CHƯƠNG 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ LIÊN KẾT, HỘI NHẬP
KINH TẾ QUỐC TẾ VÀ TỔNG QUAN THỊ TRƯỜNG EU
1.1 KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM VÀ HÌNH THỨC LIÊN KẾT HỘI NHẬP
KINH TẾ QUỐC TẾ
Liên kết và hội nhập kinh tế quốc tế đang là một xu hướng tất yếu của thời
đại ngày nay. Xu thế này mang đến cho các quốc gia rất nhiều cơ hội phát triển
song cũng đưa lại không ít khó khăn mà các quốc gia phải đối mặt và giải quyết.
1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của liên kết kinh tế quốc tế
1.1.1.1 Khái niệm
Liên kết kinh tế quốc tế là quá trình hợp nhất các nền kinh tế của các
quốc gia trong một hệ thống kinh tế thống nhất với các mối quan hệ kinh tế
được sắp xếp trong một trật tự nhất định trên cơ sở thỏa thuận giữa các nước
thành viên.
Liên kết kinh tế quốc tế làm tăng cường quá trình phối hợp và điều chỉnh
lợi ích và lợi thế của các thành viên, giảm thiểu những chênh lệch về trình độ
phát triển và thúc đẩy các quan hệ kinh tế quốc tế phát triển cả về khối lượng và
cường độ, cả về chiều rộng và chiều sâu.
1.1.1.2 Đặc trưng của liên kết kinh tế quốc tế
Thứ nhất, liên kết kinh tế quốc tế hình thành và phát triển là do sự phụ
thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia ngày càng gia tăng. Quá trình này có nguồn
gốc từ sự phân công lao động quốc tế theo chiều sâu trên cơ sở việc ứng dụng
nhanh chóng và có hiệu quả những tiến bộ khoa học công nghệ.
Thứ hai, liên kết kinh tế quốc tế là một hoạt động tự giác của các Chính
phủ trên cơ sở nhận thức được những lợi ích do quá trình này mang lại. Liên kết
kinh tế quốc tế tạo ra khuôn khổ lớn hơn về mặt kinh tế và pháp lý cho cuộc
4
cạnh tranh kinh tế giữa các chủ thể thuộc nền kinh tế của các nước thành viên và
tạo môi trường thuận lợi cho các hoạt động kinh tế quốc tế.
Thứ ba, liên kết kinh tế quốc tế là một giải pháp hợp lý để xử lý mối quan
hệ có tính chất đối nghịch nhau giữa các xu hướng tự do hóa thương mại và bảo
• Hội nhập kinh tế quốc tế là quá trình xóa bỏ từng bước và từng phần
các rào cản về thương mại và đầu tư giữa các quốc gia theo hướng tự
do hóa kinh tế.
• Hội nhập kinh tế quốc tế tạo thuận lợi cho việc thực hiện các công
cuộc cải cách ở các quốc gia nhưng đồng thời cũng là yêu cầu, sức ép
đối với các quốc gia trong việc đổi mới và hoàn thiện thể chế kinh tế,
đặc biệt là các chính sách và phương thức quản lý vĩ mô.
• Hội nhập kinh tế quốc tế chính là tạo dựng các nhân tố mới và điều
kiện mới cho sự phát triển của từng quốc gia và cộng đồng quốc tế
trên cơ sở trình độ phát triển ngày càng cao và hiện đại của lực lượng
sản xuất.
• Hội nhập kinh tế quốc tế chính là sự khơi thông các dòng chảy nguồn
lực trong và ngoài nước, tạo điều kiện mở rộng thị trường, chuyển
giao công nghệ và các kinh nghiệm quản lý.
1.1.2.2. Hội nhập kinh tế quốc tế là xu hướng khách quan.
Ngày nay, một mặt do trình độ phát triển cao của lực lượng sản xuất làm
cho tính chất xã hội hóa của chính nó càng vượt ra khỏi phạm vi biên giới quốc
gia, lan tỏa sang các quốc gia khu vực và thế giới nói chung và mặt khác, tự do
hóa thương mại cũng đang trở thành xu hướng tất yếu và được xem là nhân tố
quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và nâng cao mức sống của mọi quốc
gia. Chính vì vậy, hầu hết các quốc gia trên thế giới theo định hướng phát triển
của mình đều điều chỉnh các chính sách theo hướng mở cửa, giảm và tiến tới dỡ
bỏ các hàng rào thương mại, tạo điều kiện cho việc lưu chuyển các nguồn lực và
6
hàng hóa tiêu dùng giữa các quốc gia ngày càng thuận lợi hơn, thông thoáng hơn.
Như vậy, mỗi quốc gia trong quá trình hội nhập để phát triển, trong bối
cảnh cạnh tranh gay gắt đều phải chú ý đến các quan hệ trong và ngoài khu vực.
Về lâu dài, cũng như trước mắt, việc giải quyết các vấn đề của quốc gia đều phải
tính đến và cân nhắc với xu hướng hội nhập toàn cầu để đảm bảo lợi ích phát
triển tối ưu của mỗi quốc gia. Việt Nam cũng không nằm ngoài quá trình này.
1.1.3.2 Những tác động tiêu cực
Các tác động chủ yếu của liên kết và hội nhập kinh tế quốc tế tới từng
quốc gia thành viên và đối với nền kinh tế thế giới chủ yêu thể hiện ở những
điểm sau:
Một là tạo ra sự cạnh tranh giữa các nước thành viên khi hình thành một
thị trường thống nhất, gây xáo trộn các quan hệ kinh tế đã được hình thành trong
từng nền kinh tế của từng nước, làm phá sản doanh nghiệp và có thể ảnh hưởng
đến công ăn việc làm của dân cư trong các nước thành viên.
Hai là gây ra tình trạng chia cắt thị trường thế giới, hình thành các nhóm
lợi ích cục bộ và làm chậm tiến trình toàn cầu hóa nền kinh tế thế giới.
1.1.4 Các loại hình liên kết, hội nhập kinh tế quốc tế
Liên kết hội nhập kinh tế quốc tế được xem xét theo các góc độ khác
nhau. Tương ứng với mỗi góc độ xem xét có những hình thức liên kết nhất định.
Thứ nhất, theo góc độ chủ thể có liên kết nhỏ và liên kết lớn. Liên kết nhỏ
là loại hình liên kết giữa các công ty hoặc giữa các doanh nghiệp. Hình thức này
được thực hiện ở từng khâu của quá trình sản xuất bao gồm nghiên cứu, thiết kế,
thử nghiệm chế tạo sản phẩm mới, chuyên môn hóa và hợp tác hóa sản xuất các
sản phẩm và chi tiết sản phẩm, liên kết trong tiêu thụ, quảng cáo, vận tải và thực
hiện các dịch vụ sau bán hàng. Liên kết lớn là liên kết giữa các chính phủ giữa
các nước thành viên thông qua việc ký kết các Hiệp định quốc tế. Hình thức liên
kết lớn gồm có liên kết giữa các quốc gia và liên kết siêu quốc gia. Liên kết giữa
8
các quốc gia là loại hình liên kết trong đó cơ quan lãnh đạo liên kết là đại biểu
của các quốc gia thành viên tham gia với các quyền hạn chế. Các quyết định của
liên kết chỉ có tính chất tham khảo đối với các nước thành viên còn quyết định
cuối cùng do từng chính phủ quyết định. Liên kết siêu quốc gia là liên kết trong
đó cơ quan lãnh đạo là đại diện của các quốc gia có những quyền rộng lớn.
Thứ hai, căn cứ vào các cấp độ của liên kết có khu vực mậu dịch tự do,
liên minh thuế quan, thị trường chung, đồng minh kinh tế và liên minh tiền tệ.
Khu vực mậu dịch tự do (Free Trade Area): Đây là một hình thức liên kết
là các thành viên có thể là hai hoặc nhiều hơn thành lập thị trường chung, nghĩa là
các hàng hóa, dịch vụ, sức lao động và vốn đầu tư được di chuyển một cách tự do.
Các nước có biểu thuế quan chung với các nước không phải là thành viên.
1.2 Tổng quan về quá trình hình thành và phát triển của EU
1.2.1 Sự ra đời của Cộng đồng châu Âu
Cộng đồng than thép châu Âu, tổ chức tiền thân của EU: Ngày 18/2/1951,
Hiệp ước thành lập cộng đồng than thép châu Âu (ECSC) được 5 nước Đức, Bỉ,
Hà-Lan, Lúc-xem-bua, và I-ta-lia cùng Pháp ký tại Paris, và ngày 23/7/1952,
Cộng đồng Than Thép Châu Âu chính thức ra đời.
Sự ra đời tiếp theo của EEC và Euratom: Hội nghị liên chính phủ tại
Venise ngày 29/5/1956 chấp thuận tiến hành đàm phán để đi đến thành lập Cộng
đồng kinh tế châu Âu (EEC) và Cộng đồng năng lượng nguyên tử châu Âu
(Euratom). Ngày 25/3/1957, Hiệp ước thành lập hai Cộng đồng nói trên được ký
kết, và ngày 1/1/1958 hai Cộng đồng này chính thức ra đời.
1.2.2 Sự hình thành liên minh tiền tệ châu Âu
Trong lĩnh vực tiền tệ, cuối năm 1958, Hiệp định về Tiền tệ Châu Âu đã bắt
đầu có hiệu lực. Đến đầu năm 1972, cùng với kinh tế, giai đoạn đầu của một liên
minh tiền tệ đã được chuẩn bị những điều kiện cần thiết. Tháng 5/1998, Hội
đồng đặc biệt của Liên minh Châu Âu đã đưa ra quyết nghị rằng 11 nước thuộc
10
EU đã thoả mãn các điều kiện phát hành một đồng tiền chung. Trải qua bao năm
thăng trầm nhưng đúng theo kế hoạch, từ 1/1/1999, 11 trong số 15 thành viên
EU là Áo, Bỉ, Luc-xem-bua, Phần-lan, Pháp, Ai-len, Đức, I-ta-lia, Hà-Lan, Bồ-
đào-nha và Tây-ba-nha đã thông qua đồng tiền chính thức được lưu hành trên
toàn lãnh thổ 12 nước được gọi là khu vực EURO, đánh dấu một thắng lợi vĩ đại
về những nỗ lực của Liên minh tiền tệ Châu Âu.
1.2.3 Thể chế của liên minh Châu Âu
Nghị viện Châu Âu: Nghị viện Châu Âu là cơ quan lập pháp của EU, gồm
626 nghị sĩ của các nước thành viên và được chia thành 18 ủy ban. Nghị viện
châu Âu có chức năng thông qua nhân sách, kiểm tra, giám sát việc thực hiện các
Các ủy ban này cũng có thể đưa ra quan điểm riêng của mình về những vấn đề
mà ủy ban cho là quan trọng.
1.2.4 Mục đích mở rộng của EU
Kể từ khi thành lập, EU liên tục được củng cố và mở rộng. Cho tới nay,
xét về mặt thời gian, Liên minh châu Âu đã 5 lần mở rộng thông qua việc kết
nạp các nước thành viên mới.
Theo ý kiến của nhiều chuyên gia, và ngay cả các nhà lãnh đạo EU cũng
thừa nhận là mục đích đầu tiên, trước mắt và bao trùm lên chiến lược mở rộng
lần này là mục tiêu chính trị. Việc mở rộng lần này là một cơ hội lịch sử nhằm
thống nhất Châu Âu sau nhiều thế hệ chia rẽ và đối đầu, nó còn có ý nghĩa hàn
gắn một Châu Âu bị chia rẽ và tạo ra một khối đoàn kết hơn của các công dân
Châu Âu. Sau sự kiện 11/9/2001 tại Hoa Kỳ, một Châu Âu mạnh và đoàn kết là
vấn đề quan trọng hơn bao giờ hết để củng cố an ninh khu vực, và khi đó sẽ tăng
cường được uy tín chính trị của EU trên trường quốc tế, để có thể làm đối trọng
với Hoa Kỳ trong việc giải quyết các vấn đề toàn cầu.
Về mục đích kinh tế, trong những năm đầu khi mở rộng, các nhà lãnh đạo
EU không tham vọng nhiều trong việc cải thiện tình trạng kinh tế trì trệ của họ,
vì các thành viên cũ phải tập trung nguồn lực để cải cách thể chế của Liên minh
12
vốn đang rất quan liêu và cồng kềnh, cho phù hợp với một Liên minh gồm 25
đến 28 thành viên. Hơn nữa các thành viên cũ phải tập trung nguồn lực để cải
cách cơ cấu kinh tế của các thành viên mới cho đồng nhất với cơ cấu kinh tế của
các thành viên cũ, đồng thời để nâng mức sống của cộng đồng dân cư khu vực các
thành viên mới chỉ bằng 24% mức GDP đầu người trung bình ở các thành viên cũ.
Tuy nhiên, khi lượng người tiêu dùng tăng lên, thị trường được mở rộng
sẽ kích thích kinh tế phát triển. Việc Châu Âu liên minh lại với nhau sẽ đưa đến
một châu lục mạnh hơn và ổn định hơn, bổ sung cho nhau về nhiều lĩnh vực như
thị trường tiêu thụ sản phẩm, lao động, đầu tư,.v.v., như vậy có thể giúp Châu
Âu tận dụng được những lợi thế trong một thị trường nội địa thống nhất. Một thị
trường lớn như vậy sẽ tạo điều kiện thúc đẩy đầu tư và tạo thêm nhiều việc làm
1-1-1994: Giai đoạn II của Liên minh kinh tế và tiền tệ bắt đầu và Viện Tiền tệ châu Âu
(EMI) được thành lập.
17-6-1997: Hội đồng châu Âu họp tại Amsterdam và đưa ra dự thảo Hiệp ước mới.
30-3-1998: Một cuộc gặp cấp bộ trưởng đã khởi động cho quá trình gia nhập của 10 nước
Trung và Đông Âu, Síp và Manta.
3-5-1998: một Hội đồng đặc biệt quyết định rằng 11 nước thành viên đã đáp ứng được yêu
cầu về sử dụng đồng tiền chung kể từ ngày 1-1-1999. Chủ tịch của Ngân hàng Trung ương châu Âu
được bổ nhiệm.
1-1-1999: Đồng Euro chính thức ra đời tại các quốc gia: Áo, Bỉ, Phần Lan, Đức, Ailen, Italia,
Lucxămbua, Hà Lan, Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha.
7-8-12-2000: Một Hiệp ước mới được ký kết tại Nice, ngay sau khi kết thúc Hội nghị liên
chính phủ (IGC).
15-12-2001: Tuyên bố Laeken khởi động cho quá trình cải cách Hiến pháp.
28-2-2002: Các đồng nội tệ quốc gia hết giá trị pháp lý tại EMU. Hội nghị về cải cách thể chế
được bắt đầu tại Brussels (Brucxen).
9-10-2002: Uỷ ban tuyên bố rằng 8 nước Trung và Đông Âu (Ba Lan, Cộng hoà Séc,
Hunggari, Xlôvakia, Xlôvenia, Extônia, Lýtva, Látvia) cộng với Síp và Manta sẽ đáp ứng được tiêu
chuẩn Copenhagen vào năm 2002.
25-10-2002: Một Hội đồng châu Âu đặc biệt được triệu tập tại Brussels đã thông qua đề xuất
của Uỷ ban châu Âu.
28-10-2002: Một khuôn khổ đầu tiên của Hiến pháp Châu Âu được Chủ tịch Hội nghị Châu
Âu Valery Giscar d’Estaing đưa ra.
12-13-12-2002: Hội đồng châu Âu họp tại Copenhagen chính thức kết thúc các cuộc đàm
phán xin gia nhập đối với 8 nước Trung và Đông Âu +Manta và Síp; một khoản tài chính trọn gón
được nhất trí dành cho mỗi nước trong các năm 2004 – 2005 – 2006.
1-2-2003: Hiệp ước Nice bắt đầu có hiệu lực.
16-4-2003: Các hiệp ước kết nạp thành viên mới được ký kết tại Athens.
20-6-2003: Bản dự thảo Hiến pháp được đệ trình ra cuộc họp tại Saloniki của người đứng
đầu nhà nước và chính phủ các nước thành viên.
5-2004: Mười quốc gia thành viên mới gia nhập EU.
cường quan hệ hợp tác thương mại với EU là phù hợp với xu thế chung đó.
Trong khu vực châu Âu, EU là một trung tâm kinh tế mạnh, có vai trò
lớn trong nền kinh tế và thương mại thế giới. EU cũng là đơn vị giao dịch thống
nhất lớn nhất thế giới, chiếm tới 20% tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa
toàn cầu. Vai trò quan trọng của EU trong mậu dịch toàn cầu sẽ còn lớn hơn với
kế hoạch mở rộng và phát triển trong 5-10 năm tới, trong đó có việc đón nhận
các thành viên mới ở Đông Âu. EU với tư cách là một Liên minh kinh tế và tiền
tệ lớn, một trong ba trung tâm kinh tế của thế giới, đã có ảnh hưởng không nhỏ
đến sự phát triển kinh tế thương mại của Việt Nam trong thập kỷ 90 thế kỷ 20.
Những tác động tích cực của EU đối với kinh tế Việt Nam sẽ góp phần củng cố
và hoàn thiện hơn mối quan hệ thương mại Việt Nam- EU nói riêng và cũng như
ASEAN- EU nói chung trong thập kỷ đầu của thế kỷ 21.
Bên cạnh đó, trên cơ sở lý thuyết về lợi thế tuyệt đối và lợi thế so sánh
tương đối thì cơ cấu kinh tế của Việt Nam và các nước châu Âu hoàn toàn có thể
bổ sung cho nhau. Những mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam lại là
những mặt hàng mà thị trường châu Âu có nhu cầu nhập khẩu lớn và ngược lại.
Quan hệ thương mại Việt Nam- EU được phát triển, mở rộng, Việt Nam
có điều kiện đẩy mạnh xuất nhập khẩu, trao đổi hàng hóa với nước ngoài, góp
phần cân bằng cơ cấu thị trường xuất nhập khẩu, hạn chế và phân tán rủi ro
thương mại, tránh bị phụ thuộc vào một thị trường. Đồng thời, thị trường Việt
Nam sẽ trở nên phong phú hơn, đa dạng và nhộn nhịp hơn các hàng hóa nhập
khẩu từ châu Âu, người tiêu dùng có nhiều cơ hội chọn lựa các mặt hàng nhập
khẩu từ châu Âu. Ngoài ra, Việt Nam cũng có điều kiện tham gia vào phân công
lao động quốc tế qua các chương trình hợp tác liên doanh, tạo điều kiện đầu tư,
phát triển chiều sâu theo hướng chuyên môn hóa sản xuất quốc tế. Cụ thể, thị
trường Việt Nam sẽ trở nên hấp dẫn hơn và do đó thu hút được nhiều hơn các
dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài và hỗ trợ phát triển chính thức cùng với
những công nghệ mới, hiện đại, kỹ năng quản lý đi kèm theo, không những từ
16
các nhà đầu tư châu Âu mà cả các nhà đầu tư nước ngoài khác trên thế giới và
kinh tế và văn hóa.
Ngày nay, những tập quán, tâm lý xã hội, văn hoá đặc thù của dân tộc
không phải là rào cản quá khó khăn để vượt qua. Hơn nữa, do xu thế toàn cầu
hoá, khu vực hoá mạnh mẽ nên trong kinh doanh có những yếu tố văn hoá ngày
càng gần với thông lệ, chuẩn mực quốc tế. Mặt khác, thị trường EU thống nhất
cho phép tự do lưu chuyển sức lao động, hàng hoá và vốn giữa các nước thành
viên. Do đó, thị trường EU có tính đa dạng trong sự thống nhất.
1.4.1.1 Tập quán, thị hiếu tiêu dùng và kênh phân phối
Tập quán và thị hiếu tiêu dùng
Do trình độ phát triển kinh tế - xã hội của các nước thành viên khá đồng
đều và có những điểm tương đồng về địa lý, văn hoá, cho nên người dân thuộc
khối EU có những điểm chung về sở thích và thói quen tiêu dùng.
Đối với hàng may mặc và giầy dép: Người dân Áo, Đức và Hà Lan chỉ
mua hàng may mặc và giầy dép không chứa chất nhuộm có nguồn gốc hữu cơ
(Azo - dyes). Khách hàng EU đặc biệt quan tâm tới chất lượng và thời trang của
hai loại sản phẩm này. Nhiều khi yếu tố thời trang lại có tính quyết định cao hơn
nhiều so với giá cả. Đối với nhóm hàng giầy dép: Người tiêu dùng EU đang có
xu hướng đi giày vải. Đối với hai mặt hàng này nhu cầu thay đổi nhanh chóng,
đặc biệt về mẫu mốt.
Đối với thuỷ hải sản: Một điểm đáng lưu ý là EU đang có xu hướng giảm
tiêu dùng súc sản, gia cầm và tăng tiêu dùng thủy hải sản. Tuy nhiên, người tiêu
dùng EU không mua những sản phẩm thuỷ hải sản nhập khẩu bị nhiễm độc do
tác động của môi trường hoặc do chất phụ gia không được phép sử dụng. Với
sản phẩm thuỷ hải sản đã qua chế biến, người Châu Âu chỉ dùng những sản
phẩm đóng gói có ghi rõ tên sản phẩm nơi sản xuất, các điều kiện bảo quản và sử
dụng, mã số và mã vạch. Họ tẩy chay các loại thuỷ hải sản nhập khẩu có chứa
18
khuẩn salmonella, độc tố lustamine, nhiễm V.Parahaemoliticus, nhiễm
V.cholesae. Người Châu Âu ngày càng ăn nhiều thuỷ hải sản vì họ cho rằng sẽ
giảm được béo mà vẫn khoẻ mạnh.
Xu hướng tiêu dùng trên thị trường EU đang có những thay đổi như:
không thích sử dụng đồ nhựa mà thích dùng đồ gỗ, thích ăn thuỷ hải sản hơn ăn
thịt, yêu cầu về mẫu mốt và kiểu dáng hàng hoá thay đổi nhanh, đặc biệt đối với
những mặt hàng thời trang như giầy dép, quần áo. Cùng với sự phát triển mạnh
mẽ của khoa học công nghệ, sở thích và thói quen tiêu dùng của người Châu Âu
đang có xu hướng chuyển từ những sản phẩm chất lượng cao, giá đắt, vòng đời
sản phẩm dài sang những sản phẩm có chu trình sống ngắn hơn, giá rẻ hơn và
phương thức dịch vụ tốt hơn. Tuy vậy, chất lượng hàng hoá vẫn là yếu tố quyết
định đối với phần lớn các mặt hàng được tiêu thụ trên thị trường này.
Kênh phân phối
Hệ thống phân phối EU về cơ bản cũng giống như hệ thống phân phối của
một quốc gia, gồm mạng lới bán buôn và mạng lới bán lẻ. Hiện nay, cuộc cách
mạng khoa học công nghệ ở Tây Âu đã dẫn tới sự thay đổi cơ cấu các ngành
kinh tế, kéo theo sự biến đổi về cơ cấu ngành kinh tế, kéo theo là trào lưu “Nhất
thể hoá” và “Tổ chức lại” các công ty xuyên quốc gia.
“Nhất thể hoá” hay là sự sát nhập hợp nhất của các công ty xuyên quốc
gia. Quá trình này đang diễn ra sôi động trong hầu hết các lĩnh vực sản xuất đến
lu thông, và biểu hiện đậm nét ở các ngành: hàng không, sản xuất ôtô, tài chính -
ngân hàng - bảo hiểm.
Trào lưu “Tổ chức lại” cũng không kém phần sôi động thông qua việc tìm
nguồn cung ứng từ nước ngoài, tập trung vào việc phát triển những sản phẩm
công nghệ cao ở trong nước và hoạt động tiếp thị.
Các công ty xuyên quốc gia EU thường phát triển theo mô hình gồm:
ngân hàng hoặc công ty tài chính, nhà máy, công ty thương mại, siêu thị, cửa
hàng .v.v… Các công ty xuyên quốc gia tổ chức mạng lưới tiêu thụ hàng của
mình rất chặt chẽ, họ chú trọng từ khâu đầu tư sản xuất hoặc mua hàng đến khâu
20
phân phối hàng cho mạng lới bán lẻ.
Hình thức tổ chức phổ biến nhất của các kênh phân phối trên thị trường
EU là theo tập đoàn và không theo tập đoàn. Kênh phân phối theo tập đoàn có
qui định về cách tính thuế, miễn hoặc giảm thuế, xuất xứ hàng hoá. Hiệp ước
Roma có quy định điều khoản theo đó các thành viên EC luôn sẵn sàng đàm
phán nhằm cắt giảm các mức thuế quan chung. Khi CCT đã được xây dựng ở các
mức thì các thành viên phải có nghĩa vụ áp dụng chúng theo một cách thống
nhất. Điều này liên quan đến danh mục các mặt hàng, thủ tục tính thuế và các
quy định về xuất xứ hàng hoá kết hợp với việc thực hiện chương trình ưu đãi
thuế quan phổ cập (GSP).
Muốn nắm được các đặc điểm trong chính sách ngoại thương EU, cần
phải nghiên cứu biểu thế quan có liên quan đến xuất xứ của hàng hoá. Xuất xứ
hàng hoá của EU được quy định như sau:
- Đối với các sản phẩm hoàn toàn được sản xuất tại lãnh thổ nước hưởng
GSP như: khoáng sản, động thực vật, thuỷ sản đánh bắt trong lãnh hải và các
hàng hoá sản xuất từ sản phẩm đó được xem là có xuất xứ và được hưởng GSP.
- Đối với các sản phẩm sản xuất tại nước hưởng GSP (tính theo giá xuất
xưởng) phải đạt 60% tổng trị giá hàng liên quan. Tuy nhiên, đối với một số nhóm
hàng thì hàm lượng này thấp hơn. EU quy định cụ thể tỷ lệ trị giá và công đoạn gia
công đối với một số nhóm hàng mà yêu cầu phần trị giá sáng tạo thấp hơn 60%.
EU còn quy định xuất xứ cộng gộp, theo đó hàng của một nước có thành
phần xuất xứ từ một nước cùng một tổ chức khu vực cũng được GSP thì các thành
phần đó cũng được xem là có xuất xứ từ nước liên quan. Đây là đặc điểm về xuất
xứ của EU mà các doanh nghiệp Việt Nam cần hết sức lưu ý và vận dụng.
1.4.2.2 Chương trình ưu đãi thuế quan phổ cập (GSP) của EU
Chế độ GSP là một biện pháp đẩy mạnh thương mại của EU đối với các
nước đang và chậm phát triển (trong đó có Việt Nam) với mục đích giúp cho
22
hàng hóa của nước này tăng khả năng thâm nhập vào thị trường EU thông qua
một số ưu đãi thuế quan nhất định, từ đó thúc đẩy kinh tế của các nước này phát
triển. Chế độ GSP được xây dựng dựa trên nguyên tắc tự nguyện, không đòi hỏi
có đi có lại, đơn phương quyết định.
Chương trình này trong những năm gần đây được cụ thể hoá ở một số văn
và khu vực dành cho các nước đang phát triển vào loại thấp nhất. Theo GSP của
EU bắt đầu có hiệu lực từ ngày 1/7/1999 thì những trường hợp sau được hưởng
ưu đãi thêm:
+ Bảo vệ quyền lợi của người lao động: nước hưởng GSP cần chứng minh
trong các văn bản pháp quy của mình có các quy định về các tiêu chuẩn áp dụng
các nguyên tắc về tổ chức, đàm phán tập thể và tuổi lao động tối thiểu.
+ Bảo vệ môi trường: các văn bản pháp quy của nước hưởng GSP phải có
các quy định áp dụng các tiêu chuẩn về bảo vệ môi trường.
Uỷ ban châu Âu đề xuất hệ thống ưu đãi thương mại cho giai đoạn
2006-2008 dành cho các nước hưởng lợi có nhu cầu nhất, đơn giản hơn và
khuyến khích phát triển bền vững:
Ngày 20/10/2004, Uỷ ban châu Âu đã thông qua một đề xuất bao gồm
những chi tiết về hệ thống ưu đãi thương mại EU (Hệ thống Ưu đãi Phổ cập –
GSP) cho giai đoạn 2006-2008. Đề xuất này được xây dựng trên hướng dẫn của
Uỷ ban châu Âu ban hành trong tháng 7/2004.
GSP là một công cụ chính để giúp các nước đang phát triển giảm nghèo
đói bằng cách khuyến khích xuất khẩu sang châu Âu. Đề xuất của Uỷ ban là
nhằm cải thiện hệ thống hiện tại trong một số lĩnh vực: đơn giản hoá (cắt giảm từ
5 xuống 3 thoả thuận); mở rộng diện sản phẩm; tập trung lợi ích vào những mặt
hàng mà các nước đang phát triển đang cần nhất; thiết lập các lợi ích GSP bổ
sung (GSP +) nhằm khuyến khích phát triển bền vững. Văn bản này sẽ được gửi
đến các thành viên EU, Nghị viện châu Âu và Uỷ ban Kinh tế và Xã hội để
24
thông qua và đi vào thực hiện ngày 1/7/2005.
Nội dung chủ yếu của đề xuất:
Một GSP mới đơn giản hơn: Năm nhóm GSP hiện tại được giảm xuống
còn 3 nhóm gồm:
- Giảm 3,5% trong tổng thuế quan thông thường cho các sản phẩm nhạy
cảm, giảm thuế quan xuống 0 cho các sản phẩm không nhạy cảm),
- Được xuất khẩu “Mọi thứ trừ vũ khí” đem lại tiếp cận không thuế quan
thường” của EU dựa vào chi phí sản xuất cộng với lợi nhuận cận biên. Vấn đề là
mức lợi nhuận như thế nào mới được coi là thích hợp. Xu hướng của EU là tính
mức lợi nhuận cao, có khi tới 30%.
Bán phá giá thường liên quan tới hàng nhập khẩu bán giá rẻ hoặc với giá
thấp hơn chi phí, nhưng thực tế vấn đề này phức tạp hơn nhiều. Quy chế chống
bán phá giá năm 1996 quy định việc áp dụng thuế chống bán phá giá, nhưng chỉ
được áp dụng thuế này trong những điều kiện sau:
- Có phát hiện bán phá giá: Giá xuất khẩu của sản phẩm bán trên thị
trường cộng đồng Châu Âu thấp hơn giá bán tại thị trường trong nước của nhà
xuất khẩu.
- Có tổn hại vật chất cho doanh nghiệp của cộng đồng: Hàng nhập khẩu
gây ra hoặc đe doạ gây tổn thất cho phần lớn ngành kinh doanh trong cộng đồng
Châu Âu, chẳng hạn như mất thị phần, buộc các nhà sản xuất phải giảm giá và
gây sức ép đối với sản xuất, bán hàng, lợi nhuận, năng suất…
- Lợi ích của Cộng đồng: Chi phí mà cộng đồng bỏ ra để thực hiện các
biện pháp không được tỷ lệ nghịch với lợi ích thu được.
Uỷ Ban Châu Âu chịu trách nhiệm điều tra những khiếu nại và đánh giá
liệu những khiếu nại này có hợp lý hay không. Uỷ Ban cũng có thể áp dụng các
biện pháp chống bán phá giá tạm thời và chỉ được áp dụng biện pháp chống bán
phá giá chính thức đối với sản phẩm than và thép. Hội đồng Bộ trưởng là nơi
26
quyết định biện pháp chống bán phá giá chính thức trong mọi trường hợp.
Khi mức bán phá giá đã được tính toán thì bước tiếp theo là xác định liệu
các mặt hàng bán phá giá đó có tổn hại đến ngành sản xuất nội địa hay không.
Mức độ gây tổn hại thường được đo bằng các chỉ số như lợi nhuận, công suất
hoạt động và thị phần. Quá trình này cần đến việc thu thập và xử lý một lượng
thông tin lớn về kinh tế, tài chính và thương mại.
Sau khi xác định được mức bán phá giá và mức độ tổn hại đối với các
ngành sản xuất nội địa, EU sẽ áp dụng các mức thuế chống bán phá giá hoặc
chấp nhận đề nghị từ phía người xuất khẩu là họ sẽ giảm lượng bán hoặc nâng
tế lớn và đang có xu hướng giảm. Hàng xuất khẩu Việt Nam muốn vào được thị
trường này thì phải vượt qua được rào cản kỹ thuật của EU. Rào cản kỹ thuật
chính là quy chế nhập khẩu chung và các biện pháp bảo vệ quyền lợi người tiêu
dùng của EU, được cụ thể hoá ở 5 tiêu chuẩn của sản phẩm: chất lượng, vệ sinh
thực phẩm, an toàn cho người sử dụng, bảo vệ môi trường và lao động.
1.4.3.1 Thứ nhất là tiêu chuẩn chất lượng
Hệ thống quản lý chất lượng ISO 9000 gần như là yêu cầu bắt buộc đối
với các doanh nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu sang thị trường EU thuộc các
nước đang phát triển. Thực tế cho thấy ở các nước đang phát triển Châu Á và
Việt Nam, hàng của những doanh nghiệp có giấy chứng nhận ISO 9000
thâm
nhập vào thị trường EU dễ dàng hơn nhiều so với hàng hoá của các doanh
nghiệp không có giấy chứng nhận này.
Đây là Hệ thống quản lý chất lượng do Tổ chức tiêu chuẩn quốc tế đặt
ra để giúp các đơn vị sản xuất cải tiến hệ thống quản lý nhằm nâng cao năng
suất và chất lượng sản phẩm, duy trì sự đồng nhất và phù hợp giữa chất lượng
và giá thành. Có thể coi ISO 9000 như một ngôn ngữ xác định chữ tín giữa
doanh nghiệp và khách hàng, giữa doanh nghiệp và doanh nghiệp, là sự khẳng
định cam kết cung ứng sản phẩm có chất lượng đáng tin cậy cũng như
“phương tiện thâm nhập” vào thị trường EU mà các doanh nghiệp Việt Nam
28