Địa Dư Chí, NXB Thuận Hóa, Huế:
Tác giả viết về Dinh Bình Thuận, nơi định cư lâu dài của người Chăm. Khi người Việt mở
rộng lãnh thổ về phía Nam, cả hai dân tộc Việt – Chăm đã cùng sinh sống, tiếp nhận tín
10


ngưỡng của nhau như tôn thờ các vị thần Cá Voi, Thần Nông…..
Trần Dũng (2009), Quá trình giao lưu và hội nhập văn hóa Việt – Chăm trong lịch sử,
Luận văn Thạc sĩ lịch sử chuyên ngành Lịch sử Việt Nam: luận văn đã nghiên cứu sự giao
lưu văn hóa và hội nhập về văn hóa Việt – Chăm theo suốt chiều dài lịch sử trong nhiều lĩnh
vực từ sinh hoạt vật chất, kết cấu đời sống xã hội đến phong tục, tập quán, ngôn ngữ, tín
ngưỡng….
Thành Phú Chung (2010), Yếu tố Chăm trong vùng văn hóa Trung bộ Việt Nam, Luận

Thực hiện đề tài nghiên cứu về địa phương, cụ thể là tỉnh Ninh Thuận, người viết luận
văn đã sử dụng phương pháp nghiên cứu thực địa để có thể thu thập tư liệu thực tế, tiếp cận
đời sống văn hóa vật chất và tinh thần của cư dân Việt-Chăm tại địa phương được nghiên
cứu, làm cho luận văn thêm phần phong phú, sinh động.
Đồng thời, những kết quả nghiên cứu của một số ngành khoa học như dân tộc học,
ngôn ngữ học, địa lý-kinh tế cũng được chọn lọc, khai thác theo phương pháp chuyên gia,
liên ngành… hỗ trợ quá trình nghiên cứu, thực hiện luận văn.

6. Đóng góp của luận văn:
Khi tiến hành thực hiện đề tài nghiên cứu “ Giao lưu văn hóa Việt-Chăm ở Ninh Thuận
từ 1832 đến 2012”, tác giả hy vọng kết quả nghiên cứu sẽ:
-

Góp phần bổ sung tư liệu vào việc dạy và học lịch sử ở địa phương

-

Góp phần giáo dục thế hệ trẻ ở Ninh Thuận nói riêng và của cả nước nói chung về
lịch sử dân tộc và tiến trình phát triển của cộng đồng văn hóa các dân tộc Việt nam,
về sự đặc sắc, đa dạng của văn hóa Việt Nam
Góp phần vào công cuộc xây dựng, giữ gìn và phát huy tình đoàn kết giữa các dân tộc

anh em, mà điển hình là tình đoàn kết Việt-Chăm trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam.
Giao lưu văn hóa Việt- Chăm ở Ninh Thuận và kết quả của nó phản ánh quy luật tất
yếu của sự cộng cư hai tộc người trên một địa bàn cư trú. Đồng thời, cũng phản ánh những
đặc điểm, tính chất riêng biệt của hai bộ phận văn hóa Việt-Chăm tại vùng đất Ninh Thuận.

7. Bố cục luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo luận văn gồm có 3 chương:
Chương 1- VÀI NÉT VỀ NGƯỜI CHĂM Ở NINH THUẬN:

cứu sự đóng góp của văn hóa Chăm đối với sự đa dạng mà thống nhất của văn hóa Việt Nam
sẽ có được cơ sở khoa học cho những chính sách hữu ích và phù hợp để bảo tồn và phát huy
bộ phận văn hóa này, góp phần vào công cuộc giữ gìn và phát huy văn hóa Việt Nam đa
dạng, phong phú và đậm đà bản sắc dân tộc.

13


CHƯƠNG 1: VÀI NÉT VỀ NGƯỜI CHĂM Ở NINH THUẬN
1.1. Khái quát về đất nước của người Chăm
Vương quốc Champa : Campapura - đô thị Chăm; hay Nagara Campa - xứ sở Chăm),
là một quốc gia tồn tại qua các thời kỳ từ năm 192 đến năm 1832 qua các tên gọi Lâm
Ấp, Hoàn Vương, Chiêm Thành và cuối cùng là Panduranga-Chăm Pa trên phần đất nay
thuộc Nam miền Trung Việt Nam. Cương vực của Champa lúc mở rộng nhất trải dài từ dãy
Hoàng Sơn ở phía Bắc cho đến Bình Thuận.
Theo Lương Ninh trong Vương quốc Champa thì: “Người dân Champa có nguồn
gốc Malayo-Polynesian di cư đến đất liền Đông Nam Á từ Borneo ở thế kỷ thứ 1 và thứ 2
trước Công nguyên”[45, tr.7].
Theo sử liệu Trung Hoa, vương quốc Champa đã được biết đến đầu tiên là vương quốc
Lâm Ấp bắt đầu từ năm 192 ở khu vực Huế ngày nay, sau cuộc khởi nghĩa của người dân
địa phương chống lại Nhà Hán. Trong nhiều thế kỷ sau đó, quân đội Trung Hoa đã nhiều lần
cố gắng chiếm lại khu vực này nhưng không thành công.
Từ nước láng giềng Phù Nam ở phía tây và nam, Lâm Ấp nhanh chóng hấp thu nền
văn minh Ấn Độ. Các học giả đã xác định thời điểm bắt đầu của Champa là thế kỷ thứ 4 sau
Công nguyên, khi quá trình Ấn hóa đang diễn ra. Đây chính là giai đoạn mà người Chăm đã
bắt đầu có các văn bản mô tả trên đá bằng chữ Phạn và bằng chữ Chăm, và họ đã có "Chữ
viết Chăm" để ghi lại tiếng nói của người Chăm.
Theo Lương Ninh trong Vương quốc Champa cũng như nhiều nhà nghiên cứu nhận
định rằng:
Trước thế kỷ X, Champa trải qua các thời kỳ:

giao tranh với các vương triều Đại Việt ở phía Bắc và với đế quốc Khơ me ở phía Nam.
Năm 1471, Champa chịu thất bại nặng nề trước Đại Việt và bị mất phần lớn lãnh thổ ở miền
bắc.
Phần đất còn lại của Champa từ sau năm 1471 mà sách sử người Việt gọi là Chiêm
Thành chỉ từ Đèo Cả ngày nay trở về Nam gồm hai địa khu Kauthara và Panduranga. Trong
các cuộc giao tranh với quân đội chúa Nguyễn cai trị xứ Đàng Trong của Đại Việt vào các
năm 1611 và 1653, Champa mất vùng Kauthara. Năm 1693, tướng Nguyễn Hữu Cảnh tấn
công vào Panduranga, bắt vua Po Sout đưa về Cố đô Huế và đưa em trai của Po Sout là Po
Saktiray Da Patih (Kế Bà Tử) lên làm vua, Panduranga được đổi thành Thuận Thành Trấn
và vua Chăm được gọi là Trấn Vương cai trị Thuận Thành Trấn với sự giám sát chặt chẽ của
các quan lại của chúa Nguyễn. Chế độ tự trị này được duy trì cho đến năm 1832 qua các đời
chúa Nguyễn, thời Tây Sơn và thời kỳ đầu vương triều Nguyễn. Tuy nhiên, các đời chúa
Chăm sau Po Saktiray Da Patih không còn duy trì được mối quan hệ trực tiếp với các chúa
2

Theo Tài liệu học tập chuyên đề "Quan hệ đối ngoại của Việt Nam trong lịch sử “ của TS. Trần Thị Thanh Thanh.

15


Nguyễn và mọi công việc của Thuận Thành Trấn được tiến hành thông qua phủ Bình Thuận.
Năm 1832 người Chăm nổi dậy chống lại vua Minh Mạng nhân dịp có cuộc nổi dậy
của Lê Văn Khôi ở phía Nam nhưng không thành công. Chính quyền tự trị hạn chế của
người Chăm chấm dứt vào năm 1832, khi Hoàng đế Minh Mạng đổi Thuận Thành thành
phủ Ninh Thuận và đặt quan lại trực tiếp quản lý

 Thể chế chính trị và tổ chức xã hội của Champa
“Thế kỉ thứ III, Champa đã chú ý xây dựng bộ máy chính quyền, quân đội, lấy dãy
Hoành Sơn làm cương giới phía Bắc, xây dựng thành Khu Túc để phòng ngự”[45, tr.18].
“Sự thống nhất của Champa còn lỏng lẻo do điều kiện giao lưu đi lại giữa các vùng

mẫu” của chiếc atâu.
Cơ cấu và thiết chế xã hội Chăm trước đây đã chi phối 4 tầng lớp xã hội:


Bahama – tăng lữ



Kosatrios – vũ sỹ



Valoyas – lao công



Cudra – cùng đinh 3[63, tr58].
2F

1.2. Quá trình người Chăm hòa nhập vào cộng đồng quốc gia dân tộc Việt Nam
thống nhất
Dựa trên tư liệu khảo cổ về văn hóa Sa Huỳnh, có thể nói rằng ở vùng Trung Bộ Việt
Nam đã có mặt tổ tiên của người Chăm. Theo nhiều nguồn sử liệu “người Chăm là một dân
tộc có một quá trình hình thành và phát triển lâu đời. Người Chăm thuộc chủng tộc Nam Á,
tiếng nói của họ rất gần gũi với các dân tộc Raglai, Churu, Jarai, Ê đê, thuộc nhóm ngôn
ngữ Malayo – Polinesien” [41, tr.23]. Trong lịch sử hình thành và phát triển, người Chăm đã
sáng tạo một nền văn hóa đa dạng, phong phú mang giá trị đặc sắc.
Quá trình người Chăm hòa nhập vào cộng đồng quốc gia dân tộc Việt Nam gắn liền
với quá trình sáp nhập vương quốc Champa vào lãnh thổ Đại Việt. Quá trình này biểu hiện
qua các cuộc chiến tranh và các mối quan hệ ngoại giao giữa hai chính quyền Champa và

Việt.
Dưới thời Lý, Đại Việt hai lần tấn công Champa, lần đầu là vào năm 1044 dưới thời
Vua Lý Thái Tông và, lần thứ hai là vào năm 1069 dưới thời vua Lý Thánh Tông. Cả hai vị
vua đều thân chinh đi đánh Champa và thắng lợi. Sau hai sự kiện này, vua Lý đã cho di dân
vào khai khẩn vùng đất mới chiếm, đặt lại tên mới cho ba châu là Lâm Bình, Ma Linh, Bố
Chính, ba châu này hiện nay là các tỉnh Quảng Bình và phần phía bắc tỉnh Quảng Trị, đến
sông Thạch Hãn.
Tuy nhiên, quan hệ giữa hai chính quyền Champa và Đại Việt trong lịch sử, cũng có
những thời kỳ hòa hiếu, bang giao thân thiện. Những thời điểm hòa bình đan xen với các
cuộc chiến tranh là thời kỳ của mối quan hệ chính trị đặc biệt, như cuộc hôn nhân giữa công
chúa Đại Việt và quốc vương Champa. Năm 1306, hôn lễ giữa vua Champa là Chế Mân
cùng công chúa Huyền Trân được tổ chức long trọng, Kết quả là một quá trình hòa bình, yên
ổn lâu dài và quan hệ bang giao giữa hai quốc gia trở nên tốt đẹp hơn bao giờ hết. Sính lễ
dẫn cưới của vua Chế Mân rất hậu gồm “vàng bạc, vật lạ, hương liệu quý và vùng đất hai
châu Ô, Lý”. Hai châu này đổi thành Thuận Châu và Hóa Châu, sáp nhập vào Đại Việt, nay
là vùng đất phía Nam thuộc tỉnh Quảng Trị và Thừa Thiên. Quan hệ tốt đẹp giữa Champa và
Đại Việt được củng cố và tăng cường, tạo điều kiện cho cư dân Việt, Chăm cùng hòa đồng,
cộng cư sinh sống với nhau.
Năm 1400, Hồ Quý Ly cướp ngôi nhà Trần, và trong vòng 7 năm, đã đem quân đánh
Champa 4 lần, vua Chămpa là Ba Đích Lai đã cắt vùng đất hai châu Chiêm Động và Cổ Lũy
để cầu hòa. Về sau đất này bị Champa chiếm lại.
Trong sự kiện năm 1471, vua Lê Thánh Tông đích thân đem 26 vạn quân đi đánh
Champa, chiếm được kinh đô Viiaya, bắt vua Chămpa là Trà Toàn 4.
F
3

Khi tấu cáo Thái miếu để xuất quân, nhà vua nói rõ lý do đánh Chiêm Thành là để trị tội quân giặc
liên tục cướp phá và cấu kết với nhà Minh hòng xâm lấn nước ta:"Thần là kẻ ít tuổi bất tài, vào nối
nghiệp lớn, chỉ mong yên dân giữ nước đâu dám dùng nhảm việc binh. Chỉ vì giặc Chiêm Thành
18

của nhà nước và sự cộng cư lâu dài đã dẫn tới một bộ phận cư dân ở miền Trung Việt Nam
có sự pha trộn hai dòng máu Việt và Chăm. Quý tộc thời Lý, Trần đã coi những mỹ nữ
Chăm là “chiến lợi phẩm” sau mỗi cuộc chinh phạt, chẳng hạn sự kiện năm 1046, vua Lý
ngu xuẩn, nó điên cuồng nhòm ngó nước ta. Không sợ trời tạm bợ cho qua, với nước ta nó gây
thù địch, trước thì đánh cướp châu Hóa để hòng chiếm đoạt đất đai, sau lại sang báo nhà Minh, âm
mưu diệt hết tông miếu [Đại Việt sử ký toàn thư, tập II, tr. 445]
19


dựng cung Ngân Hán dành riêng cho mỹ nữ Chiêm Thành hoặc việc hàng ngàn tù binh
Chăm bị bắt trong các cuộc giao tranh được an tháp, rải rác từ vùng Thanh Nghệ ra tới
Thăng Long đã khiến quá trình hôn nhân Việt –Chăm diễn ra mạnh mẽ. Vào năm 1499, vua
Lê ban chiếu cấm lấy vợ Chiêm Thành. Đây phải chăng là một minh chứng của sự giao thoa
giữa hai cộng đồng cư dân, hai nền văn hóa trên một lãnh thổ. Ở Phú Gia, Phú Thượng, Tây
Hồ, Hà Nội hiện nay vẫn còn những dòng họ như Công (Ông), Bố (Hy)…có nguồn gốc
Chăm và đã có vài người đỗ đạt được khắc tên trong bia Văn Miếu, Quốc Tử Giám. Từ quá
trình hôn nhân đến quá trình thay tên đổi họ sao cho phù hợp với hoàn cảnh là việc thường
thấy trong lịch sử Việt Nam thời cổ trung đại.
Quá trình cộng cư và giao thoa văn hóa Việt - Chăm trong quá trình người Chăm hòa
nhập vào cộng đồng quốc gia dân tộc Việt Nam là một hệ quả tất yếu của lịch sử hai dân tộc
cùng sống trên lãnh thổ Việt Nam hiện nay.

1.3. Về người Chăm ở Ninh Thuận
1.3.1. Dân cư và địa bàn cư trú
Hiện nay người Chăm ở Ninh Thuận có số dân đông nhất (67.274 người), chiếm gần
50% người Chăm ở Việt Nam. Họ sống tập trung thành từng palei riêng biệt và bảo lưu đậm
nét nhiều tập tục truyền thống như nghi lễ, hội hè, tục cúng tế đền tháp, tục cưới gả, tang
ma, tín ngưỡng, tôn giáo, luật tục, văn chương, làng nghề…mang bản sắc văn hoá riêng.



huyện Ninh Phước.
8. Palei Baoh Dana: làng Chất Thường, thuộc xã Phước Hậu, huyện Ninh Phước.
9. Palei Mblang Kacak: thôn Phước Đồng, thuộc xã Phước Hậu, huyện Ninh Phước.
10. Palei Cauk: làng Hiếu Lễ, thuộc xã Phước Hậu, huyện Ninh Phước.
11. Palei Baoh Deng: thôn Phú Nhuận, thuộc xã Phước Thuận, huyện Ninh Phước.
12. Palei Hamu Tanran: làng Hữu Đức, thuộc xã Phước Hữu, huyện Ninh Phước.
13. Palei Thuer: làng Hậu Sanh, thuộc xã Phước Hữu, huyện Ninh Phước.
14. Palei Hamu Craok: làng Vĩnh Thuận (Bầu Trúc), thuộc thị trấn Phước Dân,
huyện Ninh Phước.
15. Palei Caklaing: làng Mỹ Nghiệp, thuộc thị trấn Phước Dân, huyện Ninh Phước.
16. Palei Bal Caong: làng Chung Mỹ, thuộc thị trấn Phước Dân, huyện Ninh Phước.
17. Palei Cuah Patih: làng Thành Tín, thuộc xã Phước Hải, huyện Ninh Phước.
18. Palei Patuh: làng Tuấn Tú, thuộc xã An Hải, huyện Ninh Phước.
19. Palei Ram: làng Văn Lâm, thuộc xã Phước Nam, huyện Thuận Nam.
20. Palei Aia Li-u: thôn Phước Lập, thuộc xã Phước Nam, huyện Thuận Nam.
21. Palei Palao: thôn Hiếu Thiện, thuộc xã Phước Nam, huyện Thuận Nam.
22. Palei PaBha: làng Vụ Bổn, thuộc xã Phước Nam, huyện Thuận Nam. [44]
Phần lớn các tên palei bằng tiếng Chăm đều có nghĩa từ vựng gắn với địa bàn. Chẳng
hạn Palei Thuer/Thuer tức làng Hậu Sanh, thuộc xã Phước Hữu, huyện Ninh Phước, có
nghĩa là "làng Vườn" / "làng Thiên Đàng, Linh Thiêng". Palei Cuah Patih tức làng Thành
Tín, thuộc xã Phước Hải, huyện Ninh Phước, có nghĩa là "làng Cát Trắng".


CÁC PALEI CHĂM Ở NINH THUẬN PHÂN THEO TÔN GIÁO
21


* Các palei Chăm Ahiêr:
1. Palei Bal Riya: làng Bình Nghĩa, thuộc xã Bắc Sơn, huyện Thuận Bắc.
2. Palei Tabeng: làng Thành Ý, thuộc xã Thành Hải, thành phố Phan Rang - Tháp



Palei Baoh Deng (thôn Phú Nhuận, xã Phước Thuận, huyện Ninh Phước) là một
trường hợp đặc biệt. Nơi đây, có cả người Chăm Ahier và người Chăm Awal, cư trú xen kẽ
với nhau.
Palei Ram (làng Văn Lâm, xã Phước Nam, huyện Thuận Nam) cũng là một trường hợp
đặc biệt. Nơi đây, có cả người Chăm theo Hồi giáo Bàni và người Chăm theo Hồi giáo Islam
mới du nhập gần đây.
Người Chăm Awal ở Ninh Thuận có 7 thánh đường Bàni ở 7 làng: An Nhơn, Phước
Nhơn, Lương Tri, Phú Nhuận, Thành Tín, Tuấn Tú, Văn Lâm.
Những tên gọi của các làng Chăm trên đây theo cấu trúc ngôn ngữ Hán – Việt chỉ mới
xuất hiện từ năm 1832 dưới thời Minh Mạng. Thực ra, mỗi làng của người Chăm đều có
một tên gọi cổ truyền theo tiếng Chăm với ý nghĩa khá rõ rệt. Thường thường, tên làng được
gọi theo đặc điểm lịch sử hình thành làng hoặc cảnh quan địa lý nơi làng phân bố, mà đại bộ
phận gọi theo tên ruộng, cây trái… Làng Mỹ Nghiệp theo tiếng Chăm là palei Caklin để ghi
nhớ ông bà On Pasa Mu Cahklin đã có công nuôi ông vua Po Klaong Garai, làng Hữu Đức –
palei Hamu Tanran – làng ở vùng đồng bằng; làng Như Bình – palei Padra – làng ở vùng
núi; làng Vĩnh Thuận – palei Hamu Craok – làng trũng, nhô ra ở phần cuối của triền sông;
làng Thành Tín – Palei Cuah Patih – làng có động cát trắng; làng Phú Nhuận – có nhiều loại
cây cổ thụ cho quả baoh hadeng, dùng quả nhuộm vải đen nên được gọi là palei Baoh Deng;
làng Phước Đồng – palei Mbang Kack- làng có đất bằng phẳng trồng cây gai.
Ngoài ra theo vị trí địa lý, đặc điểm cảnh quan…, nhiều làng Chăm còn được người
Việt trong vùng gọi bằng một tên khác như làng Vĩnh Thuận ở trên một gò đất cao, cạnh bầu
nước mọc nhiều cây trúc nên gọi là làng Bầu Trúc; làng Văn Lâm có thế đất giống hình quả
bầu – làng Bầu; làng Phú Nhuận – làng Mương Chai vì cạnh làng có con mương lớn tên
Mương Chai.
Palei Chăm thường định cư trên những vùng gò đất cao, xung quanh là ruộng lúa và
nương rẫy. Mỗi palei có khoảng từ 300-400 hộ gia đình, tập hợp bởi nhiều tộc họ sinh sống
với nhau. Các khuôn viên nhà ở được bố trí theo hướng Bắc – Nam.
“Làng người Chăm có quy mô dân số không đồng đều, có làng có tới hàng ngàn hộ,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status