TIỂU LUẬN:
Học thuyết Mac về hình thái kinh tế – xã hội
và sự vận dụng của đảng ta trong thời kì đổi
mới gắn với hoạt động ngân hàng
A.GIớI THIệU Đề TàI Mọi người đều biết, trong lịch sử tư tưởng nhân loại trước Mác đã có không ít
cách tiếp cận khi nghiên cứu sự phát triển của xã hội. Xuất phát từ những nhận thức
khác nhau, với những ý tưởng khác nhau mà có sự phân chia lịch sử tiến hóa của xã
hội theo những cách khác nhau. Chẳng hạn, nhà xã hội học Vi – cô ở Italia (1668-
1744) đã phân chia các thời kì phát triển của xã hội giống như phân chia các giai
đoạn của một đời người: thơ ấu, thanh niên, thành niên và tuổi già. Nhà triết học duy
tâm Hê-ghen (1770 -1831) phân chia lịch sử xã hội loài người thành ba thời kì chủ
yếu: thời kì phương Đông, thời kì cổ đại và thời kì Giéc- ma- ni . Nhà xã hội chủ
về đường lối chính sách. Nghiên cứu vấn đề đó là một tất yếu khách quan vì nó
không chỉ có ý nghĩa về phương pháp luận mà còn có giá trị lớn trong thực tiễn. B.nội dung đề tài
i.tiền đề lý luận
Chủ nghĩa duy vật lịch sử của Mác như Lênin đánh giá là thành tựu
vĩ đại nhất của tư tưởng khoa học, trong đó cốt lõi là học thuyết hình thái kinh tế-xã
hội. Giai cấp tư bản không thể chấp nhận được học thuyết này vì trong đó đã luận
chứng một cách khoa học chặt chẽ chế độ tư bản sẽ bị thay thế bằng chế độ cộng sản
chủ nghĩa theo quy luật chung của tiến hóa xã hội, mà chủ nghĩa duy vật lịch sử của
Mác đã tìm ra.
Bằng sự nghiêm túc khoa học, chúng ta thấy rằng cho đến nay chưa
có học thuyết nào về tiến hóa xã hội có thể thay thế được học thuyết Mác về hình
thái kinh tế-xã hội. Học thuyết này đem đến cho chúng ta cơ sở phương pháp luận
để nhận thức quy luật phát triển xã hội và một niềm tin khoa học vào lý tưởng cộng
sản chủ nghĩa.
Như vậy, chủ nghĩa duy vật của Mác đã nhìn nhận học thuyết hình
thái kinh tế-xã hội là một quy luật phát triển của xã hội.
Từ đó ta đi tới khái niệm: hình thái kinh tế-xã hội
“ Hình thái kinh tế-xã hội là một phạm trù của chủ nghĩa duy vật lịch
sử dùng để chỉ xã hội ở từng giai đoạn lịch sử nhất định, với một kiểu quan hệ sản
xuất đặc trưng cho xã hội đó phù hợp với một trình độ nhất định của lực lượng sản
xuất và với một kiến trúc thượng tầng tương ứng được xây dựng trên những quan hệ
sản xuất ấy”
Khi nghiên cứu lịch sử phát triển của xã hội xuất phát từ những nhận
thức khác nhau, với những ý tưởng khác nhau mà có sự phân lịch sử tiến hóa của xã
Mỗi hình thái kinh tế- xã hội lại có một kiểu quan hệ sản xuất của nó tương ứng với
một trình độ nhất định của lực lượng sản xuất. Quan hệ sản xuất là một tiêu chuẩn
khách quan để phân biệt xã hội cụ thể này với xã hội khác, đồng thời tiêu biểu cho
một giai đoạn phát triển nhất định của của lịch sử.
Xuyên tạc, cắt xén nội dung học thuyết để phủ nhận học thuyết.
Điển hình của loại quan điểm này là quy lý luận của Mác thành quyết định luật kinh
tế với nghĩa coi kinh tế là yếu tố duy nhất quyết định sự vận động và phát triển của
xã hội. Điều này đã bị chính Ăng Ghen bác bỏ- Dùng chính lý luận hình thái kinh tế-
xã hội để bác bỏ sự ra đời của các nước xã hội chủ nghĩa, cho rằng nó trái với quá
trình lịch sử- tự nhiên rằng cách mạng tháng Mười "Đẻ non" do chỗ dựa chưa có
''tất yếu kinh tế" cứ để qua chế độ tư bản chủ nghĩa rồi tiến lên chủ nghĩa xã hội rồi
chủ nghĩa cộng sản theo đúng quy luật". Lúc còn sống Lênin đã bác bỏ quan điểm
này, song đến nay vẫn tồn tại, kể cả biến thể của nó là loại quan điểm cho rằng chế
độ xã hội chủ nghĩa sụp đổ ở Liên Xô và các nước Đông Âu là do hệ tư tưởng Mác-
Lênin sai trong đó có"lý luận hình thái kinh tế-xã hội". Đối với nước ta những năm
gần đây cũng có một số ý kiến tương tự, cho rằng ta chưa có"tất yếu kinh tế" để lựa
chọn con đường xã hội chủ nghĩa và để bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa.
Bác bỏ gián tiếp: Loại quan điểm này thể hiện dưới dạng: Chứng
minh chủ nghĩa xã hội không có tương lai, tất yếu bị diệt vong. Chủ nghĩa tư bản là
nấc thang cao nhất của lịch sử xã hội, nó tồn tại vĩnh viễn.
Muốn thay thế học thuyết hình thái kinh tế xã hội bằng học thuyết
khác. Điển hình cho loại quan điểm này là tiếp cận theo nền văn minh. Xã hội phát
triển từ nền văn minh nông nghiệp đến văn minh công nghiệp và văn minh hậu công
nghiệp. Sai lầm căn bản của cách tiếp cận này là "coi trình độ phát triển khoa học,
công nghệ, lực lượng sản xuất là yếu tố quyết định duy nhất bỏ qua vai trò của quan
một tổ hợp sinh ra và biến hóa một cách ngẫu nhiên.
Các- Mác đã vận dụng lý luận hình thái kinh tế-xã hội và phân tích xã
hội tư bản, vạch ra các quy luật vận động và phát triển của nó. Từ đó dự báo về sự ra đời của hình thái kinh tế-xã hội cao hơn là: Cộng sản chủ nghĩa mà giai đoạn thấp là
chủ nghĩa xã hội.
Trong công cuộc đổi mới ở nước ta, chúng ta vẫn giữ vững mục tiêu
xã hội chủ nghĩa. Đi lên chủ nghĩa xã hội là phù hợp với xu hướng của thời đại,và
tuy nhiên chúng ta tiến lên chủ nghĩa xã hội từ một nền kinh tế phổ biến là sản xuất
nhỏ, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa nên phải trải qua nhiều khâu trung gian, nhiều
bước quá độ. Chúng ta phải trải qua những bước đi tất yếu mà không thể bỏ qua
được. Chúng ta phải kế thừa và phát triển để tạo ra những tiền đề cần thiết cho chủ
nghĩa xã hội trên tất cả các mặt: từ lực lượng sản xuất đến quan hệ sản xuất, từ cơ sở
hạ tầng đến kiến trúc thượng tầng.
II. Sự nghiệp đổi mới của Đảng HIệN NAY GắN VớI HOạt Động
ngân hàng
1. Thực trạng kinh tế:
1.1 Những thành tựu và tiến bộ
:
Nền kinh tế nước ta tiếp tục phát triển và đạt mức tăng trưởng khá.
Năm 1997, GDP tăng 9% cao hơn bình quân của năm trước là 8,2%.
chăn nuôi, đánh bắt thủy sản, hải sản đều có mức tăng trưởng khá và ổn định.
Về công nghiệp, mặc dù chịu ảnh hưởng của các cuộc khủng hoảng
trên thế giới, cũng như khu vực, thị trường bị thu hẹp, đầu tư nước ngoài giảm
nhưng mức tăng trưởng vẫn duy trỳ trên 10%, đó là một sự cố gắng lớn của toán
ngành công nghiệp. Nhất là sản phẩm quan trọng có nhu cầu lớn và thị trường đạt
mức tăng trưởng khá so với năm 1998: Dầu thô tăng 20,5%, điện tăng 8,2%, thép
tăng 11,8%, may mặc tăng 12%, xe đạp tăng 16,3%, động cơ Diêzen tăng 31%
Các cân đối kinh tế vĩ mô được duy trỳ tạo điều kiện cho phát triển.
Tốc độ tăng trưởng xuất khẩu cao hơn kế hoạch dự kiến, thu hẹp
đáng kể chênh lệch xút nhập khẩu.
Trong điều kiện, bối cảnh kinh tế thế giới giảm sút, thị trường tiêu
thụ bị thu hẹp, giá hầu hết các mặt hàng giảm mạnh nhưng tổng kim ngạch xuất
nhập khẩu cả nước năm 1999 vẫn đạt 10,7 tỷ USD, vượt hai lần so với kế hoạch dự
kiến.
Kim ngạch xuất khẩu cả năm đạt 11,3 tỷ USD giảm 2% so với năm
1998 làm cho mức nhập siêu khoảng 600 triệu USD, bằng 5,6% so với kim ngạch
xuất khẩu. Đây là mức thấp nhất trong nhiều năm qua, nhờ có cán cân thanh toán
quốc tế cả năm có được cải thiện, bội thu khá làm cho dự trữ ngoại tệ được tăng lên.
Trong bối cảnh đầu tư nước ngoài giảm do hậu quả của khủng hoảng
kinh tế, tài chính trong khu vực và trên thế giới, với tư tưởng chỉ đạo của TW4 và
nghị quyết TW6 lần 1, chúng ta đã có một bước tiến trong việc phát huy nội lực để
bù đắp và bổ xung một phần thiếu hụt cho đầu tư phát triển do sự giảm sút của đầu
- Nhịp độ tăng trưởng kinh tế ở mức thấp từ năm 1990 đến nay, cụ
thể: Giai đoạn 1991-1995 GDP tăng 8,2%, năm 1996 tăng 9,3%, năm 1997 tăng
8,2%, năm 1998 tăng 5,8%, năm 1999 GDP chỉ tăng 4,7%-5% và vẫn trên đà giảm
sút, mặc dù nhịp độ giảm sút có chậm lại. Nếu không có biện pháp đủ mạnh “chặn
đà suy giảm và phục hồi nhịp độ tăng trưởng” cao thì khó có khả năng đạt được
những mục tiêu chính sách đến năm 2020 là cơ bản biến nước ta thành nước công
nghiệp và gần đây nhất là các chỉ tiêu kinh tế năm 2000.
Mức sản xuất bình quân đầu người còn thấp so với các nước trong
khu vực và trên thế giới, sản phẩm làm ra khó tiêu thụ do thị trường ngày càng thu
hẹp và càng khó tính trong khi chúng ta chưa bắt kịp được với thời thượng.
Các biện pháp kích cầu mới được triển khai chưa phát huy được
tác dụng như mong muốn làm cho thị trường kém sôi động, một số sản phẩm vẫn
còn tồn đọng, dư thừa.
Khu vực dịch vụ tăng quá quá chậm, tốc độ tăng trưởng chỉ đạt
3,5-3,8% (kế hoạch đề ra là 4-5%) thấp hơn so với tốc độ tăng trưởng năm trước là
6%. Ngành thương nghiệp chiếm tỉ trọng cao thong lĩnh vực dịch vụ nhưng chỉ đạt
mức tăng trưởng dưới 2%.
Tốc độ tăng tỉ trọng vốn đầu tư toàn xã hội đang có xu hướng
giảm dần: từ 28%GDP (năm 1997) xuống còn 26,7% (năm1998) và 26,3% (năm
1999). Vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài vẫn tiếp tục giảm mạnh. Điều này nếu
không được khắc phục sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến tốc độ tăng trưởng kinh tế ở
những năm đầu thế kỷ XXI.
biệt khu vực kinh tế Nhà nước: Chỉ có 21% các doanh nghiệp, thậm chí 15-20% có
nguy cơ bị phá sản. Việc thực hiện cổ phần hóa và các bện pháp sắp xếp đổi mới
doanh nghiệp nhà nước còn nhiều hạn chế.
Ngân sách Nhà nước luôn trong tình trạng căng thẳng bởi vì quy
mô kinh tế còn quá nhỏ bé, hiệu quả sản xuất kinh doanh còn thấp, tỷ lệ thất thu lớn
dẫn tới chi đầu tư phát triển ngân sách chủ yếu còn phải dựa vào nguồn vay trong
nước và nước ngoài.
Chất lượng tín dụng thấp cũng là tồn tại lớn cản trở phát triển
bền vững của nền kinh tế nước ta. Nợ quá hạn cao hơn mức dự kiến (5%- mức dự
kiến). Gây khó khăn cho ngân sách quốc gia.
Chúng ta chủ trương thực hiện cơ chế thị trường có sự quản lý
của Nhà nước, nhưng đến nay các yếu tố của kinh tế thị trường chưa hình thành
đồng bộ, môi trường hợp tác, cạnh tranh bình đẳng chưa được tạo lập đầy đủ. Trong
chính sách, thể chế quản lý của Nhà nước còn tồn tại nhiều hình thức hành chích bao
cấp, vẫn mang nặng cơ chế "Xin -cho", gắn với thủ tục phiền hà thiếu tính công
khai, nhưng lại có nhiều mặt buông lỏng quản lý, không giữ được trật tự kỷ cương.
Tình hình đó khiến cho kinh tế vận hành trục trặc, không ăn khớp
Từ những nhận định và đánh giá ấy ta đi tìm nguyên nhân của
thành tựu thắng lợi cũng như những mặt tồn tại và yếu kém. 1.3 . Đánh giá chung nguyên nhân
bước. Công tác chỉ đạo, điều chỉnh của Chính phủ, các ngành, các cấp có tiến bộ.
Bám sát kịp thời những biến động bất thường trong tình hình kinh tế - xã hội.
Một số mặt tồn tại và yếu kém của Đảng- Nhà nước ta xuất phát từ
các nguyên nhân sau:
Công tác dự báo có cố gắng nhưng cũng có nhiều thiếu sót là một
trong những nguyên nhân dẫn đến cơ cấu đầu tư kém hiệu quả. Khó khăn ngày càng
tồn đọng là áp lực đè nặng lên sự phát triển.
Các chính sách, cơ chế được ban hành chưa thực sự đồng bộ, hợp với
thực tiễn và thực hiện các đường lối kinh tế vừa chậm và vừa không đến nơi, đến
chốn.
Thu nhập dân cư thấp, thị trường bị thu hẹp, nên sức mua bị hạn chế,
giá thị trường giảm liên tục, sản xuất có dấu hiệu bị đình trệ, hàng tồn kho tăng nên
kìm hãm sự phát triển.
Các doang nghiệp trong nước chậm chuyển biến, không gắn kết sản
xuất với thị trường trong từng sản phẩm, dẫn đến tình trạng nhiều sản phẩm đầu tư
theo hướng phát triển năng lực sản xuất không chú ý tới đầu ra của sản phẩm, gây ứ
thừa, tồn kho, thiệt hại tài sản của Nhà nước và doanh nghiệp.
Nguồn lực phát triển của đất nước chưa đủ sức điều chỉnh cơ cấu nền
kinh tế theo hướng phát huy lợi thế trong ngành, vùng.
Huy động vốn trong dân cư còn thấp nên dự trữ tiền tệ trong tín dụng
ngân hàng chưa cao, chưa phát huy được những tiềm lực kinh tế.
2.1 Đổi mới cơ chế quản lý kinh tế ở việt nam
Những nhược điểm và sai lầm của cơ chế quản lý kinh tế theo mô
hình kinh tế hóa tập trung thật ra đã được Đảng và Nhà nước ta phát hiện từ lâu.
Ngay từ 1972 Hội nghị TW Lần thứ 20( khóa III )đã dề ra “Xóa bỏ lối quản lý hành
chính cung cấp”. Đặc biệt từ sau khi thống nhất đất nước, những ý đồ chủ quan , duy
ý chí , muốn áp đặt cơ chế quản lý tập trung quan liêu bao cấp trên cả nước đã gặp
không ít những phản ánh từ cơ sở ,địa phương , nhất là ở các tỉnh miền Nam. Các
cấp lãnh đạo của Đảng và nhà nước, các nhà nghiên cứu và quả lý kinh tế đều nhận
thức được rằng trong suốt một thời gian quá dài chúng ta điều hành nền kinh tế chỉ
bằng những mệnh lệnh hành chính ,bằng bằng những Nghị quyết của Đảng là chủ
yếu mà không coi trọng đầy đủ các quy luật khách quan, coi nhẹ lợi ích kinh tế,
quan hệ thị trường, quan hệ hàng hóa tiền tệ. Chúng ta từ lâu cũng đã nhìn thấy tính
chất bao cấp tràn lan trong cơ chế quản lý kinh tế kế hoạch hóa tập trung, đơn thuần
dựa vào chế độ cấp phát và giao nộp, hạch toán kinh tế chỉ là giả tạo hình thức chính
vì vậy mà các cơ sở kinh doanh luôn ở trong tình thế bị gò bó, thụ động và ỷ lại mất
hết động lực kinh tế, không quan tâm tới năng suất lao động, chất lượng sản phẩm
và hiệu quả kinh tế. Chính vì vậy đỏi mơí chính sách kinh tế ở việt nam là một yếu
tố cấp thiết cần sớm được thực hiện.
2.2. Đổi mới quản lý kinh tế tất yếu phải đổi mới hệ thống tiền tệ, tín
dụng ngân hàng
Nền kinh tế hiện đại thực chất là nền kinh tế tiền tệ nền kinh tế đã
được tiền tệ hóa cao độ. Những công trình nghiên cứu về các nước công nghiệp mới
trong khu vực trong những năm gần đây để đi đến một kết luận thống nhất là nền
mới hệ thống tiền tệ tín dụng, ngân hàng nhất thiết phải được coi như một khâu quan
trọng và có ý nghĩa quyết định trong công cuộc đổi mới cơ chế kế hoạch và quản lý
kinh tế trong giai đoạn hiện nay. Ngân hàng phải thực sự là một tác nhân thúc đẩy
mạnh mẽ quá trình hoàn thiện cơ chế thị trường hội nhập vào nền kinh tế khu vực và
trên thế giới, thực sự là “bà đỡ” của tiến trình đổi mới kinh tế theo những định
hướng mà Đảng đã đề ra.
2.3. Tiếp tục đổi mới và chấn chỉnh hệ thống ngân hàng
Trong nhiệm vụ chấn chỉnh và lành mạnh hóa hệ thống ngân hàng,
cùng với việc xúc tiến mạnh hơn các biện pháp theo chương trình đã đề ra, cần giả
quyết vấn đề bức xúc hiện nay là tỉ lệ quá cao của nợ quá hạn đang gây ách tắc, ứ
đọng vốn trong hoạt động tín dụng. Giải pháp cơ bản và lâu dài là đổi mới cơ chế lãi
suất, đồng thời đòi hỏi các doanh nghiệp phải làm ăn có lãi, trả được nợ, nếu mất
khả năng thanh tóan thì áp dụng luật phá sản, kể cả với doanh nghiệp nhà nước. Hệ
thống ngân hàng thương mại mà hạt nhân là các ngân hàng phải được chấn chỉnh và
tổ chức lại để kinh doanh có hiệu quả, thực hiện đầy đủ quyền tự chủ, tự chịu trách
nhiệm trong hoạt động tín dụng, chấm dứt việc ngân hàng thương mại cho vay cho
vay theo lệnh hành chính. Chính phủ tạo nguồn vốn để hỗ trợ việc giải quyết các
khoản nợ quá hạn, có cơ chế xử lý tài sản thế chấp bị xiết nợ đồng thời triển khai
xây dựng công ty mua bán nợ, tạo cơ sở để sớm hạ thấp tỷ lệ nợ quá hạn xuống giới
hạn cho phép, tăng khối lượng và vòng quay vốn qua ngân hàng.
2.4.Xây dựng chiến lược cải tổ hệ thống ngân hàng.
Để công cuộc cải tổ thu được nhiều kết quả mong muốn đòi hỏi
trong kinh doanh.
2.4.4. Các công cụ thực hiện cải tổ:
Mục tiêu cải tổ tài chính nhằm phục hồi khả năng thanh toán
của các ngân hàng bằng cách lành mạnh hóa bảng cân đối tài sản và báo cáo thu
nhập để đảm bảo các tiêu chuẩn về vốn, khả năng sinh lời, tăng cường khả năng
thanh toán, quản lý rủi ro.
3/ ý nghĩa rút ra đối với bản thân: Nhận thức được vai trò to lớn của “hoạt động đổi mới hệ thống
ngân hàng” Đảng và Nhà nước ta luôn ra sức phát triển và xây dựng, nhằm phục vụ
lý tưởng xã hội chủ nghĩa cao cả là: Vì con người, do con người. Chính vì lẽ đó phát
huy nhân tố con người, luôn là mục tiêu hàng đầu và thiết thực nhất. Đảng và Nhà
nước ta đã luôn cố gắng không mệt mỏi để đấu tranh vì nhân quyền và nhân lợi đi
đôi với giáo dục đào tạo vì một tương lai tươi sáng hơn.
Là một sinh viên khoa Ngân Hàng Tài Chính, KTQD, em hiểu
ý nghĩa của học thuết kinh tế-xã hội có tác dụng như thế nào đối với bản thân và luôn tự nhủ mình phải làm gì để học thuyết hình thái kinh tế - xã hội đi sâu hơn vào
cuộc sống.
Sống và học tập dưới mái trường xã hội chủ nghĩa, mỗi sinh
viên chúng ta được thừa hưởng những thành quả to lớn mà chế độ đã mang tới. Đó
"Gạn đục khơi trong " tiếp thu những văn minh tiên tiến của nhân loại và chống
những tư tưởng phản động, làm tổn hại đến nền hòa bình dân tộc, phá vỡ nền sản
xuất xã hội chủ nghĩa. Nhiệm vụ đó thật là lớn lao, nhưng đặt ra trách nhiệm đối với
mỗi con người, mỗi học sinh, sinh viên mà là sinh viên Kinh tế quốc dân thì trách
nhiệm lại càng lớn hơn. Vì khi ra trường, với tấm bằng cử nhân kinh tế sẽ đi vào
mọi mặt của đời sống kinh tế - xã hội. Là những nhà kinh tế trong tương lai thì tất
nhiên phải hiểu kinh tế mà những việc cần làm trước mắt là trau dồi kiến thức đã
học, chịu khó nghiên cứu tìm hiểu tài liệu và đón nhận thông tin cập nhật về các lĩnh
vực đời sống kinh tế - xã hội.
Cùng với chủ trương "Phát triển lực lượng sản xuất đi đôi với xây
dựng quan hệ sản xuất phù hợp theo định hướng xã hội chủ nghĩa ". Trong sự
nghiệp đổi mới của Đảng ta hiện nay, nhiều vấn đề cũng đượcđặt ra, mà giải quyết
được nó phải có sự đồng lòng, đồng sức của tất cả mọi người như: Vấn đề nổi cộm
là tình trạng phân biệt chủng tộc, khác biệt tôn giáo , vấn đề môi sinh môi trường
và đặc biệt là hòa bình và ổn định thế giới, ổn định trong nước. Nhưng chúng ta tin
rằng với chủ trương và đường lối chíng sách của Đảng, mọi vấn đề sẽ được giải
quyết, tạo mọi hành lang pháp lý thuận lợi cho cả xã hội phát triển.
c. kết luận.
Thực tế đã khẳng định rằng, cho đến nay học thuyết của Mác
về hình thái kinh tế -xã hội vẫn là quan niệm duy nhất khoa học và cách mạng để
nghiên cứu phân tích lịch sử và nhận thức các vấn đề trong xã hội . Bởi vì học
thuyết đó đòi hỏi phải phân tích sự phát triển của các xã hội như một quá trình lịch
tổng hợp các nhân tố và quy luật khách quan, nó là cơ sở phương pháp luận của sự