Bộ giáo dục và đào tạo
Quan điểm triết học mác - lênin về mối quan hệ giữa
kinh tế và chính trị - sự vận dụng của Đảng ta
trong sự nghiệp đổi mới đất nớc hiện nay
Luận văn cử nhân triết học
Năm 2007
2
Bộ giáo dục và đào tạo
Quan điểm triết học mác - lênin về mối quan hệ giữa
kinh tế và chính trị - sự vận dụng của Đảng ta trong
sự nghiệp đổi mới đất nớc hiện nay
Chuyên ngành : Triết học
Mã số
: 60 22 80
Luận văn cử nhân triết học
Bảng chữ viết tắt
Chữ viết đầy đủ
Chủ nghĩa xã hội
Lực lợng sản xuất
Quan hệ sản xuất
Xã hội chủ nghĩa
17
Sự vận dụng mối quan hệ giữa kinh tế và
chính trị của Đảng ta trong sự nghiệp
đổi mới đất nớc hiện nay
27
4
2.1. Sự vận dụng mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị của
Đảng ta - lôgíc và lịch sử
27
2.2. Một số vấn đề có tính nguyên tắc trong đổi mới kinh tế
và đổi mới chính trị ở nớc ta hiện nay
44
Kết luận
52
Danh mục tài liệu tham khảo
54
Mở đầu
Trong khi đó, chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch ra sức lợi dụng
thiếu sót của quá trình đổi mới, mặt trái của kinh tế thị trờngđể khoét sâu
chống phá cách mạng nớc ta về mọi mặt, đặc biệt trên lĩnh vực kinh tế và
chính trị. Cách mạng Việt nam đã lâm vào khủng hoảng kinh tế- xã hội kéo
dài trong những năm trớc đổi mới.
Hiện nay, đất nớc đang trên đà đổi mới, hội nhập ngày càng sâu rộng
vào đời sống kinh tế thế giới, cơ hội và thách thức đã và đang đặt ra ngày
càng phức tạp. Vấn đề nhận thức và vận dụng mối quan hệ giữa kinh tế và
chính trị, đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị đang trở nên quan trọng hơn
bao giờ hết đối với Đảng, Nhà nớc và cả hệ thống chính trị.
Từ suy nghĩ đó, tôi chọn vấn đề nghiên cứu: Quan điểm triết học
Mác - Lênin về mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị- Sự vận dụng của
Đảng ta trong sự nghiệp đổi mới đất nớc hiện nay để làm đề tài luận văn
tốt nghiệp.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
6
Trớc yêu cầu bức xúc của công cuộc đổi mới, mối quan hệ giữa kinh
tế và chính trị và những vấn đề đặt ra xung quanh mối quan hệ này là một
đề tài thu hút sự quan tâm của nhiều nhà lý luận, đã có nhiều công trình
nghiên cứu đợc công bố theo những hớng khác nhau. Chẳng hạn : Những
yêu cầu của lãnh đạo chính trị đối với nền kinh tế thị trờng theo định hớng
xã hội chủ nghĩa ở nớc ta của PTS Nguyễn Đăng Thành, Tạp chí Cộng sản,
số 3/ 1997 ; Mối quan hệ giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thợng tầng chính
trị trong thời kỳ phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần ở Việt
Nam, do PGS, PTS Trần Phúc Thăng (chủ biên), Nxb Lao động, Tháng
1/2000 ; Quan hệ giữa kinh tế thị trờng và chính trị ở nớc ta của Khổng
Doãn Hợi, Tạp chí Cộng sản, số 6/1993
hội, mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thợng tầng của
chủ nghĩa Mác - Lênin, những quan điểm của Đảng ta về mối quan hệ giữa
kinh tế và chính trị trong sự nghiệp đổi mới.
* Phơng pháp nghiên cứu :
Vận dụng tổng hợp phơng pháp luận của CNDVBC và CNDVLS. Tiếp
cận phơng pháp lôgíc, lịch sử, phân tích, tổng hợp, khái quát từ thực tiễn quá
trình nhận thức và vận dụng của Đảng ta trong sự nghiệp đổi mới.
6. ý nghĩa của đề tài
- Luận văn góp phần làm sáng tỏ cơ sở lý luận khoa học và thực tiễn của
mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị và sự vận dụng của Đảng ta trong sự nghiệp
đổi mới.
- Có thể làm tài liệu tham khảo, phục vụ cho học tập, nghiên cứu cho học
viên và giáo viên các nhà trờng.
7. Kết cấu của luận văn
Luận văn gồm : Phần mở đầu, 2 chơng ( 4 tiết ), kết luận, danh mục tài
liệu tham khảo.
8
Chơng 1
Thực chất quan điểm triết học mác - lênin về
mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị - cơ sở
lý luận khoa học và thực tiễn
1.1. Thực chất quan điểm triết học Mác - Lênin về mối quan hệ
giữa kinh tế và chính trị
1.1.1. Khái niệm kinh tế và chính trị
Khái niệm kinh tế
Những ý niệm sơ khai về kinh tế đã đợc manh nha ở Châu Âu thời kỳ
cổ đại và trung đại. Lúc đầu, thuật ngữ kinh tế đợc dùng để chỉ nghệ thuật
bản cấu thành LLSX: ngời lao động, t liệu sản xuất. Sức lao động đợc vận
dụng trong quá trình lao động - một loại hoạt động có mục đích, có ý thức
diễn ra trong mối quan hệ giữa con ngời với tự nhiên và giữa con ngời với
nhau nhằm thay đổi những vật thể tự nhiên cho phù hợp với yêu cầu của con
ngời. Trong quá trình lao động, ngời ta một mặt tác động vào tự nhiên, mặt
khác lại tác động lẫn nhau, có quan hệ với nhau để sản xuất ra của cải vật
10
chất. Vì thế quá trình sản xuất ra của cải vật chất sẽ làm nảy sinh quan hệ
kép: quan hệ giữa ngời với ngời và quan hệ giữa ngời với tự nhiên. Hai loại
quan hệ đó tạo thành hai mặt của phơng thức sản xuất: quan hệ sản xuất và lực
lợng sản xuất. Sự tơng tác qua lại giữa chúng chính là nguồn gốc căn bản nhất
của mọi tiến trình lịch sử, nó quyết định sự thay thế một hình thái kinh tế - xã
hội này bằng một hình thái kinh tế xã hội khác cao hơn.
Trong suốt quá trình phát triển của lịch sử tởng nhân loại trớc đó, cha ai đa
ra đợc khái niệm về kinh tế một cách khoa học. Chỉ đến khi lý luận của C.Mác ra
đời mới đa ra định nghĩa khoa học về vị trí của kinh tế trong sự phát triển xã hội.
C.Mác chỉ ra: Trong sự sản xuất ra đời sống của mình, con ngời ta có những
mối quan hệ nhất định tất yếu, không tùy thuộc vào ý muốn của họ - tức những
quan hệ sản xuất, quan hệ này phù hợp với một trình độ phát triển nhất định của
lực lợng sản xuất vật chất, cơ cấu kinh tế của xã hội tức là cơ sở hiện thực, trên
đó xây dựng lên một kiến trúc thợng tầng pháp lý và chính trị và tơng ứng với
cơ sở hiện thức đó thì có những hình thái kinh tế-xã hội nhất định. Phơng thức
sản xuất đời sống vật chất quyết định các quá trình sinh hoạt xã hội, chính trị và
tinh thần nói chung [14, tr.593]. Nói cách khác, sự tác động qua lại, giữa lực lợng sản xuất và quan hệ sản xuất có tính quyết định sự tồn tại và phát triển của
các hình thái kinh tế - xã hội.
Kế thừa những t tởng trên, với lập trờng của chủ nghĩa DVLS có thể
hiểu: Kinh tế là tổng thể các quan hệ sản xuất trong lịch sử phù hợp với mỗi
của cải và sự tùy tiện. C.Mác gắn chính trị với Nhà n ớc. Trong tác phẩm:
Góp phần phê phán triết học pháp quyền Hê-ghen, ông viết: Toàn bộ sự
tồn tại của các đẳng cấp từ thời trung cổ đều là sự tồn tại chính trị, sự tồn
tại của chúng là sự tồn tại của Nhà nớc [13, tr.418]. C.Mác cũng chỉ rõ:
Linh hồn chính trị của cách mạng là nguyện vọng của giai cấp không có
ảnh hởng chính trị muốn thủ tiêu sự cô lập của mình với Nhà nớc và với
quyền thống trị [13, tr.615]. Khi vạch ra tính chất phản động của chính
trị t sản đơng thời, C.Mác và Ph.Ăngghen đã nhấn mạnh tầm quan trọng
12
của việc giai cấp công nhân và đảng cộng sản soạn thảo ra một đ ờng lối
chính trị độc lập. Chính trị nh thế, theo các ông, cần phải góp phần củng
cố hòa bình và hữu nghị giữa các dân tộc, bảo vệ thành quả cách mạng của
nhân dân và lấy việc giải phóng con ngời làm mục tiêu cơ bản của mình.
Theo V.I.Lênin, chính trị là mối quan hệ giữa các giai cấp, là sự tham
gia của hớng hoạt động nhà nớc, định hớng hoạt động nhà nớc, xác định
hình thức, nhiệm vụ, nội dung hoạt động nhà nớc. Bất kỳ hoạt động nào
cũng có tính chất chính trị, nếu nh việc giải quyết nó trực tiếp hay gián tiếp
gắn với lợi ích giai cấp, gắn với quyền lực chính trị. V.I.Lênin đ a ra định
nghĩa nổi tiếng: Chính trị là quan hệ giữa các giai cấp [12, tr.87]. Chính
trị là cuộc đấu tranh giai cấp, là chuyên chính của giai cấp này với giai cấp
khác, là sự tập trung vào nhiệm vụ phá hoại di sản của xã hội cũ hay xây
dựng một xã hội mới. Nói tóm lại, chính trị là quan điểm, nhận thức, t tởng,
thái độ và hành vi, hoạt động của giai cấp này với giai cấp khác.
Từ đó V.I.Lênin chỉ ra rằng, chính trị của giai cấp vô sản sau khi giành
đợc chính quyền về tay mình là xây dựng xã hội mới đem lại cơm ăn, áo mặc,
ấm no hạnh phúc cho đại đa số nhân dân. V.I.Lênin vạch rõ: Chính trị chủ
yếu của chúng ta lúa này là xây dựng Nhà nớc về mặt kinh tế để tích góp đợc
quan hệ biện chứng giữa chúng.
Chỉ đến khi chủ nghĩa Mác - Lênin ra đời mối quan hệ biện chứng
giữa kinh tế và chính trị mới đợc nghiên cứu và luận giải một cách khoa
học. Trên lập trờng duy vật về lịch sử, các nhà triết học mácxít khẳng định :
kinh tế và chính trị có mối quan hệ chặt chẽ, tác động biện chứng với nhau.
Trong đó kinh tế là tính thứ nhất, chính trị là tính thứ hai, là cái phản ánh
của kinh tế. Các quan hệ kinh tế và cơ cấu kinh tế là nền móng trên đó xây
dựng lên một kiến trúc thợng tầng pháp lý, chính trị tơng ứng. Ngợc lại, thợng tầng chính trị pháp lý cũng có tác động mạnh mẽ tới sự vận động và
phát triển của kinh tế. Nghiên cứu sự vận động và phát triển của xã hội loài
ngời từ khi có giai cấp đến nay các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác Lênin đã làm sáng tỏ thực chất mối quan hệ biện chứng giữa kinh tế và
14
chính trị thông qua việc đa ra hai luận điểm cơ bản: Chính trị là biểu hiện
tập trung của kinh tế và Chính trị không thể không chiếm địa vị hàng đầu
so với kinh tế [11, tr.349]. Từ hai luận điểm này có thể thấy rõ mối quan hệ
biện chứng giữa kinh tế và chính trị.
Thứ nhất, kinh tế quyết định chính trị, chính trị là biểu hiện tập
trung của kinh tế. Có nghĩa là so với kinh tế, chính trị là sự phản ánh, là
tính thứ hai, không có những quan hệ chính trị và quy luật chính trị độc
lập tuyệt đối với các quan hệ và quy luật kinh tế. Kinh tế là gốc của chính
trị, chính trị do kinh tế quyết định và là sự biểu hiện tập trung của kinh
tế, nó phản ánh nền kinh tế. Sự ra đời, tồn tại và phát triển của chính
trị là do những đòi hỏi khách quan của sự phát triển kinh tế, của thực
trạng kinh tế, của sự liên hệ những lợi ích căn bản của các giai cấp,
tầng lớp khác nhau trong nền kinh tế. Tơng ứng với một trình độ phát
triển nhất định về kinh tế có một cơ cấu, thể chế chính trị t ơng ứng nh
thế ấy. Sự biến đổi, phát triển của kinh tế là nguồn gốc sâu xa của mọi
biến đổi xã hội.
cả những cái còn lại đến chỉ là hậu quả thụ động [16, tr.271]. Nói về vai
trò của chính trị với kinh tế V.I Lênin đã khái quát và nhấn mạnh: Chính
trị không thể không chiếm vị trí hàng đầu so với kinh tế. Điều đó có
nghĩa là: để tổ chức và xây dựng một trật tự xã hội mới, một nền kinh tế
mới thì trớc hết phải tiến hành cách mạng chính trị, phải nắm tr ớc quyền
lực chính trị. Bởi vì, sự vận động của kinh tế chịu sự tác động của chính
trị của quyền lực chính trị, quyền lực chính trị là công cụ mạnh mẽ nhất
để bảo vệ chế độ xã hội. Sự thống trị về chính trị của một giai cấp nhất
định là điều kiện đảm bảo cho giai cấp thực hiện đợc sự thống trị về kinh
tế. Giai cấp nào cầm quyền cũng hớng kinh tế phát triển theo lập trờng
chính trị của giai cấp đó nhằm phục vụ cho mục tiêu kinh tế - xã hội. Do
16
vậy, để phát triển kinh tế cần quan tâm đến chính trị đặc biệt là định h ớng chính trị của Đảng cầm quyền và bộ máy Nhà nớc. V.I.Lênin viết:
Không có một lập trờng chính trị đúng thì một giai cấp nhất định nào đó
không thể giữ vững đợc sự thống trị của mình, và do đó cũng không thể
hoàn thành đợc nhiệm vụ của mình trong lĩnh vực sản xuất [11, tr.350].
Nh vậy, chính trị đóng vai trò lãnh đạo định hớng và tạo môi trờng
chính trị - xã hội ổn định đáp ứng những điều kiện cần thiết cho sự phát triển
kinh tế. Hơn nữa, chính trị còn tham gia vào việc quản lý nền kinh tế, tạo môi
trờng xã hội, giải phóng sức sản xuất, kiểm soát những vấn đề cơ bản, then
chốt của nền kinh tế, điều chỉnh cơ cấu kinh tế, hoạch định chiến lợc phát
triển kinh tế của quốc gia góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế đúng định hớng. Sự tác động của chính trị đối với kinh tế có thể theo những hớng khác
nhau. Thúc đẩy hoặc kìm hãm hoặc vừa thúc đẩy mặt này vừa kìm hãm mặt
kia. Chính trị có thể thay đổi cơ sở kinh tế ở chừng mực nhất định. C.Mác viết
: Tác động ngợc lại của quyền lực Nhà nớc đối với sự phát triển kinh tế có ba
loại. Nó có thể tác động cùng hớng - khi ấy sự phát triển diễn ra nhanh hơn,
nó có thể tác động ngợc lại sự phát triển kinh tế. Khi ấy thì hiện nay ở mỗi dân
Mối quan hệ kinh tế và chính trị là vấn đề lý luận quan trọng, sâu sắc,
thu hút sự quan tâm của nhiều nhà t tởng, nhiều trờng phái triết học khác
nhau. Do vậy, khi lý giải cơ sở của mối quan hệ này cũng có rất nhiều quan
điểm hết sức khác nhau, thậm chí đối lập nhau, đợc phản ánh cuộc đấu
tranh giữa hai thế giới quan duy tâm và thế giới quan duy vật, giữa phép biện
chứng và phép siêu hình.
Xuất phát từ cách hiểu khác nhau về phạm trù vật chất cũng nh việc
lý giải các vấn đề nguồn gốc, bản chất, kết cấu của ý thức, các nhà triết
học và xã hội học duy tâm ra sức bác bỏ nguyên lý của chủ nghĩa duy vật
lịch sử cho rằng cơ sở hạ tầng kinh tế có trớc, còn t tởng thể chế chính trị
và pháp quyền nảy sinh từ cơ sở hạ tầng. Theo họ thì ý thức t tởng đời
sống chính trị - tinh thần của xã hội là cơ sở đề ra quan hệ vật chất, đời
18
sống kinh tế của xã hội. Nh vậy, họ đã đảo lộn hoàn toàn trật tự giữa quan
hệ kinh tế và quan hệ t tởng của xã hội, họ không hiểu rằng quan hệ vật
chất là cái có trớc, có tính quyết định còn hệ t tởng chỉ là sự phản ánh của
quan hệ vật chất, từ quan hệ vật chất mà ra, là quan hệ thuộc kiến trúc th ợng tầng.
Bên cạnh đó, một số nhà xã hội học khác thì lại coi kinh tế và chính trị
nh là hai nhân tố đối lập có tác dụng ngang nhau, tác động qua lại với nhau
nhng lại không có một nhân tố nào là chủ yếu và quyết định cả. Do vậy, họ
đã lẩn tránh trả lời xem cái gì là nguồn gốc, là cơ sở của sự tác động lẫn
nhau giữa các mặt khác nhau trong đời sống xã hội. Trong khi muốn lẩn
tránh giải quyết vấn đề thì họ đi giải thích vấn đề theo lập tr ờng của họ. Họ
cho rằng đạo đức chính là lực lợng quyết định mọi sự biến đổi của xã hội và
họ cho rằng lập luận nh vậy thì sẽ lẩn tránh đợc sự lựa chọn cách trả lời
rằng quan hệ vật chất và quan hệ t tởng cái nào quyết định cái nào. Song với
lập luận đó họ không thể đánh vào chủ nghĩa duy vật lịch sử mà ng ợc lại
chẳng những phải quan hệ với tự nhiên mà còn phải quan hệ với nhau để
trao đổi hoạt động và kết quả lao động. Do vậy, sản xuất luôn mang tính
chất xã hội. Có quan hệ đó, theo triết học Mác - Lênin là những quan hệ
kinh tế - vật chất và chúng tác động, chi phối các quan hệ, các hoạt động
tinh thần của xã hội. Các quan hệ kinh tế có cấu trúc của nó và đời sống
tinh thần (quan điểm chính trị, pháp quyền, đạo đức, tôn giáo) cũng có
những cấu trúc xã hội cụ thể tơng ứng cấu trúc đó vừa có quan hệ nguồn
gốc, vừa có quan hệ nh công cụ bảo vệ, duy trì các yếu tố tinh thần trong
kiến trúc thợng tầng.
Nh vậy chủ nghĩa duy vật lịch sử đã khẳng định quan hệ kinh tế quan
hệ sản xuất là những quan hệ cơ bản quyết định mọi quan hệ xã hội khác về
Nhà nớc, pháp luật, t tởng. Nói cách khác không phải hình thái ý thức t tởng, hình thái chính trị - xã hội quyết định hình thái kinh tế-xã hội mà là
20
hình thái kinh tế - xã hội quyết định quan điểm chính trị, pháp luật, đạo
đức, triết học, nghệ thuật, tôn giáo cùng với thể chế chính trị thích ứng với
những quan điểm đó.
Trong khi khẳng định vai trò quyết định của cơ sở hạ tầng với kiến
trúc thợng tầng, các nhà kinh điển mác xít cũng nhấn mạnh tác động tích
cực của kiến trúc thợng tầng, ảnh hởng trở lại của nó đối với cơ sở hạ tầng.
Toàn bộ kiến trúc thợng tầng cũng nh các yếu tố các lĩnh vực của nó có tính
độc lập tơng đối sự phụ thuộc của chúng vào cơ sở hạ tầng không trực tiếp
và không giản đơn. Nghĩa là kiến trúc thợng tầng không phải là sản phẩm
thụ động của cơ sở hạ tầng mà chúng có khả năng tác động trở lại rất mạnh
mẽ đối với cơ cấu kinh tế xã hội. Sự tác động trở lại của kiến trúc th ợng
tầng đối với cơ sở hạ tầng thể hiện ở chỗ: củng cố, phát triển và bảo vệ cơ
sở hạ tầng sinh ra nó hoặc hớng dẫn cuộc đấu tranh xoá bỏ giai cấp cũ và cơ
sở hạ tầng đã lỗi thời, lạc hậu của xã hội cũ. Chức năng, nhiệm vụ của kiến
Trong thực tiễn phát triển của đời sống xã hội loài ngời, kinh tế luôn là
nhân tố quyết định sự phát triển, tuy nhiên nó không phải là nhân tố năng động
duy nhất. Chế độ chính trị, nhà nớc, pháp luật... đều do sự phát triển của kinh tế
quyết định, nhng sau khi ra đời thì những yếu tố đó ảnh hởng trở lại đến sự phát
triển kinh tế. Những thành tố này có sự ảnh hởng và tác động ở những mức độ
khác nhau hình thức khác nhau với những cơ chế không giống nhau. Trong đó, nhà
nớc có một ảnh hởng trực tiếp và rất to lớn.
Lịch sử phát triển của hình thái kinh tế - xã hội của loài ngời đã chứng
minh, sự tác động của kiến trúc thợng tầng, mà cụ thể ở đây là nhà nớc và pháp
luật đối với sự biến đổi của cơ sở hạ tầng. Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác Lênin chỉ ra rằng nhà nớc có vai trò đặc biệt quan trọng, chi phối đến và trong
nhiều trờng hợp cụ thể quyết định đến khả năng tác động của các thành tố khác
của kiến trúc thợng tầng đến toàn bộ đời sống xã hội nói chung và đến cơ sở hạ
tầng nói riêng.
22
Trong chế độ chiếm hữu nộ lệ và phong kiến, giai cấp thống trị chủ yếu sử
dụng nhà nớc nh một công cụ bạo lực để bảo vệ chế độ sở hữu vốn có tức là duy trì
các quan hệ sản xuất phù hợp với lợi ích của nó. Bởi vì "việc duy trì nguyên vẹn
những phơng thức sản xuất cũ là điều kiện tiên quyết cho sự tồn tại của nó". Trong
chế độ t bản chủ nghĩa, vai trò kiến trúc thợng tầng mà chủ yếu là nhà nớc và pháp
luật có sự thay đổi mạnh mẽ. Vì "giai cấp t sản không thể tồn tại nếu không luôn
luôn cách mạng hoá công cụ sản xuất, do đó cách mạng hoá những quan hệ sản
xuất nghĩa là cách mạng hoá toàn bộ những quan hệ xã hội". Nh vậy giai cấp t sản
không chỉ dùng nhà nớc và bộ máy chống trị của nó để bảo vệ các quan hệ sở hữu
hiện có mà còn luôn điều chỉnh các quan hệ sản xuất sao cho phù hợp với sự phát
triển của lực lợng sản xuất. Chính điều đó đã làm cho CNTB có thể tồn tại, vợt
qua nhiều khủng hoảng trong lịch sử. Sự thành công của cách mạng Tháng Mời
Nga đã tạo bớc ngoặt trong sự phát triển của xã hội loài ngời, đồng thời cũng tạo
bản cứu loài ngời khỏi thảm họa phát xít, góp phần tích cực vào việc tạo
ra cả hệ thống XHCN hùng mạnh...
Với những thành tựu to lớn của Liên Xô trong xây dựng CNXH đã làm
cho nhiều ngời cộng sản có xu hớng đánh giá chủ quan về phong trào cách mạng
thế giới nói chung, phong trào XHCN nói riêng, đánh giá cha đúng CNTB,
không thấy hết khả năng tự điều chỉnh của nó, nhấn mạnh một chiều tính "dãy
chết", "diệt vong" của chủ nghĩa đế quốc hy vọng tiến hành cách mạng vô sản
trực tiếp trên phạm vi toàn thế giới trong lúc so sánh lực lợng cha cho phép. Do
phải đi trớc một bớc nên kiến trúc thợng tầng chính trị của của Liên Xô không đợc xây dựng từ cơ sở kinh tế mà từ những mô hình chung đã có sẵn. Điều đó làm
cho hệ thống chính trị ngày càng trở nên nặng nề, cồng kềnh, nhiều tầng nấc và
kém hiệu quả. Sự nóng vội, duy ý chí trên một số vấn đề về đờng lối và những sai
lầm trong phát triển kinh tế là một trong những nguyên nhân sâu xa dẫn tới sự
sụp đổ cả CNXH ở Liên Xô vào đầu những năm 90 của thế kỷ XX.
Trong tổ chức thực hiện cũng nh việc xác định một số vấn đề về đờng lối
có nhiều biểu hiện chủ quan duy ý chí. Trong báo cáo tổng kết kế hoạch 5 năm
lần 1 (7/1/1943), Xtalin xác định: "Sẽ đuổi và vợt Mỹ trong vòng 10 năm". Nhng
24
thực tế, hết 10 năm và tiếp đó thêm vài thập niên nữa Liên Xô vẫn cha đuổi kịp
Mỹ.
Căn bệnh chủ quan nóng vội còn thể hiện trong xác định không đúng các
giai đoạn trong xây dựng CNXH ở Liên Xô. Mới xây dựng CNXH đợc 39 năm
(1917 - 1956) trong đó có gần 10 năm nội chiến và chiến tranh bảo vệ tổ quốc,
song Đại hội XXII (2/1956) và Đại hội XXIII (3/4/1966) của Đảng cộng sản
Liên Xô đã đề ra đờng lối xây dựng CNCS ở Liên Xô và dự định hoàn thành nó
trong 20 năm. Trên thực tế, ở Liên Xô bấy giờ cha có đủ cơ sở vật chất - kỹ thuật
cũng nh lực lợng để tổ chức và thực hiện mục tiêu trên. Vì thế, đờng lối xây dựng
CNCS và dự định hoàn thành nó trong 20 năm do Đại hội XXII của Đảng cộng
CNXH ở Liên Xô sau này.
Khi đánh giá về sự sụp đổ này không thể quy toàn bộ sự tan rã của hệ
thống XHCN trớc đây có nguyên nhân từ khả năng nhận thức cũng nh việc
vận dụng mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị trong quá trình xây dựng
CNXH. Cũng không thể xem sự đổ vỡ này chỉ do những nguyên nhân bên
trong mà không kể đến sự phá hoại, tiến công từ bên ngoài. Mặc dù vậy, cũng
phải thừa nhận rằng, những mâu thuẫn gay gắt và kéo dài giữa kinh tế và
chính trị là một trong những nguyên nhân quan trọng nhất dẫn tới sự sụp đổ
của CNXH vào những năm 70 và 80 của thế kỷ XX.
ở Việt Nam, sự nghiệp xây dựng CNXH đã thu đợc những thành tựu
quan trọng. Đất nớc sau hàng trăm năm bị thực dân đô hộ và sau những cuộc
kháng chiến khốc liệt chống đế quốc mạnh nh Pháp và Mĩ đã đợc hồi sinh. Sự
nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc trớc đây đã tạo ra những điều
kiện vật chất và tinh thần cho công cuộc giải phóng miền Nam, thống nhất đất
nớc. Hai mơi năm đổi mới đem lai nhữnh kết quả không nhỏ. Đất nớc đã thoát
khỏi khủng hoảng và đã có những tiền đề vật chất và tinh thần để có thể tiến
hành công nghiệp hoá - hiện đại hoá.
Tuy nhiên, đây là một nhiệm vụ đầy thử thách và khó khăn. Trong điều
kiện thế giới có những diễn biến phức tạp, sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện