ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
------------
VŨ VIỆT ĐỨC
THỰC TRẠNG VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA CỦA
HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ TỈNH THÁI NGUYÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Chính trị học
Hà Nội - 2015
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
------------
VŨ VIỆT ĐỨC
THỰC TRẠNG VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA CỦA
HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ TỈNH THÁI NGUYÊN
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành: Chính trị học
Mã số: 60 31 02 01
.
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS. Vũ Hoàng Công
Hà Nội - 2015
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn ........................................... 5
5. Cơ sở lý luận và Phương pháp nghiên cứu ................................................... 5
6. Những đóng góp của luận văn ...................................................................... 6
7. Kết cấu của đề tài .......................................................................................... 6
Chƣơng 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ VIỆT
NAM HIỆN NAY ............................................................................................ 7
1.1 Khái niệm, chức năng, đặc điểm, cấu trúc của hệ thống chính trị Việt
Nam ................................................................................................................... 7
1.1.1 Khái niệm hệ thống chính trị.................................................................... 7
1.1.2 Chức năng của hệ thống chính trị ........................................................... 9
1.1.3 Đặc điểm của hệ thống chính trị Việt Nam .......................................... 11
1.1.4 Cấu trúc của hệ thống chính trị Việt Nam ............................................ 13
1.2 Chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy của các bộ phận cấu thành ... 15
1.2.1 Đảng cộng sản Việt Nam ...................................................................... 15
1.2.2 Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam .................................. 20
1.2.3 Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội ............................... 32
Tiểu kết chƣơng 1 .......................................................................................... 36
Chƣơng 2 THỰC TRẠNG TỔ CHỨC BỘ MÁY VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA
HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ TỈNH THÁI NGUYÊN ................................... 37
2.1 Tổ chức bộ máy và hoạt động của Đảng bộ Tỉnh................................. 38
2.1.1 Tổ chức bộ máy của Đảng bộ Tỉnh ........................................................ 38
2.1.2 Hoạt động của Đảng bộ Tỉnh ................................................................. 39
2.2 Tổ chức bộ máy và hoạt động của chính quyền tỉnh ........................... 48
2.2.1 Hội đồng nhân dân tỉnh ......................................................................... 48
2.2.2 Ủy ban nhân dân tỉnh ............................................................................. 49
2.3 Tổ chức bộ máy và hoạt động của Mặt trận Tổ quốc (MTTQ) và các
tổ chức chính trị - xã hội tỉnh ....................................................................... 50
2.3.1 Tổ chức bộ máy và hoạt động của Mặt trận Tổ quốc (MTTQ) tỉnh ...... 50
Đoàn TNCSHCM
Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh
HĐND
Hội đồng nhân dân
Hội LHPN
Hội Liên hiệp phụ nữ
MTTQ
Mặt trận Tổ quốc
UBND
Ủy ban nhân dân
UBKT
Ủy ban kiểm tra
MỞ ĐẦU
1. Lý do lựa chọn đề tài
Công cuộc Đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo trong hơn hai
thập kỷ qua đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, đưa nước ta thoát khỏi khủng
hoảng và không ngừng lớn mạnh, vững bước tiến vào thế kỷ XXI trong xu thế
trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên còn nghiêm trọng, chậm
được khắc phục. Việc đổi mới tổ chức, nội dung, phương thức hoạt động của
Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội còn chậm. Công tác tuyên
truyền, vận động quần chúng còn hạn chế. Hoạt động của hệ thống chính trị ở
cơ sở xã, phường, thị trấn hiệu quả thấp, chưa đủ sức giải quyết những vấn đề
phức tạp phát sinh.
Từ những khuyết điểm, hạn chế của hệ thống chính trị tỉnh Thái Nguyên
hiện nay sự cần thiết việc tiếp tục đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính trị một
cách đồng bộ từ tỉnh đến thành phố, huyện, xã trên địa bàn tỉnh là vô cùng
quan trọng. Trước tình hình đó, trên tinh thần Nghị quyết của Đảng nhằm
đánh giá thực trạng tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị ở tỉnh Thái
Nguyên từ năm 2007 đến nay chỉ ra những vấn đề và giải pháp đổi mới hệ
thống chính trị tỉnh Thái Nguyên; nhằm củng cố, tăng cường vai trò của hệ
thống chính trị của Tỉnh. Do vậy tôi chọn đề tài: “Thực trạng và những vấn đề
đặt ra của hệ thống chính trị ở tỉnh Thái Nguyên” làm đề tài luận văn tốt
nghiệp của mình.
2. Tình hình nghiên cứu vấn đề
Việc nghiên cứu về hệ thống chính trị Việt Nam được giới nghiên cứu
về chính trị quan tâm từ lâu. Đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu về hệ
thống chính trị Việt Nam, với những mục đích nghiên cứu khác nhau như về
mô hình hệ thống chính trị, đặc điểm cơ bản của hệ thống chính trị Việt Nam,
những vấn đề chính trị - kinh tế - văn hóa nổi bật… đã có nhiều ấn phẩm
trong nước và nước ngoài bằng tiếng Anh, Pháp.
2
Nhiều tác phẩm viết về hệ thống chính trị Việt Nam nói chung về khái
niệm, chức năng, đặc điểm như: Vũ Hoàng Công (2009): Các mô hình hệ
thống chính trị; trong quyển “Chính trị học – Một số vấn đề lý luận và thực
thống chính trị Việt Nam.
Nghiên cứu về hệ thống chính trị cơ sở có các tác phẩm như: Vũ Hoàng
Công: Hệ thống chính trị cơ sở - đặc điểm, xu hướng và giải pháp, Nxb Chính
trị quốc gia, Hà Nội, 2002; Hà Quang Ngọc (2005): Cải cách cơ cấu tổ chức
và hoạt động của bộ máy chính quyền địa phương, Tạp chí Cộng sản, số 22005.
Nghiên cứu về hệ thống chính trị Tỉnh Thái Nguyên có rất ít tác phẩm
chủ yếu qua Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XVII (nhiệm kỳ
2005 – 2010), lần thứ XVIII (nhiệm kỳ 2010 – 2015), lần thứ XIX (nhiệm kỳ
2015 – 2020)…. qua đó thấy được thực trạng, tình hình hoạt động của các cơ
quan, bộ máy, biên chế, năng lực cán bộ.
Như vậy, nhìn chung các công trình nghiên cứu về hệ thống chính trị
Việt Nam nói chung và hệ thống chính trị tỉnh Thái Nguyên nói riêng không
phải là ít, nhưng việc tổng hợp những tài liệu về tổ chức bộ máy và hoạt động
của hệ thống chính trị tỉnh Thái Nguyên cũng như những giải pháp, phương
hướng để nâng cao hiệu lực, hiệu quả của hệ thống chính trị Tỉnh chưa được
các tài liệu đề cập tới đầy đủ, hệ thống.
Báo cáo luận văn thạc sĩ này hy vọng sẽ đóng góp một phần vào công
việc nghiên cứu về hệ thống chính trị tỉnh Thái Nguyên và rút ra những suy
nghĩ riêng cho việc xây dựng hệ thống chính trị tỉnh Thái Nguyên hôm nay.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
- Mục đích nghiên cứu của đề tài là: Trên cơ sở tìm hiểu thực trạng tổ
chức và hoạt động của hệ thống chính trị ở tỉnh Thái Nguyên từ năm 2007 đến
nay nêu ra các ưu điểm và hạn chế nhằm khắc phục hạn chế và đưa ra các giải
pháp đổi mới hệ thống chính trị tỉnh Thái Nguyên hiện nay.
- Để đạt được mục đích trên đây, các nhiệm vụ nghiên cứu được xác định là:
4
+ Khái quát chung về hệ thống chính trị theo quan điểm của Đảng.
+ Tìm hiểu thực trạng tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị tỉnh
chính trị tỉnh Thái Nguyên.
6. Những đóng góp của luận văn
Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần làm rõ một số vấn đề lý luận
và thực tiễn về thực trạng tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị tỉnh
Thái Nguyên.
Luận văn có thể sử dụng là tài liệu tham khảo cho các cơ quan, tổ chức
liên quan trong việc nghiên cứu, chỉ đạo, phối hợp tromg hoạt động của hệ
thống chính trị.
7. Kết cấu của đề tài
Luận văn có phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung chính
gồm có 3 chương:
Chương 1: Khái quát chung về hệ thống chính trị Việt Nam hiện nay.
Chương 2: Thực trạng tổ chức bộ máy và hoạt động của hệ thống chính
trị tỉnh Thái Nguyên hiện nay.
Chương 3: Quan điểm, giải pháp nâng cao hiệu lực, chất lượng của hệ
thống chính trị ở tỉnh Thái Nguyên.
6
Chƣơng 1
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ VIỆT NAM
HIỆN NAY
1.1 Khái niệm, chức năng, đặc điểm, cấu trúc của hệ thống chính trị
Việt Nam
1.1.1 Khái niệm hệ thống chính trị
Hệ thống chính trị là khái niệm hiện đại của chính trị học. Trong lịch sử
tư tưởng chính trị phương Đông và cả phương Tây không có khái niệm hệ
thống chính trị. Nó chỉ xuất hiện trong nền chính trị hiện đại. Trước đây việc
đưa ra các quyết định chính trị có tính quốc gia luôn thuộc thẩm quyền của bộ
nghiên cứu hệ thống chính trị .
Mục đích của việc đưa ra khái niệm hệ thống chính trị chính là vạch ra
hệ thống các chủ thể (các tổ chức, các thiết chế) có quan hệ với nhau trong
việc giành, giữ, thực thi quyền lực chính trị…Nói cách khác, nghiên cứu hệ
thống chính trị thực chất là nghiên cứu hệ thống các tổ chức, thiết chế có
quyền lực chính trị hoặc tham gia vào quyền lực chính trị.
Vậy “hệ thống chính trị là một bộ phận của kiến trúc thượng tầng xã hội,
bao gồm các tổ chức, các thiết chế có quan hệ với nhau về mặt mục đích,
chức năng trong việc thực hiện hoặc tham gia thực hiện quyền lực chính trị,
trong việc đưa ra các quyết định chính trị”[79 ,tr. 289].
Có rất nhiều quan điểm khác nhau về hệ thống chính trị: Trong sách
Triết học Mác – Lênin (chương trình cao cấp) hệ thống chính trị được hiểu là:
“tổng thể các tổ chức chính trị của xã hội được chính thức thừa nhận về mặt
pháp lý nhằm thực hiện quyền lực chính trị của xã hôi đó. Hệ thống này bao
gồm: nhà nước, các chính đảng, các nghiệp đoàn và các tổ chức chính trị xã
hội khác, trong đó nhà nước là yếu tố cơ bản nhất”.
Ở Việt Nam, khái niệm hệ thống chính trị được chính thức sử dụng
trong các văn kiện Đảng từ Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương
khóa VI(3/1989) để thay thế cho khái niệm chuyên chính vô sản vẫn được
8
dùng trước đổi mới (1986) với cơ chế kế hoạch hóa tập trung. Theo đó hệ
thống chính trị là một phạm trù thể hiện hình thức tổng quát nhất của chính trị
và dân chủ, xác lập cơ chế thực hiện quyền lực chính trị “Đảng lãnh đạo, Nhà
nước quản lý, nhân dân làm chủ” trong điều kiện xây dựng và vận hành nền
kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta [45, tr. 11-12].
Hệ thống chính trị ở nước ta là hệ thống các thiết chế chính trị được tổ
chức và hoạt động trên cơ sở Hiến pháp, hiện nay là Hiến pháp năm 1992
(sửa đổi, bổ sung năm 2001) và các đạo luật khác của Nhà nước ta. Tổ
sách pháp luật đó một cách có hiệu quả, thông qua bộ máy công quyền trong
sạch, công tâm, hết lòng phục vụ nhân dân.
Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân đóng vai trò đại diện cho lợi
ích chung và lợi ích từng giai cấp, từng giới quần chúng, đồng thời là cầu nối
giữa Đảng, chính quyền và nhân dân.
Chức năng tổ chức dân chủ và đảm bảo dân chủ: Xét về tổ chức và
hoạt động của hệ thống chính trị , dân chủ vừa là bản chất, vừa là mục tiêu.
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội (năm
2011) khẳng định: “ Dân chủ xã hội chủ nghĩa là bản chất của chế độ ta, vừa
là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển đất nước. Xây dựng và từng
bước hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm dân chủ được thực
hiện trong thực tế cuộc sống ở mỗi cấp, trên tất cả các lĩnh vực. Dân chủ gắn
liền với kỷ luật, kỷ cương và phải được thể chế hoá bằng pháp luật, được
pháp luật bảo đảm.
Nhà nước tôn trọng và bảo đảm các quyền con người, quyền công dân;
chăm lo hạnh phúc, sự phát triển tự do của mỗi người. Quyền và nghĩa vụ
công dân do Hiến pháp và pháp luật quy định. Quyền của công dân không
tách rời nghĩa vụ công dân.
Nhân dân thực hiện quyền làm chủ thông qua hoạt động của Nhà nước,
của cả hệ thống chính trị và các hình thức dân chủ trực tiếp, dân chủ đại
diện”.
10
1.1.3 Đặc điểm của hệ thống chính trị Việt Nam
Tính nhất nguyên và chỉ do một Đảng lãnh đạo: Tính nhất nguyên thể
hiện ở chỗ chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh được coi là nền
tảng tư tưởng chung cho cả hệ thống; chủ nghĩa xã hội là mục tiêu chung,
không chấp nhận những khuynh hướng chính trị trái với chủ nghĩa Mác –
Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh và trái với mục tiêu chủ nghĩa xã hội.
lịch sử và kinh nghiệm tổ chức quần chúng của mình, các đoàn thể này xứng
đáng là các chủ thể của hệ thống chính trị.
Hệ thống chính trị mang tính nhân dân sâu sắc: Tính nhân dân của hệ
thống chính trị thể hiện trong mục đích vì nhân dân, trong lực lượng do nhân
dân, trong sức mạnh của nhân dân. Ở Việt Nam, không có một tổ chức nào
của hệ thống chính trị không gắn với một tầng lớp nhân dân nhất định, không
một tổ chức nào lại chỉ là diễn đàn của một nhóm nhỏ nhất là của những
người giàu có, đặc quyền, đặc lợi, thoát li lao động chân chính.
Hệ thống chính trị được tổ chức rộng khắp, chặt chẽ theo nguyên tắc tập
trung dân chủ: Hiện nay cả nước ta có 64 tỉnh, thành phố, trên 500 quận,
huyện và hàng chục nghìn xã, phường, thị trấn. Hầu như ở đâu cũng có đầy đủ
các tổ chức đảng, tổ chức chính trị - xã hội của quần chúng. Các tổ chức đảng,
đoàn thể này được tổ chức theo hệ thống từ trên xuống dười có mặt ở mọi
cấp, hoạt động theo nguyên tắc cấp trên chỉ đạo, hướng dẫn cấp dưới, cấp
dưới phục tùng cấp trên. Đồng thời trong phạm vi địa phương, các đoàn thể
đều chịu sự chỉ đạo của cấp ủy đảng.
Hệ thống chính trị còn tồn tại theo các đơn vị, các cơ quan, các tổ chức
hành chính, sự nghiệp, các doanh nghiệp trong và ngoài quốc doanh. Ngay trong
một cơ quan, đoàn thể nào đó cũng có mặt các tổ chức của các đoàn thể khác,
nghĩa là các tổ chức không chỉ tồn tại bên cạnh nhau, mà còn tồn tại đan xen,
lồng vào nhau. Tất cả tạo nên một mạng lưới chằng chịt, gắn kết chặt chẽ.
Do sự tổ chức như vậy nên hệ thống chính trị có tính thống nhất cao về
mặt ý chí và hành động. Mọi chủ trương, chính sách đều nhằm về một hướng,
12
mọi hoạt động đều nhằm về một hướng. Điều đó làm nên những chiến thắng
trong các cuộc chiến tranh và những thành tựu ban đầu trong công cuộc đổi
mới hiện nay. Cũng vì thế mà hệ thống chính trị mang tính ổn định trong suốt
nhiều chục năm qua và ngay trong những giai đoạn khó khăn của chủ nghĩa
hội bằng cương lĩnh, chiến lược các định hướng về chính sách và chủ trương
công tác; bằng công tác tuyên truyền vận động….Đảng từng bước khắc phục
tình trạnh làm thay công việc quản lý của Nhà nước và các tổ chức chính trị xã hội khác. Nhà nước thực hiện chức năng và nhiệm cụ cơ bản là cơ quan
quản lý nhà nước đối với xã hội theo định hướng phát triển mà Đảng đã xác
định.
Mối quan hệ giữa Đảng với Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị xã hội: Mối quan hệ giữa Đảng và Mặt trận Tổ quốc là mối quan hệ bình đẳng
trước pháp luật. “Đảng cộng sản Việt Nam vừa là thành viên, vừa là người
lãnh đạo Mặt trận”. Đảng thực hiện lãnh đạo Mặt trận và các tổ chức chính trị
- xã hội bằng chủ trương, chính sách, bằng công tác tuyên truyền, vận động
thuyết phục: bằng công tác tổ chức, kiểm tra, cán bộ. Đảng lãnh đạo nhưng
Đảng không ra lệnh, áp đặt cho Mặt trận và các tổ chức chính trị xã hội mà
phải thông qua hiệp thương, thuyết phục, và bằng sự gương mẫu của đảng
viên trong các tổ chức chính trị - xã hội.
Mối quan hệ giữa Nhà nước và các tổ chức chính trị xã hội:Nhà nước
không tham gia Mặt trận Tổ quốc nhưng Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc đều
là thành viên của hệ thống chính trị, cùng do Đảng cộng sản Việt Nam lãnh
đạo, đều thực hiện quyền làm chủ của nhân dân. Thông qua Mặt trận tổ quốc
nhân dân tham gia xây dựng và bảo vệ Nhà nước, giám sát hoạt động của các
cơ quan và công chức Nhà nước. Nhà nước ban hành luật, trong đó có luật về
Mặt trận Tổ quốc và về các tổ chức chính trị - xã hội, tạo mọi điều kiện cho
Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị xã hội hoạt động hợp hiến, hợp
pháp, phát huy được mọi khả năng của mình.
14
Về phía Nhà nước, để làm tròn chức năng quản lý, thực hiện quyền lực
nhân dân, Nhà nước cần đến sự phối hợp của Mặt trận tổ quốc và các tổ chức
chính trị - xã hội. Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị xã hội có vai trò
làm cầu nối giữa nhân dân với Đảng, với Nhà nước; tuyên truyền, vận động
hướng về chính sách và chủ trương lớn; bằng công tác tuyên truyền, thuyết
phục, vận động tổ chức, kiểm tra, giám sát và bằng hành động gương mẫu của
đảng viên. Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán
bộ, giới thiệu những đảng viên ưu tú có đủ năng lực và phẩm chất vào hoạt
động trong các cơ quan lãnh đạo của hệ thống chính trị. Đảng lãnh đạo thông
qua tổ chức đảng và đảng viên hoạt động trong các tổ chức của hệ thống
chính trị, tăng cường chế độ trách nhiệm cá nhân, nhất là người đứng đầu.
Đảng lãnh đạo hệ thống chính trị đồng thời là một bộ phận của hệ thống ấy.
Đảng gắn bó mật thiết với nhân dân, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của
nhân dân, dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng, chịu sự giám sát của nhân
dân, hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật.
1.2.1.1 Chức năng, nhiệm vụ của Đảng cộng sản Việt Nam
Từ khi chính quyền về tay nhân dân (1945), Đảng trở thành thành viên
của hệ thống chính trị, đồng thời là hạt nhân lãnh đạo hệ thống chính trị, vừa
là Đảng cầm quyền, lãnh đạo Nhà nước và toàn xã hội.
Thứ nhất, Đảng ta là đảng cầm quyền, đảng nắm giữ chính quyền, chi
phối tổ chức và hoạt động của chính quyền. Ý chí của Đảng là ý chí chung
của toàn xã hội. Thứ hai, phạm trù Đảng cộng sản lãnh đạo là có sự phân biệt
chức năng lãnh đạo Nhà nước về mặt chính trị của Đảng với chức năng quản
lý xã hội của Nhà nước.
Đảng ta là đảng lãnh đạo chính quyền, lãnh đạo Nhà nước, có nghĩa là
Đảng là tổ chức chính trị có chức năng dẫn dắt, tổ chức Nhà nước và các tổ
chức chính trị - xã hội. Theo nghĩa đó để dẫn dắt, tổ chức hệ thống chính trị,
để lãnh đạo được Nhà nước và xã hội Đảng phải có đường lối, chủ trương,
chính sách để các tổ chức đảng, các đảng viên trong cơ quan quyền lực nhà
nước và xã hội thực hiện. Đảng lãnh đạo hệ thống chính trị là lãnh đạo chính
trị đối với hệ thống chính trị.
16
chia rẽ, bè phái. Đảng chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên trong
sạch, có phẩm chất, năng lực, có sức chiến đấu cao theo tấm gương đạo đức
Hồ Chí Minh; quan tâm bồi dưỡng, đào tạo lớp người kế tục sự nghiệp cách
mạng của Đảng và dân tộc”.
Hiện nay Đảng ta còn thực hiện chức năng lãnh đạo bằng một số nội
dung khác như: Đảng đề ra đường lối xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội
chủ nghĩa; chủ trương, đường lối, chiến lược về phát triển đất nước trên các
lĩnh vực chủ yếu (kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh quốc phòng, đối ngoại);
những nội dung Đảng lãnh đạo công tác cán bộ của bộ máy nhà nước và các
tổ chức chính trị - xã hội; nội dung Đảng lãnh đạo công tác kiểm tra hoạt
động của các cơ quan nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội thực hiện đường
lối, chủ trương của Đảng; nội dung Đảng giáo dục đảng viên, toàn thể nhân
dân thực hiện tốt đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước.
1.2.1.2. Tổ chức bộ máy, phương thức lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam
Tổ chức bộ máy của Đảng: Điều lệ Đảng quy định hệ thống tổ chức của
Đảng được thành lập tương ứng với hệ thống tổ chức hành chính của Nhà
nước. Hệ thống tổ chức Đảng thành lập theo cấp hành chính lãnh thổ là hệ
thống cơ bản, bảo đảm sự lãnh đạo toàn diện của Đảng ở mỗi cấp và của toàn
Đảng. Việc lập tổ chức đảng ở những nơi có đặc điểm riêng theo quy định của
Ban Chấp hành Trung ương. Hệ thống tổ chức của Đảng, các cơ quan tham
mưu giúp việc của cấp uỷ các cấp từng bước được sắp xếp, kiện toàn hợp lý
và hiệu quả hơn sau khi thực hiện Nghị quyết Trung ương ba, Trung ương bảy
(khoá VIII) và Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX, Hội nghị lần
thứ 4, lần thứ 5, Ban chấp hành Trung ương khoá X đã tiến hành kiện toàn hệ
thống tổ chức của Đảng theo hướng tinh gọn hơn, tập trung hơn đáp ứng yêu
cầu nhiệm vụ mới.
Tình hình hệ thống tổ chức của Đảng Cộng sản Việt nam hiện nay: Hệ
thống tổ chức đảng bộ, chi bộ (từ cấp Trung ương, cấp tỉnh, huyện, cơ sở, chi
18