Thực trạng đời sống kinh tế xã hội văn hóa của cộng đồng người chăm ở an giang từ sau năm 1975 đến nay - Pdf 38

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH

Nguyễn Thanh Dung

Chuyên ngành : Lịch sử Việt Nam
Mã số
: 60 22 54

LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. HÀ BÍCH LIÊN

Thành phố Hồ Chí Minh - 2009


LỜI CẢM ƠN
 Tác giả luận văn xin chân thành cảm ơn Ban Giám Hiệu, Ban Chủ
nhiệm khoa Lịch sử và các thầy cô trong khoa Lịch sử trường Đại học
Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh.
 Xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS. Hà Bích Liên đã tận tình
hướng dẫn trong suốt quá trình nghiên cứu để hoàn thành luận văn.
 Cuối cùng, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn gia đình, những người thân
yêu, bạn hữu đã dành tình cảm, động viên và giúp đỡ trong những ngày
học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn này.

Thành phố Hồ Chí Minh - 2009


MỞ ĐẦU

bằng sông Cửu Long nói chung, An Giang nói riêng. Với dân số trên một vạn người, chiếm số lượng
đông nhất trong cộng đồng Chăm ở Nam Bộ.


Tuy có chung nguồn gốc với người Chăm Nam Trung Bộ, nhưng trải qua quá trình định cư lâu
dài tại vùng đất An Giang, họ có một vị trí riêng, bản sắc riêng rất độc đáo trong nền văn hoá Việt
Nam, một sắc thái riêng trong ứng xử giao tiếp với tự nhiên, xã hội và bản thân, trong sinh hoạt kinh tế,
tổ chức xã hội tôn giáo tín ngưỡng, phong tục tập quán trong sinh hoạt văn hoá, văn nghệ … Bản sắc
đó đã hoà quyện và phát triển theo dòng lịch sử đấu tranh hào hùng của cộng đồng các dân tộc anh em
ở An Giang. Cộng đồng người Chăm ở An Giang cũng góp phần không nhỏ cho bức tranh tươi đẹp của
vùng đất mới này ngày hôm nay.
Từ thực tế sinh hoạt đời sống của cộng đồng cư dân người Chăm ở An Giang trong tiến trình lịch
sử và những thay đổi của nét sinh hoạt đó qua những biến động của thời gian cộng đồng Chăm đã có
thích ứng và chuyển biến cùng với nhịp phát triển của xã hội. Xuất phát từ những yêu cầu của thực
tiễn, tôi đã chọn đề tài “THỰC TRẠNG ĐỜI SỐNG KINH TẾ –XÃ HỘI – VĂN HOÁ CỦA CỘNG
ĐỒNG NGƯỜI CHĂM Ở AN GIANG TỪ SAU NĂM 1975 ĐẾN NAY ” làm đề tài luận văn.
Cộng đồng người Chăm Hồi Giáo ở đồng bằng sông Cửu Long tập trung cư trú ở An Giang. Về
đời sống kinh tế, xã hội, văn hoá của cư dân ở đây trong buổi đầu định cư, dưới chế độ thực dân cũ và
mới, sau giải phóng với sự giúp đỡ của chính quyền cách mạng đã từng bước giải quyết góp phần ổn
định và nâng cao đời sống của người Chăm được Đảng và Nhà nước ta quan tâm sâu sắc thông qua các
chính sách chăm lo hỗ trợ cho cộng đồng Chăm về mọi mặt.
Với một cái nhìn toàn diện luận văn sẽ góp phần tạo nên bức tranh đặc thù về kinh tế, xã hội, văn
hoá của cộng đồng Chăm ở An Giang nói riêng và ở đồng bằng sông Cửu Long nói chung.
Trong quá trình cộng cư, các tộc người Kinh, Khmer, Hoa, Chăm đã không ngừng học hỏi, giao
lưu, đoàn kết, đùm bọc cùng nhau phát triển sẽ là một ý nghĩa quan trọng cho công việc xây dựng nông
thôn mới ở miền biên giới tỉnh An Giang.
2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Như tên đề tài luận văn, đối tượng nghiên cứu là cộng đồng người Chăm ở An Giang trên bình
diện tổng thể, xét trên các lĩnh vực kinh tế - xã hội - văn hoá trong quá trình định cư, khai phá bảo vệ
vùng đất mới này cũng như những đóng góp của người Chăm trong xây dựng phát triển đất nước. Thời

có thể nói ở người Chăm vấn đề dân tộc gắn liền với vấn đề tôn giáo.
Từ năm 1975, hoạt động nghiên cứu về người Chăm và văn hoá Chăm của các ngành khoa học xã
hội Việt Nam ngày càng được đẩy mạnh nhất là Dân tộc học và Khảo cổ học. Trong các hội thảo đó, số
tham luận liên quan đến người Chăm của các tác giả Mạc Đường, Mad Mod chiếm một tỉ lệ đáng kể
được tập trung trong tập kỷ yếu “ Những vấn đề dân tộc ở đồng bằng sông Cửu Long”. Mặt khác với
kỷ yếu “Mấy đặc điểm văn hoá đồng bằng sông Cửu Long” với các tham luận của tác giả Văn Dương
Thành, Văn Đình Hy đã khái quát khá sâu sắc về nét sinh hoạt trong đời sống vật chất, văn hoá văn
nghệ của đồng bào Chăm theo đạo Islam ở đồng bằng sông Cửu Long. Bên cạnh đó, tác giả Mad Mod
một lần nữa đã đóng góp vào hội nghị khoa học xã hội lần thứ nhất về đồng bằng sông Cửu Long một
tham luận liên quan đến nhóm Chăm Hồi giáo ở đồng bằng sông Cửu Long với những nét khái quát về
đặc điểm kinh tế xã hội của nhóm cộng đồng này.
Đến nay, thì đã có thêm nhiều chuyên khảo được xuất bản như văn hoá cổ Champa, lịch sử vương
quốc Champa và các bài viết đăng tải trên các tạp chí và các công trình tổng hợp khác của các tác giả
Phan An, Phạm Xuân Biên, Phan Văn Dốp. Qua đó các mặt sản xuất truyền thống, cơ cấu tổ chức xã
hội, đời sống tinh thần của người Chăm đã được trính bày. Đáng chú ý là đã có hai luận án Phó tiến sĩ


khoa học lịch sử nghiên cứu các hình thức văn hoá vật chất của người Chăm đã được bảo vệ là Phan
Thị Yến Tuyết và Thành Phần. Ngoài ra còn phải kể đến nhiều luận án tốt nghiệp Đại học chọn đề tài
nghiên cứu về người Chăm và văn hoá Chăm.
Trong suốt quá trình kể trên nhiều vấn đề có liên quan đến người Chăm đã thu hút được sự chú ý
của nhiều nhà nghiên cứu như tín ngưỡng và tôn giáo, hôn nhân và gia đình, nghề thủ công truyền
thống của người Chăm, sinh hoạt văn hoá vật chất, văn hoá tinh thần … Điều này phải kể đến công
trình nghiên cứu của các tiến sĩ và phó tiến sĩ khoa học lịch sử như Trần Ngọc Khánh, Phan Văn Dốp,
Võ Công Nguyện …Trong loạt bài đăng trên các tạp chí Dân Tộc, tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á …
của các tác giả Bá Trung Phụ, Phạm Thị Vinh, Trần Nam Tiến, Châu Tấn Lực … phần nào tái hiện lại
những nét đẹp truyền thống nghi lễ cưới dân tộc Chăm, nét y phục Chăm và nghi lễ tôn giáo... Nhìn
chung, các tác giả đã có sự đóng góp rất quan trọng làm phong phú bức tranh đời sống kinh tế, xã hội
văn hoá của cộng đồng người Chăm ở Việt Nam.
Người Chăm ở An Giang là một bộ phận của dân tộc Chăm đã tách khỏi cộng đồng của mình ở

có điều kiện nghiên cứu và đã nhiều năm đi thực tế và biên soạn thành một công trình về đời sống
người Chăm ở An Giang. Với tác phẩm này, nguồn gốc, đặc điểm, tập tục, sinh hoạt văn hoá và tín
ngưỡng của người Chăm ở An Giang được tác giả khái quát một cách toàn diện. Tuy chưa sâu nhưng
đóng vai trò quan trọng mà nhiều đời dân tộc Chăm ở An Giang mơ ước nay đã thành hiện thực với
món quà tinh thần quí báu mà Chi hội văn nghệ dân gian Việt Nam Tỉnh An Giang khi xuất bản tác
phẩm này. Nghiên cứu về người Chăm ở An Giang tuy chưa có nhiều tài liệu đề cập một cách sâu sắc
và bao quát một cách toàn diện mọi mặt đời sống vật chất, tinh thần. Thông qua việc tham khảo các tập
chí Dân tộc học, tạp chí Văn hoá dân tộc, tạp chí Xưa và Nay đăng tải các bài nghiên cứu có nội dung
liên quan đến đề tài đặc biệt là các công trình nghiên cứu nêu trên của các tác giả đã giúp cho bản thân
tác giả luận văn có một cái nhìn toàn diện về mọi mặt trong đời sống của cộng đồng Chăm ở An Giang.
4. Nguồn sử liệu và phương pháp nghiên cứu
4.1. Nguồn sử liệu
Trong quá trình nghiên cứu đề tài : “Thực Trạng Đời Sống Kinh Tế - Xã Hội - Văn Hoá của cộng
đồng người Chăm ở An Giang” tác giả đã tiếp cận các nguồn tài liệu:
1. Nguồn tài liệu từ các bộ thông sử Việt Nam các sách chuyên khảo mà tác giả khai thác từ tác
phẩm Đại Nam Thực Lục, Gia Định Thành Thông Chí, Đại Nam Nhất Thống Chí, Việt Sử Xứ Đàng
Trong, Văn hoá và dân cư đồng bằng sông Cửu Long, … có những ghi chép về quá trình mở mang
vùng đất cực Nam tổ quốc việc bang giao giữa Việt Nam với các nước láng giềng lịch sử di dân của
các cư dân đến vùng đất mới này có liên quan đến đề tài luận văn này.
2. Các tác phẩm, bài nghiên cứu của các sử gia Việt Nam hiện đại đề cập đến lịch sử vùng đất
Nam Bộ, phác hoạ những nét sinh hoạt cơ bản trong đời sống của cộng đồng Chăm ở Trung Bộ cũng
như cộng đồng Chăm ở An Giang.
3. Các tạp chí trong nước, luận văn, luận án có liên quan đến đề tài.
4. Nguồn sử liệu truyền miệng : Từ các giáo cả (Hakêm) ở các thánh đường Hồi giáo ở An Giang,
tác giả luận văn thu thập những nguồn tài liệu quý giá về dân tộc Chăm như nét sinh hoạt trong đời
sống, sinh hoạt tôn giáo, tín ngưỡng của cộng đồng Hồi giáo An Giang được ghi nhận và sử dụng trong
luận văn.
4.2. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện đề tài, tác giả đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau :


phác họa sẽ tạo cơ sở cho những đề xuất, kiến nghị đối với chính quyền các cấp trong việc xây dựng và
nâng cao đời sống kinh tế, xã hội, phát huy và bảo tồn các di sản văn hoá của cộng đồng người Chăm ở
An Giang trong thời gian tới.
Cuối cùng, nội dung của luận văn có thể là nguồn tư liệu phục vụ cho việc giảng dạy, học tập và
nghiên cứu trong việc nhận diện các dân tộc ở Việt Nam.
6. Bố cục luận văn


Luận văn bao gồm phần mở đầu, 3 chương và phần kết luận.
Chương 1 : Lịch sử hình thành và phát triển cộng đồng người Chăm ở An Giang.
Chương 2 : Bức tranh tổng quan về đời sống kinh tế - xã hội - văn hoá của cộng đồng người Chăm
ở An Giang.
Chương 3 : Chính sách đối với cộng đồng người Chăm ở An Giang - Những đề xuất và kiến nghị.


Chương 1 : LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỘNG ĐỒNG NGƯỜI
CHĂM Ở AN GIANG
1.1.Vài nét về nguồn gốc hình thành Cộng đồng người Chăm ở An Giang
1.1.1. Những biến cố lịch sử dẫn đến việc di cư của người Chăm
Champa là một từ Phạn ngữ, vốn là tên của một loài có hương thơm dịu mát mà ở Việt Nam gọi
là hoa đại hoặc bông sứ, có tên khoa học là Plumeríaruba L.CU.acutifolia. Champa cũng còn là một địa
danh cổ của một vùng đất ở miền đông bắc Ấn Độ.
Ở Việt Nam, Champa lại là tên một quốc gia cổ được thấy khắc ghi đầu tiên trên bia ký Phạn ngữ
vào thế kỷ thứ VI. Đó là bia của Sambhuvarman.Trong Tân Đường thư, nước Champa ấy được Âu
Dương Tu - Tổng Kỳ phiên âm ra Hán ngữ là Chiêm Bà khi nói về nước Hoàn Vương, đồng thời cho
biết Chiêm Bà nguyên xưa là nước Lâm Ấp. Chính nhờ những điều ghi trên đây của Âu Dương Tu Tổng Kỳ mà chúng ta được biết tên Champa được đặt làm tên nước. Trên đất nước ta cũng đã sớm
định hình một quốc gia Champa trong lịch sử.
Champa đích thực là hậu sinh của Lâm Ấp và theo Thuỷ Kinh Chú, Tấn thư, nước Lâm Ấp “được
khởi lập vào cuối thời Hậu Hán” [2, tr.14 ].Vị vua khai sáng là ra nước này được sử cũ gọi là Khu Liên
- thủ lĩnh của cộng đồng cư dân bản địa.

biết đến bởi nhiều vật phẩm quý, đồ gốm, đồ bằng vàng, hương liệu, trầm hương, …Với vị thế thuận
lợi, từ thế kỷ thứ X - XV, Champa trở thành đầu mối một trung tâm thương mại liên vùng.
Cũng theo chính sử của Trung Quốc ghi lại, nước Chiêm Thành vốn xưa là nước Lâm Ấp, dựng
nước vào khoảng năm 137 ở trên đất của huyện Tượng Lâm, quận Nhật Nam đời Hán, từ núi Ải Vân ở
bắc đến núi Đại Lĩnh ở nam. Sau đó, nước Lâm Ấp phát triển ra bắc, chiếm hết cả đất quận Nhật Nam
của nhà Hán, đến thời nhà Đường thì biên giới phía bắc của Lâm Ấp ra đến Hoành Sơn. Ở miền Nam
họ lần lượt chiếm được đất Khánh Hoà, đất Phan Rang và đất Bình Thuận. Theo sách Tân Đường thư,
đến thời Đường là nước Hoàn Vương, nhưng từ đầu thế kỷ IX, sau khi nước ấy bị An Nam đô hộ của
nhà Đường là Trương Châu đánh phá phải “dời nước vào Chiêm Thành”[1, tr.23], tức là phải bỏ những
đất ở phía bắc Ải Vân cho nhà Đường mà rút về miền Chiêm Thành, tức miền Quảng Nam, sử sách
Trung Quốc cũng gọi nước ấy là nước Chiêm Thành. Đến thế kỷ thứ X nhà Đường suy vong thì Chiêm
Thành khôi phục lại được đất đai ở phía Bắc Ải Vân cho đến Hoành Sơn.
Do đó, chúng ta có thể đoán rằng, từ nửa sau thế kỷ thứ IX trở đi nước Chiêm Thành giao hảo với
nhà Đường, khi nhà Đường đã bắt đầu suy yếu, Chiêm Thành đã dời đô từ miền Phan Rang trở lại
miền Quảng Nam, để khỏi bị Chân Lạp uy hiếp do bấy giờ Chân Lạp đã thay thế Phù Nam và làm bá
chủ ở phương Nam. Tận dụng thời cơ Trung Hoa có loạn vào cuối đời Đường, Chiêm Thành từng
bước vươn ra phía Bắc cho đến Hoành Sơn và cả miền đất Nhật Nam cũ.
Năm 982, khi vua Lê Đại Hành đánh chiếm Chiêm Thành thì biên giới phía Bắc của Chiêm
Thành là Hoành Sơn và kinh đô là thành Indrapura thuộc tỉnh Quảng Nam ngày nay. Năm 989, họ Chế
được tôn làm vua đóng đô ở Vijaya, tức Phật Thệ địa điểm thành Chà Bàn ở Bình Định ngày nay.
Từ các nguồn lịch sử liệu, ngày nay người ta được biết đến Vương quốc Champa hình thành và
phát triển trên dải ven biển miền Trung Việt Nam và một phần cao nguyên Trường Sơn. Đây là một
vùng khô cằn rải rác có vài bình nguyên hẹp trải từ chân dãy Trường Sơn tới biển Nam hải. Trong quá


trình mở rộng tìm kiếm miền đất phì nhiêu, cư dân Chàm (tên gọi trước đây của người Chăm) đã có
những cuộc giao chiến với người dân Đại Việt ở phía Bắc thậm chí cướp phá những “buôn, sóc” của
người Khmer ở phía Tây Nam [1, tr.24].
Mặt khác, người Mã Lai cũng thường gây chiến với Champa (Chiêm Thành) nhiều lần. Cuộc
chiến năm 787 của người Mã Lai với Chiêm Thành, họ đã thiêu hủy mất ngôi đền thờ



Phong Châu là Lê Thuận Tôn, người Mường, … Nhờ chính sách khôn khéo ấy, phần nhiều các bộ lạc
miền núi đã quy phục triều đình. Tuy nhiên ở phía nam, các vua Chiêm đã từng bị Lê Hoàn đánh bại
nặng nề, nhưng thỉnh thoảng các vua Chiêm vẫn cho quân sang đánh phá vùng duyên hải và miền biên
cảnh phía nam nước ta. Để bảo vệ lãnh thổ quốc gia, nhà Lý đã nhiều lần dụng binh đối với Chiêm
Thành.Thất bại, Chiêm Thành lại thần phục nhà Tống để dựa thế báo thù. Trong khi, nhà Tống đang
lăm le xâm lược nước ta ở miền bắc thì họ lại ngầm khiến Chiêm Thành là thuộc quốc uy hiếp nước ta
ở phía nam. Trước tình thế đó, nhà Lý buộc phải dụng binh với Chiêm Thành để phòng hậu hoạn.
Năm 1061, Chế Củ lên ngôi, sửa sang vũ khí, không chịu triều cống nhà Lý mà lại triều cống nhà
Tống để dựa thế nhà Tống chuẩn bị chống nước ta. Bất bình trước hành động của Chiêm Thành, Nhật
Tôn sai Lý Thường Kiệt làm Đại tướng quân đi tiên phong từ đường biển tiến đến cửa Nhật Lệ, đánh
tan quân Chiêm ở đó và làm bàn đạp đánh vào cửa Thi Nại, tiến thẳng vào kinh đô. Nghe tin bại trận,
Chế Củ đem vợ con bỏ chạy vào Nam. Lý Thường Kiệt đem quân đuổi theo Chế Củ đến tận biên giới
Chân Lạp. Để chuộc lấy tự do Chế Củ phải cắt nhường đất ba châu : Địa Lý, Ma Linh và Bố Chánh
(thuộc Quảng Bình, Quảng Trị) dâng cho nhà Lý. Nhà Lý lấy đất ấy, cho đóng binh để trấn áp dân bản
xứ và cho di dân người Việt vào đó sinh sống. Tuy nhiên, Chiêm Thành cũng nhiều lần cho quân sang
đánh phá vùng biên ải nước ta. Mấy chục năm sau, năm 1104, vua Chiêm là Chế Ma Na đem quân ra
đánh để lấy lại ba châu nhưng kết quả không thành. Kết quả những cuộc dụng binh của nhà Lý đã mở
thêm bờ cõi nước Đại Việt từ Hoành Sơn đến Quảng Trị. Từ đó, Chiêm Thành cũng bắt đầu bước vào
thời kỳ suy yếu.
Các đời vua Chiêm Thành tiếp theo, thường nhân cơ hội thấy binh thế nước Nam suy yếu thường
đem quân sang đánh ĐạiViệt để báo thù. Năm 1368, 1376, quân Chiêm thường đem quân sang đánh
Đại Việt, làm cho vua tôi nhà Trần có không ít những phen hú vía.
Việc thu phục và mở rộng bờ cõi về phía nam của Đại việt không phải lúc nào cũng thực hiện
bằng con đường chiến tranh.Trước hành động sách nhiễu của quân Nguyên vừa muốn chinh phục Đại
Việt, vừa dùng thủ đoạn dụ hàng đối với Chiêm Thành nhằm duy trì sự chiếm đóng và mở rộng lãnh
thổ của quân Nguyên ở phía nam. Trước tình thế đó, việc tăng cường sức mạnh đoàn kết, thống nhất
Đại Việt và Chiêm Thành sẽ tạo sức mạnh kháng chiến cho cả hai dân tộc trong cuộc chiến chống quân
Nguyên. Dưới thời vua Harijit - Chế Mân - Jaya Sinhavar man IV, quan hệ tốt đẹp giữa Đại Việt và

(thuộc Quảng Bình, Quảng Trị) để chuộc lấy tự do.
- Năm 1402, Hồ Quý Ly đem quân đánh Champa, quốc vương Jaya Sinhavarman Đệ Ngũ thất
trận phải dâng đất Chiêm Động và Cổ Lũy.
- Năm 1471, vua Lê Thánh Tông đích thân cầm quân đi đánh Champa ở Vijaya, quốc vương
Bàn La Trà Toàn bị bắt, lãnh thổ Champa sau đó bị chia làm 3 nước nhỏ Chiêm Thành, Hóa Anh và
Nam Phan.
Sau cuộc đại bại đó “dân Chàm đã trốn chạy khỏi ách cai trị của người Việt. Họ trốn lên miền núi
với người Thượng, sang Campuchia, bỏ xứ mà đi sang Sumatra. Chỉ có đàn bà, những kẻ hèn nhát và
người già cả cùng con nít ở lại thôi” [28, tr.28].
Dấu vết cuộc định cư của người Chăm ở Campuchia hiện nay còn khá nhiều. Chẳng hạn, địa danh
Kompongcham (miền ven sông người Chàm ở) hay chiếc cầu đá rất mỹ thuật mang tên Spéan Cham


(cầu người Chàm). Còn nhiều địa danh nữa chứng tỏ người Chàm đã cư ngụ trên mảnh đất trước đây
của người Khmer đã lập nên đế quốc rộng lớn của họ [28, tr.29].
Sang thế kỷ XVI, khi Nguyễn Hoàng được vua Lê Anh Tông cho vào trấn thủ đất Thuận Hoá đã
có ý lập một giang sơn riêng chống lại họ Trịnh. Bởi vậy, năm 1611, “Nguyễn Hoàng vào đánh Chiêm
Thành, lấy đất lập phủ Phú Yên, chia ra làm hai huyện là Đồng Xuân và Tuyên Hoà” [16, tr.29].
Các chúa Nguyễn sau này cũng tiếp tục công việc thôn tính Chiêm Thành. Năm 1653, chúa
Nguyễn Phúc Tần chiếm miền Kauthara, đổi lãnh địa này thành dinh Thái Khang. Năm 1692, vua
Champa là Bà Tranh quật khởi cho quân sang cướp phá vùng Diên Khánh, Chúa Nguyễn Phúc Chu sai
Nguyễn Hữu Cảnh đánh dẹp, bắt được Bà Tranh cùng các thân thuộc. Sau lại đặt phủ Bình Thuận, lấy
đất Phan Rang, Phan Rí làm huyện Yên Phúc, Hoà Đa. Lúc này triều đình đã có ý muốn đồng hoá dân
tộc Chàm nên có lệnh bắt họ phải mặc quần áo theo lối người Việt. Chính sách ấy đã khiến cả hoàng
tộc Chăm bỏ trốn sang Campuchia cùng với 5000 thần dân.Họ đến yết kiến với quốc vương
Cheychetta Đệ tứ, xin cư ngụ trên lãnh thổ Khmer [28, tr. 30].
Đến đầu thế kỷ XIX, sau khi thống nhất giang sơn, nhà Nguyễn đã áp dụng chính sách cai trị
ngày càng chặt chẽ đối với người Chăm. Đến năm 1822, Đại Việt dưới triều vua Minh Mạng, một vị
vua Chăm là PôChơnChan đã rời bỏ ngai vàng chạy sang Campuchia.
Đến năm 1833, khi Lê Văn Khôi nổi lên khởi nghĩa chống lại nhà Nguyễn, có nhiều người Chăm

thu nền văn minh Ả Rập qua Hồi giáo. Tuy nhiên, việc du nhập đạo Hồi vào trong cộng đồng dân tộc
Chăm vẫn chưa được làm sáng rõ. Người ta, chỉ cảm nhận được một điều, khi đến đây Hồi giáo đã có
nhiều sắc thái riêng tạo nên một yếu tố văn hoá bản địa, bởi quá trình du nhập không liên tục của Hồi
giáo, cùng với sự tách biệt khu vực cư trú của tín đồ Hồi giáo khiến họ khó tiếp xúc với thế giới bên
ngoài.
Theo truyền thuyết, thì vào đầu thế kỷ XI, vua Vương quốc Champa “Pô Suloah” đã hành hương
đến thánh địa Mecca. Theo một số tài liệu cổ của Trung Quốc cũng nói rằng vào thế kỷ X - XI người
Chăm đã chịu ảnh hưởng của Hồi giáo. Thế nhưng chưa có một minh chứng cụ thể nào khẳng định vào
thời kỳ này, người Chăm bị chi phối sâu sắc của đạo Hồi. Vì vậy, vấn đề thời gian và con đường du
nhập của đạo Hồi vào Việt Nam vẫn còn đang tranh cãi. Tuy nhiên, người ta có thể khẳng định Hồi
giáo đã đến Đông Nam Á nhờ vào các thương nhân Ả Rập, Ấn Độ, Ba Tư, Trung Quốc. Họ là những
tín đồ Hồi giáo và đã đến buôn bán và truyền đạo ở các nước Đông Nam Á hải đảo từ thế kỷ XIV XV, hoặc sớm hơn nữa qua con đường biển hoặc con đường “tơ lụa”. Tuy quan điểm về niên đại và
quá trình du nhập của Hồi giáo vào người Chăm chưa thống nhất, nhưng có lẽ trước khi vương quốc
Champa cổ đại suy vong thì đã có một bộ phận không nhỏ người Chăm đã theo Hồi giáo, khi bị vương
triều Đại Việt nhất là vào thời Lê Thánh Tông và nhà Nguyễn sau này tấn công, vương quốc Champa
đã tan rã hoàn toàn. Lúc đó, người Chăm đã chạy lên vùng người Thượng ở Tây Nguyên, sang
Campuchia và một số sang tận Malaixia, Inđônêxia. Có lẽ, không chịu nỗi cảnh bị o ép của chính
quyền phong kiến địa phương, họ quay trở lại Việt Nam và sinh cơ lập nghiệp ở các tỉnh đồng bằng
sông Cửu Long. Do tiếp xúc buôn bán và giao lưu văn hoá, số người Chăm ở khu vực này đã chịu ảnh
hưởng của người Mã Lai về nhiều mặt, trong đó có Hồi giáo. Do vậy, tôn giáo này có điều kiện được
củng cố và phát triển trong cộng đồng Chăm. Nhiều sách báo Hồi giáo trong đó kinh Coran, sách
Sunna đã được đưa vào Việt Nam. Trước khi miền Nam hoàn toàn giải phóng, nhiều người Chăm đã
sang Malaixia để học về Hồi giáo và từ đó họ hướng về thánh địa Mecca. Vì thế đồng bào Chăm Hồi
giáo ở các tỉnh phía Nam lại có mối liên hệ chặt chẽ với cộng đồng Hồi giáo thế giới. Trong khi đó, số


người Chăm sống ở miền Trung trên đất Ninh - Bình Thuận không có mối liên hệ chặt chẽ với trung
tâm Hồi giáo nên ít nhiều Hồi giáo ở đây chịu ảnh hưởng của một xu hướng khác, việc thực hiện các
giáo luật Hồi giáo không quy định nghiêm ngặt như tín đồ Hồi giáo ở các tỉnh Nam Bộ. Điều này có
thể dễ hiểu hơn do ảnh hưởng của chế độ mẫu hệ đến mọi mặt trong đời sống người Chăm. Hơn nữa,

quân bản bộ đến cứu, sau đó hơn 5000 người Chăm về chân núi Bà Đen và định cư ở đó.


Cũng theo Đại Nam liệt truyện tiền biên, sau khi bị Nguyễn Cư Trinh đánh bại, Nặc Nguyên chạy
sang Hà Tiên cầu cứu Mạc Thiên Tứ, xin dâng hai phủ Tầm Bông và Lôi Lạp để chuộc tội. Mạc Thiên
Tứ tâu lên, lúc đầu chúa Nguyễn không chịu, nhưng sau thì chấp thuận theo lời tâu của Nguyễn Cư
Trinh “ Nay đất cũ từ Hưng Phước chỉ có hai ngày đường mà dân ở chưa yên, quân giữ chưa khắp,
huống chi từ Sài Gòn tới Tầm Bôn đến 6 ngày đường, quân để đóng giữ thật sợ không đủ. Thần thấy
người Côn Man giỏi bộ chiến, Chân Lạp cũng đã khiếp sợ, nếu cho họ ở đất ấy để ngăn giữ, lấy người
Man đánh người Man cũng là đắc sách”[34, tr.343]. Như vậy, cho đến thời điểm này, đã có một bộ
phận khá đông người Chăm về với Chúa Nguyễn, được định cư ở vùng đất mới Nam Bộ, dân số người
Chăm không ngừng tăng trong thời gian tiếp sau đó để thực hiện chủ trương của Chúa Nguyễn như đã
nêu.
Vào năm 1841, Nam Bộ có cuộc khởi nghĩa Lâm Sâm ở Trà Vinh, lúc bấy giờ vua Thiệu Trị
xuống chiếu Trương Minh Giảng đang ở Chân Lạp (Campuchia) rút quân về. Những người Chăm và
người Mã Lai được tuyển vào quân đội triều Nguyễn cùng gia quyến của họ đã rút theo đoàn quân của
Trương Minh Giảng, Khâm sai đại thần Lê Văn Đức, phó khâm sai Doãn Uẩn của triều Nguyễn cũng
theo về. Sau đó, họ cư trú cùng gia đình dọc sông Hậu và Khánh Bình (An Phú) cho đến ngày nay.
Năm 1858 ở Chân Lạp, Tuôn Sết It lãnh đạo nhân dân nổi dậy chống lại triều đình phong kiến.
Cuộc khởi nghĩa đã thu hút khá đông người Chăm, người Mã Lai tham gia. Đến khi cuộc khởi nghĩa
thất bại, rất nhiều người Chăm, người Mã Lai chạy về Nam Bộ để lánh nạn và tìm sự che chở dưới
triều Nguyễn.Tất cả đều được thu nhận và cho định cư sinh sống ở vùng đất An Giang, phân bố cư trú
trong bảy làng : Châu Giang, Katambong, Phũm Soài, La Ma, Koh Koi, Koh Kia và Sa Bâu. Đây được
xem là đợt di dân đông đảo nhất của người Chăm từ Campuchia về An Giang.
Do tác động của điều kiện lịch sử diễn ra từ nửa sau thế kỷ XVIII, tạo nên những đợt di dân của
người Chăm sau bao năm phiêu bạt đã trở về vùng đất Nam Bộ Việt Nam cư trú. Như vậy, chúng ta có
thể nhận thấy chiến tranh không phải lý do duy nhất dẫn đến người Chăm phải ly hương, mà còn vì
tiếng gọi khẩn hoang của nhà Nguyễn (triều Nguyễn), mà một bộ phận người Chăm ở miền Trung đã
đi vào Nam. Thật vậy, sau khi Nguyễn Hữu Cảnh vâng lệnh Chúa Nguyễn lập phủ Gia Định (1698) đã
chiêu mộ dân ở các địa phương miền Trung Việt Nam cho vào đây khai phá ruộng đất. Cũng vấn đề

đầu sống ở Kohkoi (Cồn Quan Thuế) ở xã Nhơn Hội (An Phú), sau mới chuyển về cư trú ở Châu
Giang (Phú Tân) đến nay.
Theo cụ Du Số (82 tuổi), phó cả thánh đường MuBaRak ở Châu Giang cũng cho biết, số người về
sớm nhất ở Châu Giang có bốn gia đình, trong đó có ông tổ của cụ tên : Ad Doromal (đời 1), Ad Doloh
(đời 2), Sam Su (đời 3), Ma Nơ (đời 4), Du Số (đời 5, tức đời ông ta), Mariam (đời 6), Halimal (đời 7).
Cụ tổ ông cùng với cụ Haji Abmed đến Châu Giang cùng một lượt với nhau. Và theo Hồi giáo, khi nào
có từ ba hộ gia đình trở lên có thể cất thánh đường nhỏ để làm lễ.
Cũng theo ông Hakêm Haji Musa ở Katambong, xã Khánh Hoà ( Châu Phú) cho biết, số người về
sớm ở địa phương trên đây có khoảng 20 gia đình, tính đến nay cũng được năm, sáu đời. Như gia đình
của ông Cô Cô Sêm (đời 1), Haji Issahak (đời 2), Hakêm Mách, Haji Tumal (đời 3), Katia, Kho Tiyah (đời
4), Haji Salès (đời 5), …
Có thể nói, do những biến cố mà từ khá sớm đã có một bộ phận người Chăm bỏ quê hương đi tìm
vùng đất khác yên ổn hơn để sinh sống. Riêng vùng đất Nam Bộ, tiếp giáp với vương quốc Champa
vào đầu thế kỷ XVII còn là vùng đất hoang vu, nên một số người Chăm đã đến đây cư ngụ để lánh nạn


chiến tranh, hoặc theo tiếng gọi khẩn hoang của nhà Nguyễn. Như vậy, cư dân Chăm ở Nam Bộ nói
chung và ở An Giang nói riêng được hình thành từ hai nguồn chủ yếu, từ Trung Bộ chuyển cư thẳng
vào vùng đất phía Nam và phần đông khác từ Chân Lạp trở về. Buổi đầu họ tập trung cư trú rất đông ở
An Giang, Tây Ninh, và rải rác ở các địa phương thuộc Nam Bộ. Tuy nhiên, do yêu cầu lập nghiệp và
ảnh hưởng của chiến tranh, bom đạn dưới thời kỳ Pháp thuộc và ách thống trị của chủ nghĩa thực dân
mới ở miền Nam, nhiều nông dân ở vùng đồng bằng sông Cửu Long, trong đó có khá đông người
Chăm nhất là người Chăm ở An Giang đã bỏ quê lên Sài Gòn hy vọng tìm nơi có cuộc sống yên ổn
hơn hoặc đi phá hoang, sống về nghề ruộng rẫy ở tỉnh Bà Rịa, Đồng Nai, rải rác cũng có một số ít sống
trong các thị trấn, thị xã.
Do điều kiện lịch sử, người Chăm ở An Giang có mối quan hệ với Hồi giáo MaLaixia, Indônêxia,
… Từ đó, mở rộng quan hệ với cộng đồng Hồi giáo trong khu vực Đông Nam Á và thế giới. Chính vì
thế, cộng đồng người Chăm ở An Giang nói riêng và Nam Bộ nói chung chịu ảnh hưởng của người Mã
Lai nhiều hơn về tiếng nói, tín ngưỡng, … so với những người đồng tộc của họ ở Ninh Thuận, Bình
Thuận. Tuy vậy, người Chăm Hồi giáo ở An Giang và người Chăm BàLaMôn ở Ninh Thuận, Bình


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status