Phát huy vai trò của đội ngũ giảng viên ở Đại học Thái Nguyên hiện nay - Pdf 25


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ TRẦN THỊ LAN
PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN
Ở ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN HIỆN NAY Chuyên ngành: Chủ nghĩa xã hội khoa học
Mã số 60 22 85

TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
Ở ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN HIỆN NAY

TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
HÀ NỘI - 2007
MỞ ĐẦU

1.Lý do chọn đề tài
Hiền tài là nguyên khí của quốc gia, nguyên khí mạnh thì quốc gia
hưng, nguyên khí yếu thì quốc gia suy. Tính đúng đắn của chân lý ấy đã và
đang tiếp tục được khẳng định trong thế kỷ XXI - Thế kỷ của nền văn minh
trí tuệ, nền kinh tế tri thức với sự tác động sâu sắc của xu thế hội nhập và
toàn cầu hoá.
Thực tiễn đó làm thay đổi căn bản tiêu chí về nguồn nhân lực. Do vậy,
tất yếu đòi hỏi có sự đổi mới mang tính cách mạng về việc đào tạo, bồi
dưỡng, phát huy nhân tố con người ở hầu hết các quốc gia. Giải pháp có ý
nghĩa chiến lược là phát triển GD - ĐT. Đó là cội nguồn cho những đột phá
tạo ra bước tiến vượt bậc của nguồn lực con người trong tương lai.
Việt Nam cũng không thể thoát ly những bối cảnh và đòi hỏi thực tế
ấy nếu muốn đạt tới sự phát triển nhanh, bền vững của toàn xã hội. Vì vậy,
Đảng ta đã chỉ rõ: Phải phát triển mạnh GD - ĐT, coi GD - ĐT là quốc sách
hàng đầu.
Tuy nhiên trên thực tế, hệ thống GD - ĐT hiện hành ở nước ta, đặc
biệt là GDĐH đã có những dấu hiệu hụt hẫng, mất cân đối, chất lượng đào
tạo còn nhiều yếu kém, bất cập, chưa đáp ứng được yêu cầu về trình độ, kỹ
năng của nguồn nhân lực trước đòi hỏi ngày càng cao của thời đại và sự
nghiệp CNH, HĐH đất nước. Do vậy, nâng cao chất lượng GDĐH đã trở
thành vấn đề được dư luận quan tâm ở nhiều khía cạnh.
Một trong những chìa khoá để giải quyết vấn đề chất lượng GDĐH là
phát huy vai trò của ĐNGV. Ý thức được tầm quan trọng đó, trong nhiều
năm qua cùng với sự quan tâm, khuyến khích của Đảng và Nhà nước,
ĐNGV ở ĐHTN đã không ngừng tự bồi dưỡng, nâng cao trình độ, chuyên

2
môn nghiệp vụ… Song nhìn chung, đội ngũ này vẫn còn nhiều hạn chế, yếu

2.Tình hình nghiên cứu đề tài
Xuất phát từ yêu cầu ngày càng cao của xã hội đối với sự nghiệp
“trồng người” trong giai đoạn hiện nay, vấn đề GD - ĐT, xây dựng và phát
huy vai trò của ĐNGV luôn là một trong những đề tài được nhiều người
quan tâm nghiên cứu ở các khía cạnh khác nhau.
Về những vấn đề lí luận, nhiều năm gần đây, ở nước ta đã có không ít
công trình nghiên cứu về GD - ĐT. Đó là những tài liệu tham khảo bổ ích,
cung cấp cơ sở lý luận chung để tác giả nghiên cứu về ĐNGV ở ĐHTN,
đáng chú ý là:
- “Vấn đề GD - ĐT”, Phạm Văn Đồng, Nxb Chính trị quốc gia, Hà
Nội, 1999.
-“Giáo dục Việt Nam trước ngưỡng cửa của thế kỷ XXI” - Phạm Minh
Hạc, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1999.
- “Ngành GD - ĐT thực hiện nghị quyết TW2 khoá VIII và Nghị
quyết Đại hội Đảng lần thứ IX, Nxb Giáo dục, 2002.
Những công trình nghiên cứu nêu trên đã đề cập, phân tích: Tính tất
yếu phải tiến hành đổi mới giáo dục trên cơ sở khảo sát thực trạng nền giáo
dục nước ta trong những năm qua. Phát hiện những vấn đề đặt ra nhìn từ góc
độ mâu thuẫn, đồng thời dự báo xu hướng phát triển, quan điểm chỉ đạo của
Đảng, phương hướng và giải pháp chung để nâng cao chất lượng GD - ĐT
đáp ứng yêu cầu của xã hội ở thế kỷ XXI.

4
Trực tiếp bàn về GDĐH trong những năm gần đây đã có nhiều tác giả
với các công trình nghiên cứu được xuất bản thành sách.
-“Phát triển nguồn nhân lực GDĐH Việt Nam”, TS Đỗ Minh Cương
và GS, TS. Nguyễn Thị Doan - Chủ biên, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,
2001. Hai tác giả đã đi sâu phân tích đặc điểm thực trạng và yêu cầu của xã
hội đối với chất lượng nguồn nhân lực GDĐH nước ta hiện nay. Trên cơ sở
đó, các tác giả đã khẳng định: Cần thực hiện đồng bộ những giải pháp có ý

xác định chức năng “kép” của ĐNGV Đại học. Họ vừa là người trực tiếp
giảng dạy, vừa thực hiện NCKH. Đó là lực lượng quan trọng đòi hỏi không
ngừng được bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ … đáp ứng
yêu cầu của sự nghiệp CNH, HĐH đất nước.
-Đề tài KX -03-09, trong đó có đề tài nhánh “Trí thức trẻ và sinh viên”
do PGS Bùi Khắc Việt chủ biên. Đối tượng nghiên cứu của đề tài là đội ngũ
trí thức trẻ trong các trường đại học, cao đẳng và các thế hệ sinh viên với tư
cách là nguồn bổ sung nhân lực cho đội ngũ trí thức.
-“Trí thức GDĐH Việt Nam trong thời kỳ đẩy mạnh CNH-HĐH” của
Tiến sĩ Nguyễn Văn Sơn, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002 . Cuốn sách
tập trung nghiên cứu đội ngũ trí thức GDĐH với tư cách là bộ phận đặc thù
của trí thức Việt Nam. Tác giả đi sâu luận giải về quá trình hình thành, phát
triển cũng như đặc điểm, vai trò, cơ cấu của đội ngũ này đồng thời phát hiện
những bất cập về trình độ, năng lực của đội ngũ trí thức GDĐH Việt Nam
trước yêu cầu của thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước. Không chỉ dừng lại
ở đó, tác giả còn bước đầu đưa ra các giải pháp nhằm xây dựng đội ngũ trí thức
GDĐH Việt Nam: giỏi về chuyên môn, vững về nghiệp vụ, sáng về đạo đức.

6
-Luận án PTS Triết học của Phan Thanh Khôi “Động lực của trí thức
lao động sáng tạo ở nước ta hiện nay”, Hà Nội, 1992 cũng đi sâu luận giải
những chính sách xã hội với tư cách là đòn bẩy tạo động lực vật chất và tinh
thần để đội ngũ trí thức lao động sáng tạo ở nước ta phát huy hơn nữa tính
tích cực, chủ động đáp ứng đòi hỏi ngày càng cao của thực tiễn.
Bên cạnh các công trình, đề tài nghiên cứu, luận văn, luận án còn có
khá nhiều những bài viết độc lập của các nhà khoa học đã được công bố trên
sách, báo, tạp chí… trực tiếp bàn đến ĐNGV ở các trường đại học và cao
đẳng, như:
“Giảng viên với việc nâng cao chất lượng bài giảng” của Phạm Đình
Đạt, Tạp chí Khoa học Chính trị, 2001, số 6

ĐNGV trong GD- ĐT.
- Khảo sát thực trạng phát huy vai trò của đội ngũ này trong GD - ĐT
ở ĐHTN những năm gần đây.
- Phát hiện những vấn đề đang đặt ra để xác định phương hướng và đề
xuất giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao, phát huy vai trò của ĐNGV trong GD -
ĐT ở ĐHTN thời gian tới.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu:
Vai trò của ĐNGV trong GD - ĐT ở ĐHTN .
* Phạm vi nghiên cứu
- Luận văn chỉ tập trung nghiên cứu, khảo sát việc phát huy vai trò của
ĐNGV trong GD - ĐT ở ĐHTN.
-Về thời gian: Luận văn chỉ đề cập đến giai đoạn từ năm 2000 đến
nay.
5. Cơ sở lý luận, thực tiễn và phƣơng pháp nghiên cứu

8
- Luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận của Chủ nghĩa Mác-
Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm, đường lối của Đảng, pháp luật
của nhà nước về con người, phát huy nhân tố con người, về GD - ĐT, đội
ngũ trí thức, nhà giáo.
- Luận văn còn kế thừa hợp lý những kết quả nghiên cứu lý luận của
các tác giả trong và ngoài nước.
- Cơ sở thực tiễn của luận văn là tình hình thực trạng ĐNGV về cơ
cấu, chất lượng, việc phát huy vai trò của đội ngũ này trong GD - ĐT ở
ĐHTN từ năm 2000 đến nay.
- Thực hiện luận văn, tác giả chủ yếu sử dụng phương pháp duy vật
biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, phương pháp lôgíc
- lịch sử và các phương pháp có tính liên ngành: phân tích, tổng hợp, so
sánh, thống kê, điều tra xã hội học để làm rõ vấn đề nghiên cứu.


1.1. Đội ngũ giảng viên - bộ phận đặc thù của trí thức giáo dục đại học
1.1.1. Quan niệm về trí thức GDĐH
Trí thức là thuật ngữ có nguồn gốc từ tiếng Latinh: "Intelligentia"
("Intelligens" là thông minh, có trí tuệ, có hiểu biết). "Intelligentia" là trí lực,
trí thức.
Trong suốt tiến trình phát triển của lịch sử nhân loại, thuật ngữ trí thức
đã được tiếp cận ở nhiều khía cạnh. Do vậy, quan niệm về trí thức cũng rất
phong phú ở mỗi thời đại và từng giai đoạn lịch sử. Hiện nay trên thế giới,
theo thống kê có hơn 60 định nghĩa về trí thức.
Tiếp cận thuật ngữ trí thức ở khía cạnh phương thức lao động, cơ cấu,
thành phần, theo từ điển Triết học (năm 1986): "Trí thức là tập đoàn xã hội;
gồm những người làm nghề lao động trí óc. Giới trí thức bao gồm kỹ sư, kỹ
thuật viên, thầy thuốc, luật sư, nghệ sĩ, thầy giáo và người làm công tác khoa
học, một bộ phận lớn viên chức" [82, tr.598].
Từ điển Chủ nghĩa Cộng sản khoa học (năm 1986) viết: "Trí thức -
một nhóm xã hội, bao gồm những người chuyên làm nghề lao động trí óc
phức tạp và có học vấn chuyên môn cần thiết cho ngành lao động đó [83, tr.
360].
V.I. Lênin quan niệm: Trí thức "bao hàm không những chỉ những nhà
trước tác mà thôi, mà còn bao hàm tất cả mọi người có học thức, các đại biểu
của những nghề tự do nói chung, các đại biểu của lao động trí óc" [48, tr.372].

11
Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: "Lao động trí óc là ai? Là thầy
giáo, thầy thuốc, kỹ sư, những nhà khoa học, văn nghệ, những người làm bàn
giấy có nhiệm vụ rất quan trọng trong sự nghiệp kháng chiến kiến quốc,
trong công cuộc hoàn thành cách mạng dân chủ mới để tiến lên chủ nghĩa xã
hội" [56; tr.202 - 203].
Nhấn mạnh tiêu chí về tính chất lao động, TS Nguyễn Thanh Tuấn cho

được các kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo trong lý thuyết và thực tiễn, tạo ra năng
lực để thực hiện thành công một hoạt động xã hội (nghề nghiệp) cần thiết"
[72; tr.14].
Như vậy, GD - ĐT được hiểu là quá trình hoạt động, tác động có mục
đích, có tổ chức của nhà giáo dục trang bị những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo;
hình thành và rèn luyện phẩm chất cho người học để mỗi người thực hiện tốt
ngành nghề, nhiệm vụ của mình.
Trí thức GD - ĐT là "những người trí thức hoạt động trong lĩnh vực
giáo dục và đào tạo, có chức năng chủ yếu là trực tiếp truyền bá tri thức văn
hóa, rèn luyện nhân cách cho người học, nhằm nâng cao dân trí, phát triển
nguồn nhân lực và bồi dưỡng nhân tài cho đất nước" [72; tr.16].
Sự nghiệp GD - ĐT ở nước ta được đảm bảo thực hiện thông qua hệ
thống giáo dục quốc dân, bao gồm: Giáo dục mầm non, Giáo dục phổ thông,
Giáo dục nghề nghiệp, GDĐH.
GDĐH bao gồm tất cả các loại hình học tập, đào tạo hoặc đào tạo cho
nghiên cứu, được bảo đảm ở trình độ sau trung học bởi một cơ sở đại học hoặc
được những nhà chức trách có thẩm quyền công nhận như một cơ sở đại học.

13
GDĐH có hai bậc: Đại học và sau đại học. GDĐH là cơ sở đào tạo
nhân lực trình độ cao, có phẩm chất chính trị, đạo đức, có ý thức phục vụ
nhân dân, có kiến thức và năng lực thực hành nghề nghiệp tương xứng với
trình độ đào tạo, có sức khỏe đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ tổ quốc.
Trí thức GDĐH là những người trực tiếp tham gia công tác GD - ĐT ở
bậc cao nhất trong hệ thống giáo dục quốc dân (bậc đại học), bao gồm: Cán bộ
quản lý, cán bộ nghiên cứu, CBGD góp phần đào tạo nguồn nhân lực trình độ
cao đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp CNH, HĐH đất nước và tiến trình hội nhập.
Với tư cách là một bộ phận của trí thức Việt Nam, trí thức GDĐH là
những người tiêu biểu cho lớp trí thức xã hội chủ nghĩa, họ mang trong mình
đầy đủ những tố chất cơ bản của người trí thức nói chung: lao động trí óc

12/1998) tại điều 91 nêu rõ khái niệm nhà giáo "là người làm nhiệm vụ giảng
dạy, giáo dục trong nhà trường hoặc các cơ sở giáo dục khác. Nhà giáo phải
có những tiêu chuẩn sau: phẩm chất, đạo đức, tư tưởng tốt; đạt trình độ
chuẩn được đào tạo về chuyên môn, nghiệp vụ; đủ sức khỏe theo yêu cầu
nghề nghiệp; lý lịch bản thân rõ ràng. Nhà giáo dạy ở cơ sở giáo dục mầm
non, giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp gọi là giáo viên; ở cơ sở giáo
dục đại học và sau đại học gọi là giảng viên".
Tiêu chuẩn nghiệp vụ các ngạch công chức bậc đại học, đã chỉ rõ:
"Giảng viên có chức trách là công chức chuyên môn đảm nhiệm việc giảng
dạy và đào tạo ở bậc đại học, cao đẳng thuộc một chuyên ngành đào tạo của
trường đại học hoặc cao đẳng".
Như vậy, giảng viên là nhà giáo làm nhiệm vụ giảng dạy trong các
trường đại học, cao đẳng. Họ không chỉ có nhiệm vụ truyền thụ tri thức khoa
học; hình thành kỹ năng, kỹ xảo cho sinh viên mà họ còn là những người
"dạy sinh viên cách học và cách đưa ra sáng kiến cho công việc", hình thành

15
và phát triển năng lực, phẩm chất cho sinh viên nhằm đạt mục tiêu: "Đào tạo
con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, có tri thức, có sức
khỏe, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và
chủ nghĩa xã hội".
Mỗi giảng viên không chỉ hoạt động nghề nghiệp với tư cách là cá
nhân riêng lẻ, mà họ còn là thành viên trong tập thể các nhà giáo, là lực
lượng cấu thành ĐNGV.
Theo từ điển tiếng Việt, "đội ngũ là khối đông người cùng chức năng
nghề nghiệp được tập hợp và tổ chức thành một lực lượng" [84; tr.17].
Tác giả Đặng Quốc Bảo nhận định: "đội ngũ là một tập thể người gắn
kết với nhau cùng chung lý tưởng, mục đích, ràng buộc nhau về vật chất, tinh
thần và hoạt động theo một nguyên tắc" [12, tr.6].
Theo tác giả Trần Thanh Giang, "đội ngũ được hiểu là tập hợp những

Mỗi giảng viên có thể đóng nhiều vai trò: vừa là nhà quản lý, vừa là
CBGD hay cán bộ NCKH, thậm chí còn là nhà chính trị. Nhưng dù ở chức
danh nào cũng đòi hỏi phải có chuyên môn sâu và gắn với tiêu chí trực tiếp
tham gia giảng dạy, NCKH. Vì vậy, thường xuyên bồi dưỡng nâng cao trình
độ học vấn, chuyên môn là trách nhiệm của mỗi giảng viên.
Hoạt động lao động sáng tạo của ĐNGV có đối tượng là thanh niên,
sinh viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh. Đó là những người đã bắt
đầu hoặc đã có khả năng so sánh, bình luận, đánh giá, tự lựa chọn và có trình
độ nhận thức nhất định. Do vậy, dạy những gì và dạy như thế nào để họ tiếp
thu một cách chủ động, ham học, say mê và tích cực nghiên cứu trở thành
mục đích của PPGD. Điều đó đòi hỏi ĐNGV phải có bản lĩnh chính trị vững
vàng, không ngừng trau dồi kiến thức sâu, rộng và tích lũy kinh nghiệm, rèn
luyện bản lĩnh khoa học (gồm trình độ chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp,

17
năng lực tư duy khoa học ). Đây là nhiệm vụ thường xuyên, cấp bách, lâu
dài biểu hiện thành thói quen, thành nhu cầu "học suốt đời" của toàn thể
ĐNGV.
Lao động của ĐNGV cũng như lao động của các nhà giáo nói chung là
loại lao động sáng tạo, lao động trí óc, có cả một số yếu tố độc hại từ bụi
phấn, từ việc sử dụng hóa chất, điện cao áp và căng thẳng đặc thù do
thường xuyên phải suy ngẫm, tìm tòi, nghiên cứu
Lao động của giảng viên là "loại lao động có mức độ đơn điệu khá cao
về tư thế; cử động của mắt khi quan sát, theo dõi; của miệng khi giảng giải;
của tay khi viết" [22; tr.6]. Khắc phục sự đơn điệu này đòi hỏi phải đổi mới
phương pháp dạy học phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của thầy và trò.
ĐNGV đại học còn không đồng nhất về đơn vị công tác: giảng dạy và
đào tạo ở các trường đại học hoặc cao đẳng khác nhau. Vì vậy, đoàn kết đội
ngũ này trong việc thực hiện nhiệm vụ GD - ĐT là vấn đề quan trọng.
Tham gia giảng dạy và NCKH là hai mặt, hai nhiệm vụ song hành,

học viên; là kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp của những nhà giáo, những thầy
thuốc, kỹ sư, công nhân, những chuyên gia, những nhà khoa học trong tương
lai. Mặt khác, bản thân một nhà giáo không thể tự tạo nên "sản phẩm" hoàn
thiện, trái lại họ phải được tổ chức thành lực lượng thống nhất, đoàn kết mới
có thể hình thành và phát triển nhân cách người học. Hơn nữa, chất lượng
của loại lao động càng cao, càng quý và phụ thuộc chủ yếu vào trình độ, mức
độ toàn tâm, toàn ý của tập thể nhà giáo. Vì lẽ đó, ĐNGV ngoài năng lực sư
phạm còn phải có tâm huyết với nghề.
Trên đây là một số đặc điểm tuy chưa đầy đủ nhưng là những đặc
điểm cơ bản được hình thành do tính đặc thù trong hoạt động GD - ĐT ở bậc

19
đại học của ĐNGV. Đó cũng là những tiêu chí cần thiết để phân định giảng
viên với trí thức nói chung.
1.2. Vai trò của ĐNGV trong GD - ĐT
"Tôn sư trọng đạo"; “trọng học, trọng thầy” vốn là một quan điểm cơ
bản và là truyền thống văn hóa của dân tộc Việt Nam.
Từ xa xưa, trong dân gian đã truyền tụng câu ca dao: "Muốn khôn thì
phải có thầy, không thầy dạy dỗ đố mày làm nên"; "Muốn sang thì bắc cầu
kiều, muốn con hay chữ thì yêu lấy thầy"
Ngay từ những ngày đầu cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng
định vai trò quan trọng có tính quyết định của GD - ĐT đối với tương lai của
dân tộc. Bác nói: "Dân tộc Việt Nam ta có truyền thống hiếu học, tôn sư
trọng đạo, quý trọng thầy giáo. Nghề thầy giáo là nghề cao quý. Vì lợi ích
mười năm thì phải trồng cây. Vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người. Bác
mong các cô, các chú luôn xứng đáng với nghề thầy giáo của mình".
Cố thủ tướng Phạm Văn Đồng cũng từng ca ngợi: "Nghề dạy học là
nghề cao quý nhất trong các nghề cao quý, sáng tạo nhất trong các nghề sáng
tạo". "Vượt lên hoàn cảnh đất nước còn nghèo, còn nhiều khó khăn, thiếu
thốn, ngành GD - ĐT Việt Nam đã cung cấp cho xã hội một đội ngũ trí thức

nhà. Bởi lẽ chất lượng đào tạo là sự biểu hiện kết quả tổng hợp các yếu tố,
các mặt hoạt động, các nguồn lực của trường đại học: giảng viên, chương
trình, nội dung kiến thức, PPGD, công tác quản lý giảng dạy - học tập,
NCKH, cơ sở vật chất kỹ thuật Xét đến cùng, chất lượng đào tạo đại học
phụ thuộc rất lớn vào ĐNGV, vì phần lớn các yếu tố trên đây đều có xuất
phát điểm và liên quan trực tiếp đến nhà giáo. Mặt khác, mọi nguồn lực của
nhà trường, của xã hội chỉ đóng vai trò hỗ trợ, tiếp sức, tạo điều kiện để nhà

21
giáo thực hiện chức năng cao quý của mình là đào tạo thế hệ trẻ thành những
nhân tài - chủ nhân của đất nước. Hơn nữa, chỉ có ĐNGV mới giải quyết
được thách thức của chất lượng GDĐH với việc trực tiếp đào tạo nguồn nhân
lực trình độ cao. Họ là lực lượng xung kích, là những chiến sỹ trên mặt trận
nâng cao chất lượng đào tạo đại học hiện nay hướng vào mục tiêu: tạo bước
chuyển mạnh về phát triển nguồn nhân lực, đưa GDĐH nước ta thoát khỏi
tình trạng lạc hậu so với các nước trong khu vực; góp phần vào sự nghiệp
CNH, HĐH đất nước, từng bước phát triển nền kinh tế tri thức. Chức năng
chính của họ là truyền thụ kiến thức, rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp
tương ứng, dạy cách ứng xử, giáo dục hành vi, phát hiện và bồi dưỡng nhân
tài Không những thế, mỗi nhà giáo với trọng trách của người kỹ sư tâm hồn
còn phải gieo vào lòng thế hệ trẻ niềm đam mê học tập, trí tiến thủ lập
nghiệp, khát vọng và nhu cầu kiếm tìm chân lý mới. Chức năng ấy không hề
thay đổi trước những biến động của đời sống xã hội nhưng vai trò của
ĐNGV trong việc thực hiện chức năng của mình đã có những thay đổi nhất
định: họ phải thật sự chủ động, tích cực, sáng tạo trong toàn bộ hoạt động
giảng dạy và NCKH. Nói vai trò chủ động, tích cực, sáng tạo của ĐNGV là
để xác định mức độ, trạng thái hăng hái, nhiệt tình, say mê gắn liền với khả
năng tự ý thức, tinh thần trách nhiệm cao, với tư duy không ngừng đổi mới
PPGD.
Vai trò, nhiệm vụ của ĐNGV ngày càng quan trọng, phức tạp hơn khi

chỉ để chúng ta nhớ lại sự chỉ đạo sâu sát của Người với vấn đề trọng dụng
người thầy mà quan trọng hơn, nó cho phép chúng ta có thêm cơ sở để khẳng
định vai trò chủ động, tích cực, sáng tạo của người thầy trong sự nghiệp giáo
dục. ĐNGV đại học lại cần thấm nhuần tư tưởng đó hơn ai hết, nhất là trong
bối cảnh hiện nay, khi mà họ chính là lực lượng có sứ mạng đi đầu để tiến

Trích đoạn Đại học Thái Nguyên trong tiến trình nâng cao chất lƣợng đào tạo Những thành tựu đạt được Những hạn chế Giáo dục nâng cao ý thức, tinh thần trách nhiệm, phẩm chất chính trị và đạo đức của
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status