môi trường kinh tế EU và đưa ra một số giải pháp nhằm thúc đẩy quá trình xuất khẩu hàng hóa Việt nam vào thị trường EU - Pdf 11


Lêi nãi ®Çu
Trong lịch sử kinh tế nhân loại, dệt may là ngành khởi đầu cho việc phát
triển các ngành công nghiệp trên thế giới. Đây là ngành kinh tế có thị trường tiêu
thụ rộng lớn, sử dụng nhiều lao động, công nghệ đơn giản, rất thích hợp cho buổi
đầu phát triển kinh tế. Việt Nam là nước có xuất phát điểm thấp, trình độ lạc hậu,
vì thế Đảng và Nhà nước đã xác định dệt may là ngành mũi nhọn trong giai đoạn
đầu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Từ khi đất nước ta mở cửa đến
nay, xuất khẩu dệt may là một trong những nguồn thu ngoại tệ chủ yếu của quốc
gia, góp phần quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tạo công ăn việc làm,
nâng cao đời sống nhân dân. Vì vậy, thúc đẩy xuất khẩu dệt may là nhiệm vụ
chiến lược nhằm phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo nền kinh tế phát triển hiệu
quả, bền vững.
Trong bối cảnh hiện nay, xu hướng tự do hoá thương mại đang diễn ra mạnh mẽ
trong từng khu vực và trên thế giới. Hòa cùng xu thế đó, Việt Nam ngày càng tham gia
tích cực vào các tổ chức quốc tế, mở rộng các mối quan hệ song phương. Một trong
những đối tác quan trọng của Việt Nam phải kể đến đó là EU. Với dân số đông, thu
nhập cao, thị trường EU đang là thị trường tiêu thụ hàng hoá nói chung và hàng dệt
may nói riêng đứng thứ hai thế giới. Bên cạnh thị trường Mỹ đầy tiềm năng và nhiều
hứa hẹn thì EU vẫn là thị trường dệt may truyền thống, giữ vị trí chiến lược hàng đầu.
Đây là môt thị trường có nhu cầu phong phú và đa dạng song cũng rất “khó tính”. Các
doanh nghiệp dệt may Việt Nam cho đến nay vẫn chỉ chiếm một vị trí khiêm tốn so với
các nước xuất khẩu dệt may khác như Trung Quốc, Ấn Độ, Pakistan…Một trong những
nguyên nhân dẫn đến tình trạng đó là do sức cạnh tranh của hàng dệt may Việt Nam
còn thấp. Từ 1/1/2005, WTO chính thức bãi bỏ hạn ngạch dệt may giữa các nước thành
viên. Mặc dù chưa gia nhập WTO nhưng EU vẫn dành ưu đãi trên cho Việt Nam. Đây
là cơ hội to lớn song đồng thời là thách thức không nhỏ cho dệt may Việt Nam trong
việc khẳng định chỗ đứng trên thị trường EU. Theo quan điểm thị trường, Việt Nam
muốn hội nhập nhanh chóng vào nền kinh tế khu vực và thế giới thì một yếu tố quan
trọng là phải đưa ra được những sản phẩm có sức cạnh tranh hay có lợi thế so sánh
với các sản phẩm cùng loại của các nước khác.

may, khoỏng sn, thu sn, giy dộp, nụng sn, gm, gia dng, c phờ,
chố, gia v. õy cng l th mnh ca xut khu Vit Nam v l nhng mt hng
th trng EU a chung.
T nm 1990 n nay, EU tớch cc y mnh nht th hoỏ trờn tt c cỏc
lnh vc t kinh t, tin t, ngoi giao, an ninh n ni chớnh v t phỏp. Cỏc
quc gia thnh viờn tng bc tp trung quyn lc quỏ tin n thnh lp
Liờn bang Chõu u. Hin nay s thnh viờn EU l 25, nhim v chớnh ca giai
on ny l thc hin nht th hoỏ xuyờn quc gia thay th cho hp tỏc thụng
thng. Cho n nay, sau nhiu ln n lc ca EU, quỏ trỡnh nht th hoỏ Chõu
u ó t c kt qu rt kh quan c v an ninh, chớnh tr, xó hi kinh t v
thng mi.
1.1.2.Chớnh sỏch thng mi ca EU
EU ngy nay c xem nh l mt quc gia Chõu u, chớnh sỏch thng
mi chung ca EU cng ging nh chớnh sỏch thng mi ca mt quc gia, bao
3

gồm chính sách nội thương và chính sách ngoại thương. Tất cả các nước thành
viên EU cùng áp dụng một chính sách ngoại thương chung đối với những nước
ngoài khối. Uỷ ban Châu Âu là người đại diện duy nhất cho Liên minh trong
đàm phán, ký kết các hiệp định thương mại và dàn xếp tranh chấp trong lĩnh vực
này. Để đảm bảo tính cạnh tranh công bằng trong thương mại, EU đã thực hiện
các biện pháp chống bán phá giá, chống trợ cấp xuất khẩu và chống hàng giả.
EU đã ban hành chính sách chống bán phá giá và áp dụng thuế "chống xuất khẩu
dưới hình thức bán phá giá" để đấu tranh với những trở ngại trong buôn bán với
những nước ngoài khối. Ngoài ra, các biện pháp chống hàng giả của EU cho
phép ngăn chặn không cho nhập khẩu những hàng hoá được sản xuất do vi phạm
quyền sở hữu trí tuệ.
Không chỉ ở việc áp dụng các biện pháp chống cạnh tranh không lành
mạnh, EU còn sử dụng một số biện pháp để đẩy mạnh thương mại với các nước
đang phát triển và chậm phát triển. Đó là GSP, một công cụ quan trọng của EU

phú về hàng hoá. Có những loại hàng hoá rất được ưu chuộng ở thị trường Pháp,
Italia, Bỉ, nhưng lại không được người tiêu dùng Anh, Ailen, Đan Mạch và Đức
chào đón. Tuy có những khác biệt nhất định nhất định về tập quán và thị hiếu
tiêu dùng giữa các thị trường quốc gia trong khối EU, nhưng 25 nước thành viên
đều là những quốc gia nằm ở khu vực Tây và Bắc Âu và Đông Âu nên có những
đặc điểm tương đồng về kinh tế và văn hoá. Trình độ phát triển kinh tế - xã hội
của các nước thành viên khá đồng đều, cho nên người dân thuộc khối EU có
những đặc điểm chung về sở thích và thói quen tiêu dùng. Người tiêu dùng EU
thích sử dụng và quen tiêu dùng một số loại hàng hoá sau:
- Hàng may mặc và giầy dép: Người dân Áo, Đức và Hà Lan chỉ mua hàng
may mặc và giầy dép không chứa chất nhuộm có nguồn gốc hữu cơ. Khách hàng
EU đặc biệt quan tâm tới chất lượng và thời trang của 2 loại sản phẩm này.
Nhiều khi yếu tố thời trang lại có tính quyết định cao hơn nhiều so với giá cả.
Đối với 2 loại mặt hàng này nhu cầu thay đổi nhanh chóng, đặc biệt về mẫu mốt.
- Hàng thuỷ hải sản: Người tiêu dùng EU không mua những sản phẩm thủy
hải sản nhập khẩu bị nhiễm độc do tác động của môi trường hoặc do chất phụ
gia không được phép sử dụng. Đối với các sản phẩm thuỷ hải sản đã qua chế
biến, họ chỉ dùng những sản phẩm đóng gói có ghi rõ tên sản phẩm, nơi sản
5

xuất, các điều kiện bảo quản và sử dụng, mã số và mã vạch. Người châu Âu
ngày càng ăn nhiều thuỷ hải sản vì họ cho rằng sẽ giảm được béo mà vẫn khoẻ
mạnh.
Người tiêu dùng EU có sở thích và thói quen sử dụng những sản phẩm có
nhãn hiệu nổi tiếng trên thế giới. Họ cho rằng những nhãn hiệu này gắn liền với
chất lượng sản phẩm và có uy tín lâu đời cho nên dùng những sản phẩm có nhãn
hiệu nổi tiếng sẽ rất an tâm về chất lượng và an toàn cho người sử dụng. Đặc
biệt đối với những sản phẩm của những nhà sản xuất không có danh tiếng hay
nói cách khác những sản phẩm có nhãn hiệu ít người biết đến thì rất khó tiêu thụ
trên thị trường. Người tiêu dùng EU rất sợ mua những sản phẩm như vậy, vì họ

là theo tập đoàn và không theo tập đoàn. Kênh phân phối theo tập đoàn có nghĩa
là các nhà sản xuất và nhà nhập khẩu của một tập đoàn chỉ cung cấp hàng hoá
cho hệ thống các cửa hàng và siêu thị của tập đoàn này mà không cung cấp hàng
cho hệ thống bán lẻ của tập đoàn khác. Còn kênh phân phối không theo tập đoàn
thì ngược lại, các nhà sản xuất và nhà nhập khẩu của tập đoàn này ngoài việc
cung cấp hàng hoá cho hệ thống bán lẻ của tập đoàn mình mà còn cung cấp hàng
hoá cho hệ thống bán lẻ của tập đoàn khác và các công ty bán lẻ độc lập.
Hệ thống phân phối của EU đã hình thành lên một tổ hợp rất chặt chẽ và có
nguồn gốc lâu đời. Tiếp cận được hệ thống phân phối không phải là việc dễ đối
với các nhà nhập khẩu Việt Nam hiện nay. Các doanh nghiệp xuất khẩu của ta
hiện nay muốn tiếp cận các kênh phân phối chủ đạo trên thị trường EU thì phải
tiếp cận được các nhà nhập khẩu EU. Có thể tiếp cận các nhà nhập khẩu EU
bằng 2 cách: Thứ nhất, tìm các nhà nhập khẩu EU để xuất khẩu trực tiếp (doanh
nghiệp có thể tìm các nhà nhập khẩu này qua các thương vụ của Việt Nam tại
EU, phái đoàn EC tại Hà Nội, các đại sứ quán của các nước EU tại Việt Nam);
Thứ hai, những doanh nghiệp Việt Nam có tiềm lực kinh tế nên thành lập liên
doanh với các công ty xuyên quốc gia EU để trở thành công ty con.
7

CHƯƠNG II
công ty vinatex thâm nhập thị trờng eu
2.1.Khái quát chung về công ty vinatex hiện nay:
Tên chính thức của công ty may Vinatex là Tổng công ty dệt may Việt Nam
và tên để giao dịch nớc ngoài là Vietnam national textile & garment corporation .
Vinatex là tên viết tắt của công ty để tiện giao dịch trên thị trờng. Chủ tịch tập
đoàn dệt may Việt Nam hiện nay là ông Lê Quốc Ân. Hiện Công ty có hai trụ sở
tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh
Website: www.vinatex.com
Văn phòng Hà Nội :
ia ch : 25 B Triu, Q. Hon Kim ., H Ni, Vit Nam

Ngày 9/6/2004 Thủ tướng Chính Phủ đã chính thức phê duyệt đề án xây
dựng Tổng công ty dệt may Việt Nam theo mô hình tập đoàn kinh tế. Đến ngày
1/12/2005 Vinatex chính thức chuyển đổi thành tập đoàn dệt may lấy tên giao
dịch quốc tế là VINATEX ( Viet Nam National Textile And Garment
corporation Co.) - chuyển hẳn từ quan hệ hành chính sang quan hệ kinh doanh
giữa công ty mẹ tập đoàn với các công ty con theo nguyên tắc tự nguyện và
cùng phát triển.
Mục tiêu của công ty là tiến hành xây dựng tập đoàn hàng đầu Việt Nam
trong lĩnh vực dệt may, kinh doanh đa ngành trong đó kinh doanh hàng dệt may
ra thị trường thế giới. Trong đó khách hàng mà công ty hướng tới là toàn bộ thị
trường tiêu dùng Việt Nam, các khách hàng quốc tế ở các nước mà công ty đã
đặt và mở văn phòng đại diện và một số thị trường tiêu dùng hàng hoá thời trang
mà công ty đang hướng tới.
Thị trường xuất khẩu của Vinatex
Tổng công ty đang mở rộng mạng lưới phân phối của mình sang thị
trường quốc tế thông qua việc đặt các văn phòng đại diện của mình tại các nước
như: Mỹ, CHLB Đức, Hong Kong, Balan, Nga, Ấn Độ, Thái Lan, Indonesia,
9

Bangladesh, Pakistan… Thông qua đó đã xuất khẩu sản phẩm của Tổng công ty
sang các nước ở Châu Á, Châu Âu, Châu Mỹ, Châu Phi, Châu Úc…
Kim ngạch xuất khẩu đạt gần 1,14 tỷ USD, chiếm khoảng 24% xuất khẩu
toàn ngành. Trong đó xuất khẩu một số nguyên liệu phục vụ cho dệt may được
coi là chủ đạo bao gồm các sản phẩm như: Bông, Sợi, các loại len, thảm…
Trong đó sản xuất các loại sản phẩm may mặc đồng bộ được coi là mang lại giá
trị cao cho Tổng công ty đặc biệt là đối với thị trường Mỹ và EU.
Tuy nhiên hiện nay công ty đang ngày càng phải đối đầu với cạnh tranh
mạnh mẽ từ các nước Châu Á khác như Trung Quốc, Ấn Độ, Pakistan… Vì vậy
Tổng công ty cũng đang ngày càng có nhiều biện pháp nhằm tăng thị trường của
mình tại nhiều thị trường mới như Đức, Úc…

- Hoạt động dịch vụ thương mại: Kinh doanh thương mai, XNK tổng hợp,
hợp tác lao động, dịch vụ giao nhận hàng, vận tải hang hoá..
- Hoạt động bán lẻ
- Hoạt động dịch vụ tư vấn: cung cấp các dịch vụ đào tạo nghiên cứu khoa
học, kiểm nghiệm chất lượng vật tư sản phẩm, chuyển giao công nghệ…
2.2. Qu¸ tr×nh th©m nhËp thÞ trêng EU cña c«ng ty
Vinatex
2.2.1. Tìm hiểu về thị trường EU
- Vinatex xác định EU là một thị trường đầy tiềm năng, bởi đây là một thị
trường có sức tiêu thụ lớn đối với hàng hoá tiêu dùng. Các con rồng Châu Á đã
phát triển nhanh nhờ vào việc chiếm lĩnh thị phần khá lớn tại thị trường này.
- EU là một trung tâm kinh tế mạnh, có vai trò rất lớn trong nền kinh tế và
thương mại thế giới. EU cũng là đơn vị giao dịch thống nhất lớn nhất thế giới,
chiếm khoảng 20% tổng kim nghạch xuất nhập khẩu hàng hóa toàn cầu. Vai trò
quan trọng của EU trong mậu dịch toàn cầu sẽ còn lớn hơn với kế hoạch mở
rộng và phát triển trong 5-10 năm tới. Là một trong ba trung tâm kinh tế lớn nhất
trong nền kinh tế thế giới ( Hoa Kỳ, Nhật và EU) với GDP năm 1998 đạt 8.482
tỷ USD, chiếm 19.8% GDP toàn cầu, năm 2000 đạt 9.050 ( khoảng 20% toàn
cầu), và năm 2001 đạt 9.315 tỷ USD, đồng thời EU cũng là Trung tâm thương
mại Tài chính khổng lồ với đồng tiền EURO ngang hàng với đồng USD.
11

- Trỡnh phỏt trin kinh t, vn húa, xó hi ca cỏc nc thnh viờn
khỏ ng u, cho nờn ngi dõn thuc khi EU cú nhng im chung v s
thớch v thúi quen tiờu dựng. i vi hng may mc v giy dộp,khỏch hng EU
c bit quan tõm ti cht lng v thi trang ca hai loi sn phm ny. Nhiu
khi yu t thi trang cú tớnh quyt nh cao hn nhiu so vi giỏ c. i vi
nhúm hng giy dộp, ngi tiờu dựng EU cú xu hng i giy vi. Xu hng
ny ngy cng tng lờn, t l thun vi nhu cu tiờu dựng giy dộp tng hng
nm EU.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status