CẢI THIỆN MÔI TRƯỜNG THU HÚT FDI TẠI VIỆT NAM THỰC TRẠNG VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA trong bối cảnh hội nhập wto - Pdf 28

Bộ môn: Chính sách kinh tế đối ngoại
Đề tài thảo luận
CẢI THIỆN MÔI TRƯỜNG THU HÚT FDI TẠI VIỆT NAM
THỰC TRẠNG VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA
TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP WTO
Nhóm thực hiện:
1. Nguyễn Đức Trí Dũng
2. Nguyễn Anh Đức
3. Lại Hà Quang Huy
4. Đinh Quang Linh
5. Nguyễn Văn Nam
6. Trần Ngọc Tùng
7. Nguyễn Thị Duyên
I. Thực trạng thu hút FDI hiện nay của Việt Nam:
Hiện nay, Việt Nam vẫn được đánh giá là một nước có môi trường thu
hút FDI tương đối thuận lợi. Nhiều chính sách của chính phủ đã được thực
hiện nhằm thu hút nguồn vốn nhiều tiềm năng này.
Vai trò của nguồn vốn FDI trong nền kinh tế là không thể phủ nhận.
Các doanh nghiệp nước ngoài khi đầu tư tại Việt Nam đã tạo thêm nhiều
công ăn việc làm cho người lao động, đồng thời tạo nên những điều kiện cho
phát triển kinh tế và nhiều tác dụng khác nữa. Vì vậy nguồn vốn này luôn
nhận được sự quan tâm của chính phủ và các nhà hoạch định chính sách.
Nguồn vốn FDI vào nước ta đến từ nhiều nước khác nhau thể hiện
trong biều đồ:
Biểu đồ 1: FDI vào Việt Nam từ 1990- 2010
(nguồn: http://www.vietpartners.com)
Nhìn chung FDI vào nước ta có xu hướng tăng dần qua các năm và đạt
được nhiều kết quả khả quan. Tuy nhiên trong phạm vi thảo luận này chúng ta
sẽ không đề cập sâu đến vấn đề này.
Tình hình FDI vào nước ta trong những tháng đầu năm 2011 có một số
biến động. Theo số liệu báo cáo các địa phương gửi về tính đến ngày 20/08

khoảng 1% về số vốn đăng ký so với cùng kỳ.
Dòng vốn FDI vẫn tiếp tục đổ vào lĩnh vực chế biến chế tạo. Tính đến
nay, đã có khoảng 4,6 tỷ USD cả đăng ký mới và tăng vốn vào lĩnh vực này,
chiếm tới trên 48% tổng vốn FDI vào Việt Nam trong 8 tháng đầu năm. Tiếp
theo vẫn là 2 lĩnh vực sản xuất, phân phối điện, khí, gas, nước và xây dựng
với vốn đăng ký tương ứng trên 2,5 tỷ USD và khoảng 671 triệu USD. Đáng
chú ý là lĩnh vực bất động sản đã 2 tháng nay không thấy có thay đổi trong
thống kê về số vốn đăng ký mới và tăng thêm. Cùng với dòng chảy này, nhiều
quan điểm cho rằng thị trường bất động sản đang thiếu sức hút với dòng tiền.
Về phía các quốc gia, vùng lãnh thổ có quan hệ đầu tư với Việt Nam,
tính đến tháng này các vị trí dẫn đầu vẫn là Hồng Kông, Singapore và Hàn
Quốc với vốn đăng ký cấp mới và tăng thêm lần lượt là gần 2,9 tỷ USD, gần
2,5 tỷ USD và 851 triệu USD.
Các địa phương thu hút vốn lớn cũng không có sự thay đổi thứ hạng
trong tháng này, Hải Dương vẫn dẫn đầu với gần 2,5 tỷ USD vốn đăng ký.
Tiếp theo là Tp.HCM và Bà Rịa - Vũng Tàu lần lượt kéo về 1,65 tỷ USD và
gần 780 triệu USD.
II. Một chính sách thu hút FDI hiện nay:
Để thu hút nguồn vốn FDI, chính phủ đã áp dụng rất nhiều chính sách và
biện pháp như nâng cao chất lượng cơ sở hạ tầng, đào tạo nguồn nhân lực, ưu
đãi thuế, cải cách thủ tục hành chính,…Các biện pháp, chính sách này bên
cạnh những tác động tích cực không thể phủ nhận cũng vẫn còn rất nhiều bất
cập cần sửa đổi. Mỗi chính sách đều có vai trò riêng, không thể nói cái nào
quan trọng hơn song để tránh tìm hiểu quá mien man, không đi vào chiều sâu,
chúng ta sẽ chỉ đi tìm hiểu một số chính sách tiêu biểu hiện nay. Mỗi chính
sách được đề cập đến thực trạng và những vấn đề hạn chế được đặt ra để giải
quyết. Đó là:
 Nâng cấp hạ tầng cơ sở:
Công tác huy động vốn cho đầu tư phát triển có vai trò quan trọng
trong tiến trình thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội. Quá trình huy

Philippin 2,3 2,4 1,9 2,2 2,7 2,3
Indonesia 3,0 2,4 2,3 2,6 2,7 2,6
Việt Nam 1,9 2,0 1,9 1,9 2,2 2,0
Myanmar 1,6 1,5 1,6 1,4 1,4 1,5
Lào 1,5 1,5 1,7 1,5 1,5
Campuchia 1,6 1,5 1,8 1,4 1,4 1,5
Xếp hạng: Điểm 5 là cao nhất
(nguồn: Tổng cục thống kê)
Điều này cho thấy cơ sở hạ tầng của Việt Nam so với những nước trong khu
vực còn kém vì thế trong cuộc đua thu hút vốn FDI chúng ta luôn có những
bất lợi đáng kể từ cơ sở hạ tầng gây ra những khó khăn cho những nhà đầu tư
nước ngoài khi muốn tham gia vào thị trường Việt Nam.vì vậy nâng cao chất
lượng cơ sở hạ tầng là một trong những yêu cầu được đặt ra với nhà nước
Việt Nam để nâng cao thu hút vốn đầu tư FDI và cải thiện môi trường đầu tư
Những hạn chế còn tồn tại
• Cơ sở hạ tầng không đồng bộ, không đáp ứng nhu cầu
Cơ sở hạ tầng không phải là một nỗi lo mới đối với Việt Nam.đây là
một trong những trở ngại lớn nhất đối với các doanh nghiệp nước ngoài muốn
đầu tư vào Việt NamTheo khảo sát mới nhất của Ban thư ký Diễn đàn doanh
nghiệp Việt Nam 2009,87,8% doanh nghiệp nước ngoài và 83% doanh
nghiệp trong nước trong tổng số 291 doanh nghiệp đánh giá chất lượng
cơ sở hạ tầng ở mức kém và rất kém. Kết quả này cũng tương đồng với Báo
cáo năng lực cạnh tranh quốc gia 2009 của Diễn đàn kinh tế thế giới, trong đó
cơ sở hạ tầng bị xếp hạng thấp nhất trong bộ chỉ số cạnh tranh của Việt Nam.
Ngân hàng hợp tác quốc tế Nhật Bản (JBIC) cho biết qua khảo sát mới nhất
với 600 doanh nghiệp Nhật, cơ sở hạ tầng yếu kém của Việt Nam vẫn là trở
ngại hàng đầu như hồi 2008. Điểm tích cực là năm nay, số lượng các doanh
nghiệp Nhật rất không hài lòng với cơ sở hạ tầng giảm xuống từ 43,1% xuống
còn 33,8%. Đa số doanh nghiệp Nhật (80%) cho rằng Việt Nam cần cải thiện
hệ thống đường xá, sau đó là điện năng, cảng và hệ thống cấp thoát nước.

đến nhiều hoạt động sản xuất và xuất - nhập khẩu của nhiều doanh nghiệp.
Song theo Gemadept, một trong những công ty tàu biển lớn nhất Việt Nam,
Bộ Giao thông và tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu cần phải đẩy mạnh công việc nạo
vét hành lang Cái Mép - Thị Vải.
 Hoàn thiện thể chế chính sách:
Việc hoàn thiện hệ thống pháp luật tạo điều kiện để quản lý nhà nước
bằng luật đối với nền kinh tế xã hội là một yêu cầu khách quan trong quá
trình xây dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam. Hệ thống luật pháp và qui
định cần được xây dựng theo hướng đơn giản, dễ hiểu, tập trung vào các khâu
then chốt để điều chỉnh nhằm nâng cao tính hiệu lực. Thứ nhất, sự ra đời của
Luật Doanh nghiệp và Luật Đầu tư là một bước tiến lớn về tư duy. Tư duy
truyền thống về doanh nghiệp theo thành phần kinh tế đang dần được thay thế
bằng tư duy theo loại hình pháp lý của doanh nghiệp. Xét về mặt hoàn thiện
thể chế kinh tế, việc ban hành và thực thi hai luật này đã hoàn thành quá trình
thống nhất khuôn khổ pháp lý về doanh nghiệp, không còn phân biệt tính chất
sở hữu và thành phần kinh tế. phù hợp với thông lệ quốc tế. Thứ hai, việc
ban hành và thực thi hai luật trên đã xóa bỏ các quy định trước đây của các
địa phương liên quan đến đầu tư; thống nhất được các thủ tục về đầu tư theo
hướng đơn giản, rõ ràng và thống nhất giữa đầu tư trong nước và đầu tư nước
ngoài. Đây là một bước tiến lớn có tính đột phá trong cải cách hành chính về
thủ tục đầu tư. Nhờ đó, các nhà đầu tư về cơ bản được quyền đầu tư vào tất cả
các lĩnh vực mà pháp luật không cấm. Thứ ba, phân cấp một cách toàn diện
cho UBND cấp tỉnh trong việc trực tiếp quản lý nhà nước về đầu tư đã thực
sự tạo động lực khuyến khích và phát huy tính năng động, sáng tạo của các
địa phương trong việc giải quyết các thủ tục hành chính về đầu tư cũng như
xúc tiến đầu tư để phát triển kinh tế địa phương; đồng thời tạo điều kiện để
các bộ tập trung nhiều hơn vào xây dựng và hoàn thiện chính sách, quy hoạch
định hướng thu hút đầu tư phát triểnTuy nhiên, để tạo điều kiện thuận lợi cho
việc thực thi luật pháp, Chính phủ cần sớm ban hành nghị định hướng dẫn thi
hành luật và xóa bỏ các qui định về giấy phép không còn phù hợp. Trong năm

Thực hiện quyền tự do kinh doanh và xã hội hóa việc trợ giúp phát triển
kinh doanh thông qua việc tạo lập môi trường kinh doanh thuận lợi Một
cách hỗ trợ thiết thực là phát triển mạnh các tổ chức cung cấp các dịch vụ
phát triển kinh doanh (tư vấn pháp lý, kế toán, tài chính, đào tạo, quản lý và
thông tin thị trường).
Xây dựng hệ thống thuế minh bạch đảm bảo tính ổn định, đơn giản, dễ
hiểu, dễ vận dụng, có cơ chế kiểm soát thích hợp, giảm thời gian cho các cuộc
thanh tra, làm lãng phí nguồn lực của cơ quan thuế lẫn doanh nghiệp.
Sử dụng linh hoạt các công cụ lãi suất, tỉ giá hối đoái để bảo đảm giá trị
đồng tiền, kiểm soát được lạm phát, bảo đảm an ninh tài chính cho hệ thống
tài chính, ngân hàng và các tổ chức tín dụng trước các cú sốc tỷ giá và lãi suất
đến từ bên ngoài.
Mở rộng cho các tổ chức kinh tế đầu tư ra nước ngoài, tập trung vào các
lĩnh vực mà Việt Nam có lợi thế nhằm bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia
và cung cấp nguồn nguyên liệu cho sản xuất trong nước.
Những vấn đề còn tồn tại
Về hệ thống pháp luật:
- Tuy ngày càng được hoàn thiện nhưng hệ thống pháp luật vẫn chưa theo kịp
nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội. Sự bất cập này thể hiện ở tính chưa đồng
bộ, chưa đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước bằng pháp luật; một số vấn đề
chậm thể chế hóa, như quản lý nhà nước đối với tài sản thuộc sở hữu nhà
nước, đăng ký kinh doanh bất động sản, kiểm soát độc quyền.
- Chậm ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành luật, tình trạng văn bản
hướng dẫn thi hành mâu thuẫn với văn bản luật chưa được khắc phục triệt để.
- Tính cụ thể, minh bạch và dự báo trước của nhiều luật còn thấp.
- Hiệu lực thi hành của một số văn bản pháp luật chưa cao, như Luật cạnh
tranh, Luật đất đai, Chưa qui định rõ quyền sở hữu, quyền tự do kinh doanh,
thể chế hóa các hoạt động giao dịch, chống độc quyền, bảo vệ quyền lợi
người tiêu dùng, bảo hiểm và an sinh xã hội.
- Qui trình xây dựng văn bản pháp luật còn thiếu dân chủ, cứng nhắc, cách

lực trí thức, tốt nghiệp từ đại học, cao đẳng trở lên là hơn 2,5 triệu người,
chiếm khoảng 2,15% dân số; nguồn nhân lực từ các doanh nghiệp khoảng 2
triệu người, trong đó, khối doanh nghiệp trung ương gần 1 triệu người…. Sự
xuất hiện của giới doanh nghiệp trẻ được xem như một nhân tố mới trong
nguồn nhân lực, nếu biết khai thác, bồi dưỡng, sử dụng tốt sẽ giải quyết được
nhiều vấn đề quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội.
Vấn đề đào tạo nguồn nhân lực luôn được chính phủ và cả doanh
nghiệp chú trọng quan tâm trong quá trình phát triển kinh tế hiện nay. Về phía
chính phủ, các chính sách giúp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực như trao
học bổng cho những học sinh, sinh viên có kết quả xuất sắc. Đồng thời, chính
phủ cũng khuyến khích các trường Đại học, Cao đẳng, THPT tổ chức những
buổi định hướng nghề nghiệp, định hướng tương lai cho học sinh, sinh viên;
hỗ trợ các trường dạy nghề. Ta có thể thấy trong thời gian vừa qua, bộ Công
thương cũng đã đứng lên tổ chức một số khóa học dạy nghề miễn phí cho đối
tượng lao động hiện đang thất nghiệp, có hoàn cảnh khó khăn góp phần giảm
gánh nặng xã hội đồng thời nâng cao được chất lượng lao động phổ thông.
Trong chính sách thu hút FDI thì vấn đề về nguồn nhân lực luôn được
đặc biệt quan tâm. Bởi lẽ theo như nhận xét chung, nguồn nhân lực nước ta
dồi dào nhưng chất lượng chưa cao. Lượng đào tạo lao động , công nhân có
bằng cấp, chứng chỉ còn rất hạn chế. Vì vậy , trong các chính sách về nguồn
nhân lực của mình, chính phủ luôn cố gắng tạo điều kiện khắc phục, nâng cao
trình độ tay nghề người lao động. Có thể ví dụ như Hội thi tay nghề thế giới
Wordskills sắp tới diễn ra ở London, năm nay, Việt Nam sẽ đưa những thí
sinh và chuyên gia giàu kinh nghiệm tham gia dự thi ở 12 nghề như Thiết kế
cơ khí, Giải pháp phần mềm cho doanh nghiệp; Điện tử; Thiết kế web…
Theo đề nghị hỗ trợ kỹ thuật của Tổng cục dạy nghề, đơn vị chịu trách nhiệm
về công tác chuẩn bị cho đoàn Việt Nam trong các cuộc thi nghề trong nước
và quốc tế, Hội đồng Anh đã mời hai chuyên gia Jennie James và Matthew
James Bell từ dự án Kỹ năng và Cơ hội nghề nghiệp Vương quốc Anh đến
làm việc với các chuyên gia Việt Nam trong chương trình hội thảo tập huấn

lượng nhìn chung thấp. Báo chí nước ngoài thường bình luận người Việt Nam
thông minh, rất nhanh nhạy trong việc nắm bắt và tiếp thu cái mới. Tiếc rằng
nguồn nhân lực này lại chưa được khai thác đầy đủ, đào tạo chưa bài bản,
điều đó ảnh hưởng đến chất lượng nhân lực và ảnh hưởng đến sự phát triển
kinh tế – xã hội Việt Nam.
Tình trạng sức khỏe nguồn nhân lực
Theo các chuyên gia, để phát triển nguồn nhân lực ở Việt Nam trước mắt và
lâu dài cần phải tính đến yếu tố chất lượng sinh đẻ và yếu tố bồi dưỡng sức
dân. Không thể nói đến phát triển nguồn nhân lực khi sinh ra những đứa trẻ
còi cọc, ốm yếu. Không thể nói đến phát triển nguồn nhân lực khi sức dân
không được bồi dưỡng. Vấn đề này liên quan đến hàng loạt các yếu tố khác
như chính sách xã hội, chính sách y tế, chính sách tiền lương, chính sách xây
dựng cơ sở hạ tầng…. Các vấn đề này hiện vẫn chưa được giải quyết một
cách cơ bản.
 Phát triển các ngành công nghiệp phụ trợ:
Công nghiệp phụ trợ (supporting industries) là khái niệm chỉ toàn bộ
những sản phẩm công nghiệp có vai trò hỗ trợ cho việc sản xuất các thành
phẩm chính. Cụ thể là những linh kiện, phụ liệu, phụ tùng, sản phẩm bao bì,
nguyên liệu để sơn, nhuộm, v.v., và cũng có thể bao gồm cả những sản phẩm
trung gian, những nguyên liệu sơ chế.
Những hỗ trợ cho ngành từ phía Nhà nước như ban hành các quyết
định về phát triển ngành công nghiệp phụ trợ như:
- Quyết định của bộ công nghiệp số 34/2007/qđ-bcn ngày 31 tháng 7 năm
2007 phê duyệt quy hoạch phát triển công nghiệp hỗ trợ đến năm 2010, tầm
nhìn đến năm 2020
-Vào cuối tháng 4/2009, Phó Thủ tướng Chính phủ Hoàng Trung Hải đã ấn
nút khởi công dự án Khu công nghiệp hỗ trợ Việt Nam - Nhật Bản số 1 tại
Quế Võ, Bắc Ninh. Đây là khu công nghiệp hỗ trợ đầu tiên của Việt Nam.
-Tháng 7/2010, Thủ tướng Chính phủ đã đồng ý chủ trương đầu tư khu công
nghiệp hỗ trợ Nam Hà Nội và bổ sung khu công nghiệp này vào Danh mục

Ví dụ : Ngay như Toyota, năm 2005 nhập khẩu linh kiện trị giá 460 triệu
USD trong khi giá trị linh kiện sản xuất trong nước chỉ đạt 2,3 triệu USD.
- Ngành xe máy:
Có lẽ cho đến nay chỉ có công nghiệp hỗ trợ trong lĩnh vực sản xuất xe
máy là phát triển mạnh nhất, với khả năng đáp ứng tới 75% các linh phụ kiện
tại chỗ cho các DN lắp ráp . Việt Nam hiện có trên 230 doanh nghiệp sản xuất
linh kiện, phụ tùng cung cấp cho các doanh nghiệp lắp ráp xe máy, trong đó
có hơn 80 doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Tỷ lệ nội địa hóa đối với
một số loại xe máy sản xuất tại Việt Nam đạt mức khá cao (từ 40-70%) do
trong những năm gần đây nhu cầu xe máy tăng đột biến tạo nên thị trường
rộng lớn cho CNPT. Tuy nhiên, các linh phụ kiện sản xuất trong nước chủ
yếu do các liên doanh sản xuất xe máy tự sản xuất hoặc mua từ các công ty có
vốn đầu tư nước ngoài khác. Số doanh nghiệp thuần túy trong nước có đủ
năng lực cung cấp linh phụ kiện cho lắp ráp xe máy rất ít. Đơn cử, trong hàng
trăm doanh nghiệp nội địa, hãng Honda đến năm 2003 chỉ chọn ra được 13
doanh nghiệp có khả năng cung cấp đủ chất lượng.
Những hạn chế còn tồn tại
- Thứ nhất, số lượng các doanh nghiệp hoạt động trong khu vực này còn rất
hạn chế. Các doanh nghiệp này chủ yếu là các doanh nghiệp nhỏ và vừa,
thuộc sở hữu nhà nước, vẫn còn thói quen bao cấp nên rất thụ động trong việc
tìm kiếm khách hàng và "ngại" đổi mới. Các doanh nghiệp cũng chưa nhận
thức được đúng vai trò của mình nên không cạnh tranh để phát triển. Ví dụ:
Hiện Việt Nam có tới 50 doanh nghiệp lắp ráp ôtô, nhưng chỉ có trên 60
doanh nghiệp cung cấp linh kiện, quá thấp so với con số 385 doanh nghiệp ở
Malaixia và 2.500 doanh nghiệp ở Thái Lan. Theo tính toán, một doanh
nghiệp ôtô phải cần tối thiểu 20 nhà cung cấp các loại linh kiện khác nhau.
Nhưng trên thực tế, thời gian qua, các doanh nghiệp lắp ráp ôtô chỉ có 2-3 nhà
cung cấp linh kiện trong nước….
- Thứ hai, chất lượng của các sản phẩm của các doanh nghiệp sản xuất trong
ngành CNPT rất thấp và kém ổn định. Một mặt, các sản phẩm không đáp ứng

- Thứ tư, chưa có sự triển khai các chính sách phù hợp và sự hỗ trợ kịp thời,
đúng mức. Quá trình phát triển CNPT ở Việt Nam chưa diễn ra một cách có
hiệu quả. Doanh nghiệp trong nước đã có nhưng chưa đáp ứng yêu cầu của thị
trường. Do vậy, chưa có sự liên kết chặt chẽ giữa doanh nghiệp FDI và các
công ty trong nước. Mặc dù, các doanh nghiệp ngoài nhà nước ra đời khá
nhiều sau Luật Doanh nghiệp 2000, trong đó có lẽ có khá nhiều doanh nghiệp
thuộc các ngành CNPT, nhưng có nhiều báo cáo cho thấy, các doanh nghiệp
này đang gặp khó khăn trong việc tiếp cận vốn và công nghệ.
III. Kiến nghị một số giải pháp
 Về hạ tầng cơ sở
 Vấn đề đầu tiên phải giải quyết là tập trung quản lý nguồn vốn đang có
đầu tư cho cơ sở hạ tầng.giảm thiểu tham nhũng cùng với những chiến lược
xây dựng phát triển đồng bộ khoa học. Có như vậy chất lượng kết cấu cơ sở
hạ tầng mới được nâng lên, đây là điều kiện quan trọng tác động đến quyết
định đầu tư của các doanh nghiệp nước ngoài, cũng như các doanh nghiệp
trong nước.
 Sự đầu tư cơ sở vật chất hạ tầng như hệ thống điện nước đường xá tại các
khu kinh tế khác nhau cũng cần sự quan tâm có chọn lọc của chính phủ.Cần
chú tâm phát triển những khu kinh tế trọng điểm,những vùng kinh tế biên giới
để có thể tận dụng hết những nguồn lực như lao động,nguyên vật liệu tại địa
phương, tăng cường thu hút FDI đầu tư theo định hướng phát triển của quốc
gia.
 Về thể chế chính sách
 Hoàn thiện hệ thông pháp luật, đặc biệt là luật Đầu tư , tạo điều kiện cho
các doanh nghiệp có vốn FDI đầu tư vào nước ta.
 Tạo cơ chế hành chính thông thoáng, thủ tục giản đơn và nhanh chóng sẽ
là một điểm cộng trong mắt các doanh nghiệp nước ngoài khi có ý định
đầu tư vào Việt Nam. Đây cũng là quy luật tất yếu trong quá trình phát
triển kinh tế, cần thay đổi để phù hợp với cơ chế chung của thế giới.
 Minh bạch các thông tin, số liệu trên các phương tiện thông tin đại chúng

hội; sống có nghĩa tình, có văn hóa, có lý tưởng. Đây cũng là những giá trị
truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam, rất cần được tiếp tục phát huy
trong bối cảnh hội nhập quốc tế, nhất là đối với thế hệ trẻ.
Thứ ba, phát triển nguồn nhân lực phải gắn với nâng cao chất lượng chăm sóc
sức khỏe người dân, chính sách lương - thưởng, bảo đảm an sinh xã hội. Đại
hội XI đã đề cập tới việc cụ thể hóa những hoạt động của lĩnh vực này nhằm
nâng cao chất lượng và hiệu quả chăm sóc sức khỏe nhân dân, đáp ứng yêu
cầu của quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với kinh tế tri
thức trong bối cảnh hội nhập, cạnh tranh gay gắt và yêu cầu cường độ lao
động cao.
Thứ tư, cải thiện và tăng cường thông tin về các nguồn nhân lực theo hướng
rộng rãi và dân chủ, làm cho mọi người thấy được tầm quan trọng của vấn đề
phát triển nguồn nhân lực ở nước ta và trên thế giới
Thứ năm, cần có sự nghiên cứu, tổng kết thường kỳ về nguồn nhân lực Việt
Nam.
Thứ sáu, cần đổi mới tư duy, có cái nhìn mới về con người, nguồn nhân lực
Việt Nam.
 Về phát triển các ngành công nghiệp phụ trợ
 Chính phủ cần cải thiện về mặt hành chính ( bỏ giấy phép con, tinh
giản thanh tra,, kiểm tra ), hỗ trợ về vốn và thông tin… để thúc đẩy các xí
nghiệp nhỏ và vừa thuộc lĩnh vực công nghiệp phụ trợ phát triển. Cũng phải
có biện pháp để các công ty nhà nước trong lĩnh vực này tăng khả năng cạnh
tranh bằng các biện pháp tích cực, tiếp nhận sự chi viện về công nghệ từ nước
ngoài, liên doanh, hợp tác với các công ty nước ngoài, nhất là với các xí
nghiệp nhỏ và vừa của Nhật – những công ty có trình độ kỹ thuật cao và có bề
dày kinh nghiệm trong lĩnh vực này. Đây cũng là chính sách cần thiết để tăng
khả năng cạnh tranh của các công ty trong nước với những xí nghiệp của
Trung Quốc sẽ đầu tư vào nước ta trong thời gian tới.
 Để phát triển các doanh nghiệp trong nước sản xuất phụ tùng và
nguyên liệu, cũng như thu hút các công ty nước ngoài vào lĩnh vực này,

Xin chân thành cảm ơn!

Tài liệu tham khảo
http://www.kilobooks.com/kinh-te-mon/53317-van-de-thu-hut-fdi-tai-viet-nam.html
http://finance.tvsi.com.vn/News/2011817/156878/de-thu-hut-nguon-von-fdi-can-ke-hoach-
mang-tam-chien-luoc.aspx
http://www.idr.edu.vn/diendannghiencuu/showthread.php?p=18305
http://vnexpress.net/gl/kinh-doanh/2011/06/thu-hut-fdi-giam-mot-nua/
http://kinhtevadubao.vn/p0c303n10337/viet-nam-danh-mat-co-hoi-thu-hut-fdi.htm
http://vneconomy.vn/20110826094324484P19C9931/thu-hut-fdi-8-thang-giai-ngan-vuot-
len-dang-ky-let-det.htm
http://vneconomy.vn/20110808053331324P0C5/doanh-nghiep-tu-nhan-bi-phan-biet-tren-
san-nha.htm
http://www.vnecon.vn/showthread.php/29562-Gi%E1%BA%A3i-ph%C3%A1p-thu-h
%C3%BAt-FDI-v%C3%A0o-Vi%E1%BB%87t-Nam
http://www.mpi.gov.vn/portal/page/portal/bkhdt/gtcbkhdt/16823/kcqbtqlnn/c
dtnn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status