Thực trạng phát triển kinh tế xã hội nông thôn của hai xã Tây Bắc vùng Xuân Mai: Nhuận Trạch và Hoà Sơn (Thuộc tỉnh Hoà Bình) trong quá trình đô thị hoá theo quy hoạch thành thị xã Xuân Mai - Hà Tây - Pdf 20

MỞ ĐẦU
1.1. Tính cấp thiết của luận văn
- Thực hiện đường lối đổi mới của Đảng và Nhà nước, trong những năm
qua nền kinh tế Việt Nam đã chuyển đổi và phát triển theo hướng công nghiệp
hoá, hiện đại hoá. Tốc độ phát triển kinh tế cao và ổn định. Đã làm cho tốc độ
đô thị hoá phát triển rất nhanh, thực sự làm thay đổi diện mạo các vùng nông
thôn trên cả nước.
- Việc chuyển đổi cơ cấu kinh tế từ nông nghiệp chuyển sang công
nghiệp và dịch vụ là xu thế tất yếu. Các vùng nông thôn xưa kia bỗng nhiên
trở thành đô thị với các nhà máy và khu công nghiệp mọc lên rất nhanh chỉ
trong vòng vài năm và thực sự làm biến dạng bộ mặt nông thôn ở các vùng
ven đô.
- Hà Tây là một tỉnh có lợi thế về vị trí địa lý, cửa ngõ của thủ đô Hà
Nội, đất đai rộng, cao mà thoáng rất phù hợp để phát triển công nghiệp và mở
rộng thủ đô cùng các khu công nghiệp vệ tinh của thủ đô Hà Nội đã được
chính phủ phê duyệt đó là chuỗi đô thị Sơn Tây - Hòa Lạc - Xuân Mai - Miếu
Môn.
- Do mở cửa nền kinh tế và xu hướng hội nhập kinh tế trong khu vực,
nên trong những năm qua tốc độ đô thị hóa tăng nhanh đặc biệt Xuân Mai là
đô thị vệ tinh của thủ đô Hà Nội. Từ đó diện tích sản xuất nông nghiệp hầu
hết được chuyển thành đất xây dựng cơ bản đô thị, điều đó đã ảnh hưởng rất
nhiều đến đời sống xã hội nông thôn vốn bao đời nay cầy sâu cuốc bẫm với
các tập quán cổ truyền không thay đổi.
- Vấn đề đặt ra hiện nay là:
+ Quá trình đô thị hóa đã tạo ra sự thay đổi bộ mặt kinh tế xã hội nông
thôn vùng nghiên cứu như thế nào?
+ Những ảnh hưởng tích cực, những ảnh hưởng tiêu cực như thế nào?
1 1
+ Các yêu cầu gì cần giải quyết nhằm phát huy tác động tích cực và
khắc phục tác động tiêu cực trong phát triển kinh tế xã hội nông thôn của
vùng?

vùng có hiệu quả cao và bền vững trên cơ sở phát huy được những tác động
tích cực và hạn chế ảnh hưởng tiêu cực của quá trình đô thị hóa đến phát triển
kinh tế xã hội của vùng nghiên cứu.
Câu hỏi chính
Quá trình đô thị hóa đưa ra các ảnh hưởng như thế nào đến sự phát triển
kinh tế xã hội nông thôn của vùng Xuân Mai? Các giải pháp hữu hiệu nào
đảm bảo quá trình phát triển Đô thị hóa gắn liền với phát triển kinh tế xã hội
nông thôn bền vững?
Câu hỏi cụ thể:
1. Dựa vào cơ sở lý luận và thực tiễn nào để thực hiện nghiên cứu đề
tài?
2. Quá trình đô thị hóa của vùng diễn ra khi nào và trong điều kiện nào?
Kết quả đạt được như thế nào?
3. Phát triển kinh tế xã hội nông thôn của vùng Xuân Mai trước và sau
khi có quy hoạch
4. Quá trình đô thị hóa đã đưa ra các ảnh hưởng nào đến phát triển của
từng lĩnh vực kinh tế xã hội nông thôn của vùng? Đánh giá mức độ ảnh hưởng
của các yếu tố kinh tế và phi kinh tế đến phát triển và kết quả phát triển kinh
tế xã hội của vùng?
5. Cần đề xuất hoặc khuyến cáo gì để thúc đẩy nhanh quá trình đô thị
hóa tạo ra các ảnh hưởng hữu hiệu đến phát triển kinh tế xã hội nông thôn có
hiệu quả cao bền vững?
1.3. Đối tượng nghiên cứu
3 3
Nghiên cứu các vấn đề kinh tế xã hội liên quan, phụ thuộc vào quá trình
phát triển đô thị hóa của vùng nghiên cứu.
Đối tượng trực tiếp là nghiên cứu các loại ảnh hưởng, mức ảnh hưởng
của quá trình phát triển các khu đô thị hóa, KCN tập trung tác động đến các
hoạt động phát triển kinh tế xã hội của vùng nghiên cứu
1.4. Phạm vi nghiên cứu

Xuân Mai nói chung và bổ xung vào định hướng chiến lược phát triển cộng
đồng cho các xã hiện đang là vùng khó khăn, các đồng bào dân tộc thiểu số
sinh sống.
1.6. Dự kiến những đóng góp của luận án
1.6.1. Về mặt lý luận:
- Đưa ra được những kết luận mang tính hệ thống về sự ảnh hưởng của
quá trình đô thị hóa đến đời sống kinh tế xã hội nông thôn vùng Xuân Mai.
- Đưa các đánh giá cụ thể, phân tích có hệ thống các tác động có tính
tích cực và tiêu cực của quá trình đô thị hóa và CNH đến phát triển kinh tế xã
hội nông thôn của vùng nghiên cứu. Từ đây là cơ sở tốt để đề tài đưa ra các
giải pháp chủ yếu nhằm phát huy được những ảnh hưởng tích cực và khắc
phục những ảnh hưởng tiêu cực của quá trình đô thị hóa, CNH đến phát triển
kinh tế xã hội nông thôn bền vững tới năm 2015.
- Kết quả nghiên cứu đề tài là tài liệu tốt cho các cấp lãnh đạo địa
phương vùng đô thị Xuân Mai và các xã của vùng đô thị có hoàn thiện quy
hoạch phát triển kinh tế xã hội tương hợp với phát triển đô thị của vùng. Đề
tài cũng là tài liệu tốt cho các nhà hoạch định chính sách phát triển kinh tế
vùng Xuân Mai nói chung và bổ xung vào định hướng chiến lược phát triển
cộng đồng cho các xã hiện đang là vùng khó khăn, các đồng bào dân tộc thiểu
số sinh sống.
1.6.2. Về mặt thực tiễn
5 5
- Chỉ ra các hưởng, tác động khác nhau của quá trình đô thị hóa và
CNH đến phát triển kinh tế xã hội nông thôn vùng Xuân Mai, Hà Tây. Đưa ra
các giải pháp khắc phục khó khăn, khai thác triệt để những thuận lợi của quá
trình đô thị hóa và cộng đồng nông thôn để phát triển kinh tế xã hội cho vùng
một cách bền vững.
- Giúp cho lãnh đạo các cấp ở vùng có các chính sách hỗ trợ tốt cho
phát triển kinh tế xã hội nông thôn.
PHẦN 1

phạm đến lợi ích của thế hệ mai sau và sự phát triển của loài người thì không
đe dọa sự sống còn hay làm suy giảm điều kiện sống của các loại sinh vật
khác trên hành tinh.
c. Cơ cấu kinh tế nông thôn
-Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nói chung: cùng với việc tăng dân số, đô
thị và sự chuyển đổi cơ cấu kinh tế. Trên góc độ dân số và lao động, đô thị
hóa và quá trình chuyển đổi cơ cấu dân số từ khu vực I sang khu vực II và
khu vực II của nền kinh tế. Những người nông dân trước đây gắn bó với
ruộng vườn, sau khi trở thành dân cư đô thị, họ bị mất phần lớn ruộng đất
canh tác. Với số tiền được Nhà nước đền bù, họ dùng để tạo nghề mới, tìm
việc làm mới, xây dựng nơi cư trú mới… và nhiều vấn đề khác cũng thay đổi.
Trong quá trình đô thị hóa, cơ cấu kinh tế trong vùng và cả nền kinh tế cũng
thay đổi theo hướng giảm tỷ trọng trong khu vực I, tăng tỷ trọng khu vực II và
III. Khi đô thị mở rộng ra vùng ngoại vi, nhằm giải quyết vấn đề quá tải dân
số, hình thành các khu dân cư đô thị ở các vùng ngoại vi thì các hoạt động
thương mại, dịch vụ phát triển, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tăng
7 7
khu vực III. Ngoại thành là nơi có sự thay đổi mạnh mẽ về các hoạt động
thương mại, dịch vụ
- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở khu vực đô thị mới: Trong quá trình đô
thị hóa, kinh tế ở các đô thị mới tăng trưởng nhanh chóng nhờ có sự tập trung
lực lượng sản xuất, tạo ra năng suất lao động cao, cách tổ chức lao động hiện
đại. Thực chất quá trình tăng trưởng kinh tế là quá trình tăng việc làm ở đô
thị. Quá trình đó vừa làm tăng tổng việc làm vừa chuyển đổi cơ cấu kinh tế
trong kinh tế đô thị. Ngược lại việc chuyển đổi cơ cấu các ngành kinh tế đô
thị làm tăng trưởng kinh tế đô thị theo chiều sâu, tăng năng suất lao động xã
hội, tăng GDP bình quân đầu người ở đô thị.
- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở khu vực giáp ranh: Khu vực giáp ranh
giữa đô thị và nông thôn luôn chịu ảnh hưởng của cả những ngoại ứng tích
cực lẫn tiêu cực. Mật độ dân cư ở khu vực này sẽ tăng dần, đất đai thay đổi

huyện.
+ Đối với khu vực nội thành phố, nội thị xã, thị trấn tỉ lệ lao động phi
nông nghiệp tối thiểu phải đạt 65% tổng số lao động; kết cấu hạ tầng phục vụ
các hoạt động của dân cư tối thiểu phải đạt 70% mức tiêu chuẩn, quy chuẩn
thiết kế quy hoạch xây dựng quy định cho từng loại đô thị, quy mô dân số ít
nhất là 4.000 người và mật độ dân số tổi thiểu phải đạt 2000 người/km
2
.
* Khái niệm đô thị hóa
Đô thị hóa là quá độ từ hình thức sống nông thôn lên hình thức sống đô
thị của các nhóm dân cư. Khi kết thúc thời kỳ quá độ thì các điều kiện tác
động đến đô thị hóa cũng thay đổi thì các điều kiện tác động đến đô thị hóa
cũng thay đổi và xã hội sẽ phát triển trong các điều kiện mới mà biểu hiện tập
trung là sự thay đổi cơ cấu dân cư, cơ cấu lao động.
Đô thị hóa gắn liền với sự biến đổi sâu sắc về kinh tế xã hội của đô thị
và nông thôn trên cơ sở phát triển công nghiệp, giao thông vận tải, xây dựng,
dịch vụ… Do vậy đô thị hóa gắn liền với sự phát triển kinh tế - xã hội
9 9
Tóm lại: đô thị hóa là quá trình biến đổi và phân bố các lực lượng sản
xuất trong nền kinh tế quốc dân bố trí dân cư, hình thành, phát triển các hình
thức và điều kiện sống theo kiểu đô thị đồng thời phát triển đô thị hiện đại
theo chiều sâu trên cơ sở hiện đại hóa cơ sở vật chất kỹ thuật và tăng quy mô
dân số.
* Khái niệm công nghiệp hóa
Công nghiệp hóa nông thôn là một quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế
nông thôn, phân công lại lao động và ngành nghề, đa dạng hóa kinh tế nông
thôn theo hướng ngày càng nâng cao tỷ trọng của các hoạt động công nghiệp
và phi nông nghiệp khác bằng việc áp dụng ngày càng rộng rãi và có hiệu quả
những tiến bộ khoa học kỹ thuật trong sản xuất kinh doanh nông - lâm - ngư
nghiệp và các ngành nghề phi nông nghiệp để không ngừng phát triển kinh tế

mức sống dân cư.
- Tình hình chính trị: Ở Việt Nam từ sau năm 1975, tốc độ đô thị hóa
ngày càng cao, các khu đô thị mới mọc lên nhanh chóng… Đặc biệt trong thời
kỳ đổi mới, với các chính sách mở cửa nền kinh tế, thu hút đầu tư nước ngoài,
phát triển nền kinh tế nhiều thành phần thì đô thị hóa đã tạo ra sự phát triển
kinh tế vượt bậc.
1.1.2.4. Các nhân tố ảnh hưởng đến quá trình công nghiệp hóa
- Nhân tố về vốn: Đây là nhân tố không thể thiếu để đầu tư xây dựng
cũng như phát triển trang thiết bị, công nghệ cho quá trình công nghiệp hóa.
Các nguồn vốn có thể huy động cho sự nghiệp CNH nông thôn trước hết là
(1) vốn của các hộ gia đình tại nông thôn; (2) vốn của các hộ gia đình ở thành
thị đầu tư về nông thôn; (3) vốn của các doanh nghiệp; (4) vốn tín dụng ngân
hàng; vốn đầu tư của Nhà nước; (5) vốn nước ngoài. Vấn đề cần quan tâm là
vai trò của Nhà nước mà ở đây là cơ chế chính sách huy động các nguồn vốn
này và cơ cấu đầu tư phân bổ của Nhà nước vào khu vực này như thế nào để
thúc đẩy quá trình CNH nông thôn.
11 11
- Nhân tố về lao động: Kinh nghiệm cho thấy ở các nước đang phát
triển có tình trạng dư thừa lao động do hệ quả của chính sách dân số trong khi
lại thiếu lao động được đào tạo có tay nghề. Cơ cấu lao động trong nông thôn
(lao động phổ thông,, lao động kỹ thuật, lao động quản lý, lao động nông
nghiệp, lao động phi nông nghiệp) không những là các chỉ tiêu cần phải tính
toán kỹ trong quá trình CNH mà còn là một số các chỉ tiêu đánh giá quá trình
thực hiện CNH.
Để CNH đòi hỏi lực lượng lao động phải có trình độ chuyên môn, kỹ
thuật, tay nghề nhất định và được bố trí sử dụng hợp lý để thực hiện các hoạt
động sản xuất kinh doanh mang tính công nghiệp. Như vậy, ngoài trình độ và
loại hình lao động, quá trình công nghiệp hóa đòi hỏi được đảm bảo tính đồng
bộ của nguồn lao động. Vấn đề này liên quan trực tiếp đến chính sách đào tạo
dạy nghề của mỗi quốc gia ở thời kỳ đầu của quá trình công nghiệp hóa.

tế xã hội và cơ cấu kinh tế nông thôn
1.1.3.1. Đô thị hóa tác động đến cơ cấu ngành nghề nông thôn
Phát triển kinh tế nông thôn phù hợp với tiến trình đô thị hóa, phấn đấu
giảm dần giữa thành thị và nông thôn chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn
theo hướng tăng nhanh tỷ trọng các ngành công nghiệp, dịch vụ, phát triển
sản xuất nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa, tăng tỷ trọng các loại
nông sản có chất lượng và giá trị kinh tế cao.
Sự phát triển của các ngành công nghiệp và xây dựng trong quá trình
đô thị hóa: công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và xây dựng cho các huyện
quản lý đã từng bước được phục hồi và phát triển nhưng tốc độ phát triển còn
chậm trong mối tương quan với công nghiệp trung ương và công nghiệp do
các thành phố quản lý, phần công nghiệp trong quá trình đô thị hóa ở các
huyện quản lý có quy mô nhỏ, có tốc độ tăng trưởng chậm hơn. Vì vậy , tỷ
trọng công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và xây dựng càng chiếm tỷ trọng nhỏ
trong tổng số các ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và xây dựng
13 13
Sự phát triển của công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp do huyện quản lý
có sự phát triển không đều giữa các xã, thị trấn. Cơ cấu giữa các ngành nghề
công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp do huyện quản lý phụ thuộc vào nguồn lực
phát triển của huyện, nhất là nguồn lực cho sự phát triển tiểu thủ công nghiệp,
trong đó có sự đóng góp rất lớn của các làng nghề thủ công truyền thống.
- Sự phát triển của các ngành dịch vụ trong các ngành dịch vụ hoạt
động thương mại đã từng bước mở rộng đáp ứng nhu cầu sản xuất của nông
dân trong huyện, nhất là nhu cầu đầu ra cho các ngành nông nghiệp và tiểu
thủ công nghiệp. Các hoạt động dịch vụ vui chơi, giải trí đã được chú ý phát
triển và bước đầu phát huy hiệu quả. Vì vậy, tỷ trọng các ngành dịch vụ trong
cơ cấu kinh tế của các xã đều có sự chuyển dịch theo xu hướng tiến bộ.
- Xu hướng chuyển dịch nội bộ ngành công nghiệp những chuyển biến
trong nông nghiệp ở Xuân Mai giai đoạn 1990 - 2000 gắn liền với bối cảnh
chuyển sang nền kinh tế thị trường và chịu sự tác động ngày càng mạnh của

Đông Bắc thời tiết khô hanh, mưa ít, thời tiết lạnh nhất vào tháng giêng và
tháng 2. Nhiệt độ trung bình hàng năm từ 25 - 26
o
C. Số giờ nắng trung bình
trong năm từ 1416 - 1700 giờ. Lượng mưa trung bình hàng năm là 1767 mm,
độ ẩm bình quân là 80 - 85%.
Với những điều kiện thời tiết khí hậu như trên đã tạo điều kiện thuận lợi
cho sản xuất nông nghiệp cũng như phát triển nhiều ngành kinh tế khác.
3.1.2 Điều kiện kinh tế xã hội
3.1.2.1 Tình hình phân bổ và sử dụng đất (biểu 2)
15 15
Toàn xã Nhuận Trạch có tổng diện tích đất tự nhiên là 1560 ha trong đó
đất nông nghiệp chiếm 65%. Vì vậy, Nông nghiệp ở đây chiếm tỷ trọng cao
trong cơ cấu các ngành kinh tế của thị trấn, tốc độ phát triển trung bình. Đất
nông nghiệp qua 3 năm có biến động giảm tương đối đáng kể, năm 2003 có
tăng 14 ha nhưng là do khai hoang, năm 2005 giảm mạnh 33 ha và bình quân
qua 3 năm giảm 19,5 % số tuyệt đối là 47 ha. Đất trồng cây hàng năm qua 3
năm cũng giảm mạnh , tuy nhiên diện tích đất chuyên lúa lại tăng, có được
điều này là do trong những năm qua công tác tưới tiêu được quan tâm cải tạo
và nâng cấp. Diện tích đất nông nghiệp của thị trấn đã rất nhỏ thêm vào đó
diện tích đất lúa 1 vụ, 2 vụ lại chiếm phần lớn trên 60% tổng diện tích trồng
cây hàng năm. Vì vậy, điều kiện đất đai của nông hộ đã kìm hãm sự phát triển
của kinh tế hộ.
Trong những năm qua dân số của thị trấn ngày một tăng do nhiều
nguyên nhân khác nhau, ngoài việc các hộ tự ý trao đổi mua bán đất cho nhau
thì thị trấn cũng tiến hành phân cấp đất trong quỹ đất chưa sử dụng của thị
trấn cho các hộ sử dụng. Vì vậy, diện tích đất thổ cư qua 3 năm tăng 59 ha
(21.16%). Đất chuyên dùng của xã chiếm tỷ trọng ngày càng lớn sở dĩ như
vậy là do địa bàn xã có nhà máy và trại chăn nuôi của liên doanh Chính phủ
mở rộng sản xuất. Qua 3 năm diện tích đất chưa sử dụng đã giảm đáng kể

trong sản xuất nông nghiệp. Tuy nhiên, với hệ thống thuỷ lợi như vậy đã đưa
được nước tới phần lớn các thửa ruộng. Song đối với các thửa ruộng ở xa các
trạm bơm, bà con nông dân vẫn phải dùng gầu tát nước, các vùng đất chuyên
mầu phải múc nước tưới thủ công.
- Về điện: Với mức trang bị về điện như vậy đã đủ cung cấp điện
24/24h cho sản xuất và sinh hoạt của các hộ, nhưng dòng điện cung cấp còn
rất yếu.
17 17
- Bưu điện, chợ: Xã đã có 1 bưu điện văn hoá xã được xây dựng khang
trang và trang bị tiện nghi khá đầy đủ, mạng lưới điện thoại tăng nhanh. Bên
cạnh những khu chợ buôn bán nhỏ, xã có một chợ lớn hoạt động buôn bán
dịch vụ vào tất cả các ngày trong tuần. Hàng năm xã luôn đầu tư tu sửa và
nâng cấp cơ sở hạ tầng ở chợ.
- Năm 2003 đã đầu tư nâng cấp 2 cổng chợ và xây dựng thêm hệ thống
thoát nước. Năm 2005 đầu tư cho việc cải tạo khu vệ sinh chợ. Với việc đầu
tư cơ sở hạ tầng phục vụ cho thương mại như vậy cho nên hàng hoá rất đa
dạng và phong phú, chất lượng đảm bảo tốt giá cả ổn định. Công tác quản lý
thị trường được từng bước đi vào nề nếp. Ban quản lý chợ được kiện toàn đủ
về số lượng và chất lượng.
3.1.2.4 Kết quả sản xuất kinh doanh của Xã Nhuận Trạch (biểu 5)
Qua biểu 5 cho thấy, qua các năm giá trị sản xuất của các ngành đều
tăng lên, vì vậy tổng giá trị sản xuất của toàn xã cũng tăng lên qua các năm.
Trong tổng giá trị sản xuất của xã thì giá trị sản xuất do thương nghiệp và dịch
vụ mang lại giá trị cao nhất trên 40,28%.
Giá trị sản xuất ngành nông nghiêp tuy chỉ chiếm một tỷ trọng tương
đối (37,34% năm 2005) nhưng đã giảm dần qua các năm, Ngành chăn nuôi,
trong những năm qua số lượng và chất lượng đàn gia súc, gia cầm luôn tăng
khá nhanh.
Với kết quả sản xuất kinh doanh tăng nhanh như vậy nên mặc dù tổng
số nhân khẩu và tổng số hộ của xã tăng qua các năm, nhưng giá trị sản xuất

3.2 Phương pháp nghiên cứu
19 19
Đề tài được chúng tôi nghiên cứu trong bối cảnh vùng đô thị Xuân Mai
đang từng bước chuẩn bị các điều kiện cần và đủ để có được một thị xã Xuân
Mai trong những năm tới. Việc tìm ra những ảnh hưởng của quá trình đô thị
hoá đến việc phát triển kinh tế – xã hội nông thôn vùng đô thị Xuân Mai (gồm
thị trấn Xuân Mai và 6 xã phụ cận nằm trong quy hoạch), trực tiếp là hai xã
TN và Hoàng Văn Thụ. Đòi hỏi phải lựa chọn phương pháp nghiên cứu chính
xác và sát thực. Phương pháp nghiên cứu phải đảm bảo tính kế thừa của lịch
sử trong quá trình phảt triển, đảm bảo cơ sở lý luận và tính thực tiễn sâu sắc.
Trong luận văn này chúng tôi lựa chọn những phương pháp chủ yếu
gồm:
3.2.1 Phương pháp chọn mẫu
Chọn mẫu ngẫu nhiên: Chúng tôi tiến hành lựa chọn điều tra 1 xã, với
tổng số mẫu điều tra là 30 hộ gồm: Nông dân sản xuất nông nghiệp thuần tuý,
công nhân, cán bộ viên chức và tiểu thương.
3.2.2 Phương pháp thu thập và sử lý số liệu
- Thu thập số liệu thứ cấp (các tư liệu đã công bố) các cơ quan, các
ngành, ở thôn, xã... có liên quan đến mục tiêu đề ra.
- Thu thập số liệu sơ cấp: Thiết kế mẫu phiếu điều tra, các bảng hỏi và
câu hỏi phỏng vấn.
- Tham khảo các kết quả nghiên cứu, các báo cáo tổng kết hội nghị, hội
thảo, các sách báo, niên giám thống kê...
3.2.3 Phương pháp so sánh
Qua việc so sánh các chỉ tiêu tương đối, chỉ tiêu tuyệt đối để thấy được
mức độ ảnh hưởng của quá trình đô thị hoá đến từng lĩnh vực kinh tế xã hội
của địa bàn nghiên cứu.
20 20
3.2.4 Phương pháp dự báo
Là phương pháp nghiên cứu dựa vào phân tích các mức độ ảnh hưởng

trợ phát triển cho thủ đô Hà Nội trong tiến trình phát triển, hướng tới mục tiêu
phát triển bền vững.
Trong quy hoạch mở rộng, thị xã Xuân mai sẽ bao gồm thị trấn Xuân
Mai và 6 xã lân cận gồm: Thuỷ Xuân Tiên, Tân Tiên, Hoà Sơn, Thanh
Bình, Nhuận Trạch và Hoàng Văn Thụ. Thị xã sẽ được mở rộng với quy mô
diện tích là 5792 ha và dân số là 69 vạn dân. Theo quy hoạch tổng thể thì thị
xã sẽ bao gồm:
+ Cụm công nghiệp vật liệu xây dựng tại xã Thuỷ Xuân Tiên
+ Cụm công nghiệp cơ khí chế tạo tại Sơn Linh
+ Khu đất dự phòng công nghiệp
+ Công viên trung tâm hồ Thuỷ Xuân Tiên
+ Khu các trường chuyên nghiệp xóm làng
+ Lâm viên núi Nuốt
+ Trung tâm dịch vụ công cộng đô thị
+ Trường đại học Lâm Nghiệp Việt Nam
Từ những quy hoạch chung như vậy, trong thời gian vừa qua ban chỉ
đạo nâng cấp thị trấn đã tiến hành xây dựng đề án phát triển tổng thể của vùng
dự kiến sẽ trình Uỷ ban nhân dân tỉnh vào cuối năm 2006 và đang tiến hành
22 22
giải quyết các tranh chấp về đất đai, địa giới hành chính, đồng thời triển khai
một số hạng mục nằm trong quy hoạch.
Xã Nhuận Trạch đóng vai trò là trung tâm với hệ thống cơ sở hạ tầng
tương đối đầy đủ, hoạt động kinh tế chủ yếu là TM – DV, CN – TTCN còn
nông nghiệp chiếm tỷ trọng rất thấp. Các xã còn lại thỉ sản xuất nông nghiệp
là hoạt động chủ yếu quyết định đến thu nhập của xã, tuy nhiên tỷ trọng này
trong những năm gần đây đang có xu hướng giảm dần. Ngược lại, doanh thu
từ các hoạt động TM – DV, CN – TTCN đang có xu hướng tăng nhanh do có
sự góp mặt của nhiều thành phần kinh tế đầu tư vào đây, những dấu hiệu này
cho thấy tác động tích cực của quá trình đô thị hoá. Bên cạnh đó, các xã này
còn có ngành nghề truyền thống mà chủ yếu là mây giang đan vừa có tác dụng

từ trung ương đến địa phương nên quá trình đô thị hoá của vùng đô thị Xuân
Mai đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận. Tuy nhiên, để nâng cấp và mở
rộng thị trấn Xuân Mai thành công và đạt chất lượng đô thị cao thì còn nhiều
vấn đề khó khăn cần phải thận trọng trong quá trình ĐTH của vùng đô thị.
24 24
Bảng 1a:
Kết quả sản xuất kinh doanh của xã Nhuận Trạch
Chỉ tiêu
2000 2005
Tốc độ (%)
SL (trđ) CC (%) SL (trđ) CC (%)
I. Tổng giá trị 25.216 100 37.246 100 122,015
1. GTSXNN 17.012 67,47 14.132 37,34 91,18
- Trồng trọt 11.002 64,67 5121 36,24 68,22
- Chăn nuôi 6010 35,33 9011 63,76 123,94
2. GTSXTTCN 3102 12,30 8110 21,78 162,64
3. GTSX TS-dịch vụ 5103 20,23 15.011 40,28 173,53
II. Các chỉ tiêu BQ
1. Giá trị sản xuất/khẩu 2,23 2,32
2. Giá trị sản xuất /lao động 4,88 26,64
3. Giá trị sản xuất/hộ 15,632 16,27
25 25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status