Tính tất yếu khách quan của hội nhập quốc tế và những vấn đề đặt ra đối
với lĩnh vực dịch vụ Viễn thông Việt Nam
Mục đích của chương này đi vào tìm hiểu tình hình hội nhập kinh tế quốc tế của
Việt Nam trong thời gian qua. Đồng thời nêu lên các xu hướng phát triển Viễn thông
trên thế giới và nghĩa vụ tự do hoá dịch vụ Viễn thông của Việt Nam khi tham gia vào
các tổ chức kinh tế quốc tế. Để rút ra được những kinh nghiệm và bài học cho chiến
lược tự do hoá và mở cửa thị trường dịch vụ Viễn thông của Việt Nam trong thời gian
tới, trong chương này khái quát một số kinh nghiệm và bài học mở cửa thị trường dịch
vụ Viễn thông của một số nước trên thế giới. Chương I bao gồm 4 vấn đề được trình
bày sau:
I. Hội nhập quốc tế -Một xu thế tất yếu của các quốc gia trên thế
giới
II. Viễn thông Việt Nam trước xu thế hội nhập
III. Tính cấp thiết phải xây dựng chiến lược tự do hóa và mở cửa
thị trường dịch vụ Viễn thông Việt Nam
IV. Kinh nghiệm và lộ trình mở cửa thị trường dịch vụ Viễn thông
các nước trong khu vực và trên thế giới
I - Hội nhập quốc tế -Một xu thế tất yếu của các quốc gia trên thế giới
Hội nhập đã trở thành một trào lưu không thể đảo ngược, và việc tham gia của
các quốc gia vào tiến trình này là tất yếu với thực tế là các thể chế chính trị, kinh tế
thương mại toàn cầu, liên khu vực vẫn không ngừng được củng cố và phát triển cả về
lượng và chất
1.Tình hình hội nhập kinh tế quốc tế trong thời gian qua
Hai thập kỷ qua, quá trình quốc tế hoá đời sống kinh tế đã thực sự bước sang
một giai đoạn mới -Giai đoạn toàn cầu hoá “Cơn lốc hoà nhập kinh tế “đã cuốn tất cả
các nước trên thế giới từ Đông sang Tây, từ Bắc xuống Nam với tốc độ nhanh đến
chóng mặt. Các nền kinh tế trên hành tinh xâm nhập lẫn nhau, liên kết với nhau, đưa
nền kinh tế thế giới thành một nền kinh tế hoà nhập ngày càng đậm nét với một thị
trường buôn bán toàn cầu sôi động. Đối với các quốc gia công nghiệp phát triển, hội
nhâp kinh tế quốc tế là con đường ngắn nhất để họ nhanh chóng xác lập vị thế quốc tế,
là phương thức phát triển giúp họ đẩy mạnh chi phối và dẫn dắt các xu thế kinh tế toàn
(Đức)tốc độ tăng trưởng thương mại thế giới từ năm 1991 cho tới năm 1998 nhanh hơn
gấp đôi tốc độ tăng trưởng GDP của thế giới ví dụ :Tốc độ tăng trưởng GDP của thế
giới năm 1994 là 3,9% trong khi đó tốc độ tăng trưởng thương mại thế giới là 9,5%.
Tương tự năm 1995:3,6%và 8%;năm 1996:4,1%và 7% ;năm 1997:4,1% và 9,4%. Mặc
dù trong năm 1998,bị tác động bởi cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ ở châu á nhưng
tốc độ tăng trưởng thương mại thế giới vẫn đạt 3,7%.
Tổ chức thương mại thế giới - WTO và các tổ chức mậu dịch tự do khu vực như
liên hiệp châu âu -EU, diễn đàn hợp tác kinh tế châu á - Thái bình dương - APEC, khu
vực mậu dịch tự do Bắc Mỹ-NAFTA, khu vực mậu dịch tự do ASEAN-AFTA..đã đóng
vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy tự do hoá thương mại thế giới. Trong đó tổ chức
thương mại thế giới WTO ngày càng đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy xu
hướng toàn cầu hoá thương mại. Tại hội nghị cấp bộ trưởng lần thứ nhất của WTO họp
ở xingapore với 128 nước tham gia đã thông qua được hiệp định công nghệ thông tin
ITA bao gồm việc xoá bỏ hàng rào thuế quan đối với các mặt hàng bán dẫn, các sản
phẩm thông tin Viễn thông và các thiết bị máy tính, phần mềm và các thiết bị khoa học.
Tiếp nối các hiệp định ban đầu của vòng đàm phán uruguay, vòng đàm phán Singapore
càng thúc đẩy hơn nữa trong quá trình tự do hoá thương mại toàn cầu
Như vậy toàn cầu hoá với việc ra đời của EU, NAFTA, AFTA...và đặc biệt là
WTO đã đánh dấu thời đại của hàng rào thuế quan cao, của cách thức đóng cửa khác
nhau ở các thị trường, của một số đặc quyền ít ỏi trong mậu dịch quốc tế dành cho các
nước phát triển đã chấm dứt. Buôn bán quốc tế đã chuyển sang một thời đại mới, thời
đại của tự do hoá thương mại thế giới
1.3 FDI và vai trò của các công ty đa quốc gia
Vai trò ngày càng tăng của đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI là một nhân tố rất
quan trọng để thúc đẩy xu thế toàn cầu hoá. Tổng giá trị FDI toàn thế giới năm 1994 là
209 tỷ USD; năm 1995 là 260 tỷ USD; năm 1996 là 320 tỷ USD; năm 1998 là 450 tỷ
USD. Với việc đầu tư ra nước ngoài đã góp phần làm tăng nhanh quá trình quốc tế hoá
đời sống kinh tế Thế giới, cả trong lĩnh vực sản xuất lẫn thương mại quốc tế. Nhưng
ngược lại chính xu thế toàn cầu hoá, khu vực hoá kinh tế quốc tế càng thúc đẩy các
công ty đa quốc gia đầu tư ra nước ngoài. Các nước G7 là các nước đứng đầu về đầu tư
Senegan...đã xúc tiến từng bước việc thiết lập liên minh hải quan vào năm 2000 và liên
minh kinh tế toàn diện vào năm 2005. Cũng tại lục địa đen, 12 nước thành viên Cộng
đồng phát triển phía nam Châu phi -SADC đã ký nghị định thư vào năm 1996 thành lập
khu vực mậu dịch tự do với 130 triệu dân và kêu gọi cắt giảm thuế quan trong thời hạn
tối đa 8 năm
Các nước ở Nam Mỹ đang tiến tới thiết lập khu vực buôn bán tự do châu Mỹ
khổng lồ FTAA vào năm 2005, tạo ra một khối buôn bán tự do lớn thứ tư trên thế giới
với 250 triệu người tiêu dùng và có GĐP là 800 tỷ USD. Các hàng rào thuế quan giữa
các nước này dự định sẽ huỷ bỏ vào năm 2004
Tại châu á, trong những năm qua xu hướng hợp tác tiểu khu vực phát triển
mạnh.Việc Trung Quốc, CHDCND Triều Tiên, Hàn Quốc, Mông Cổ, Nga ký kết các
hiệp định thành lập khu vực phát triển kinh tế vùng sông Turmen ở Đông Bắc A hồi
tháng 12/1995 đã mang đến sinh khí mới cho hợp tác kinh tế ở vùng này. Tại hội nghị
quốc tế ở Bắc Kinh với chủ đề đẩy mạnh phát triển và hợp tác khu vực giữa các nước
đông Bắc á trong thế kỷ 21, các học giả nhất trí cho rằng khi nền kinh tế khu vực Thái
Bình Dương phát triển mạnh, vùng Đông Bắc á nên tăng cường hợp tác khu vực nhằm
tạo một thị trường có tiềm lực lớn. Tại khu vực Nam á, 7 nước trong tổ chức SAARC
-Hiệp hội các quốc gia Nam á vì sự hợp tác khu vực trong đó có ấn Độ, Pakistan đã
đồng ý huỷ bỏ hàng rào buôn bán càng nhanh càng tốt nhằm tăng cường buôn bán và
hợp tác khu vực trong các liên doanh, đầu tư và kỹ thuật với hy vọng thành lập được
một khu vực buôn bán giống như ASEAN
Việc tổ chức ASEAN chính thức kết nạp Lào và Myanmar trong thời gian vừa
qua đã mở ra triển vọng to lớn hình thành Tổ chức hiệp hội các nước Đông Nam á
ASEAN và khu vực mậu dịch tự do thương mại AFTA bao gồm toàn thể 10 nước ở
trong khu vực. Hiện tại ASEAN với 9 nước thành viên là khu vực kinh tế lớn thứ tư trên
thế giới, có diện tích 3,3 triệu km2 với 400 triêu dân, có GDP hơn 550 tỷ USD, xuất
khẩu hơn 300tỷ USD/năm. AFTA đang đẩy mạnh việc thực hiện kế hoạch tự do buôn
bán vào năm 2003 hoặc sớm hơn, thúc đẩy hình thành khu vực đầu tư tự do ASEAN và
sau đó từng bước tiến tới nhất thể hoá ASEAN về kinh tế trong vùng vài ba chục năm
tới
nguyên tác của WTO làm tiêu chuẩn.
3. Những cơ hội và thách thức với Việt Nam trong quá trình mở cửa và
hội nhập kinh tế quốc tế.
Đối với Việt Nam là một nước đang phát triển, có nền kinh tế chuyển đổi, tham
gia hội nhập với xuất phát điểm thấp hơn nhiều so với nhiều nước trên thế giới.Vì vậy,
tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế một mặt đang mở ra nhiều cơ hội cho chúng ta, mặt
khác cũng đặt ra cho chúng ta nhiều thách thức lớn lao.
3.1. Những lợi ích của Việt Nam trong hội nhập kinh tế quốc tế.
Hiện tại Việt Nam vẫn đang ở giai đoạn đầu của công cuộc công nghiệp hoá đất
nước. Việt Nam mở cửa và hội nhập vào kinh tế quốc tế sẽ tạo điều kiện cho Việt Nam
thay đổi cơ cấu kinh tế thích hợp hướng công nghiệp hoá và xuất khẩu, tạo cơ hội để
phát triển sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, thương mại và dịch vụ.
+ Việt Nam sẽ không bị phân biệt đối xử trong thương mại quốc tế và mở rộng
được nhiều thị trường xuất khẩu ra bên ngoài do việc được hưởng quy chế tối huệ quốc
(MFN) và ưu đãi quốc gia (NT) của các nước thành viên, đặc biệt là các mặt hàng xuất
khẩu mà ta có lợi thế so sánh như gạo, cà phê, hải sản, may mặc, dày dép...
Ví dụ: Việc Việt Nam tham gia vào APEC sẽ tạo điều kiện cho Việt Nam hợp tác
về thương mại với các nước khu vực châu á - Thái Bình dương. Thương mại giữa Việt
Nam và các nước trong khu vực châu á - Thái Bình Dương chiếm hơn 80% tổng lượng
thương mại quốc tế của Việt Nam. Tham gia vào APEC sẽ giúp Việt Nam khai thác
được lợi thế, tận dụng những ưu đãi của APEC dành cho các nước đang phát triển, tránh
rơi vào thế bị cô lập trong xu thế hợp tác và cạnh tranh khu vực.
+ Khi tham gia vào các tổ chức kinh tế quốc tế Việt Nam phải tiến hành cải cách thể
chế, chính sách, luật pháp cho phù hợp với yêu cầu của các tổ chức này. Điều này công với
các lợi thế so sánh mà lâu nay Việt Nam có như lao động, vị trí địa lý... sẽ tạo điều kiện cho
Việt Nam có cơ hội thu hút được vốn đầu tư nước ngoài nhiều hơn.
+ Hội nhập kinh tế quốc tế sẽ tạo ra động lực để các công ty trong nước đổi mới
công nghệ, cải tiến phương pháp quản lý, tăng cường hiệu quả kinh doanh, nâng cao chất
lượng sản phẩm để cạnh tranh và tồn tại trong điều kiện kinh tế mở. Ngoài ra, hội nhập
kinh tế quốc tế còn tạo điều kiện cho các công ty Việt Nam bước vào thị trường thế giới để
+ Nền kinh tế Việt Nam còn nhiều yếu kém. Việc mở cửa và hội nhập kinh tế
quốc tế có nhiều nội dung liên quan đến tự do hoá thương mại và đầu tư, và điều này
trong thời gian đầu sẽ gây cho Việt Nam những khó khăn nhất định. Cùng với những
khía cạnh tích cực của tự do cạnh tranh, thì mặt tiêu cực cũng sẽ ảnh hưởng rất lớn nếu
như cải cách trong nước không được thực hiện kịp thời và đúng lượng.
+ Nền kinh tế Việt Nam là nền kinh tế đang phát triển ở trình độ thấp vả lại đang
trong quá trình chuyển đổi. Vì vậy việc hoạch định một chính sách kinh tế thương mại
sao cho phù hợp với thông lệ quốc tế, vừa tạo được những điều kiện hợp lý để tăng
cường khả năng cạnh tranh của nền kinh tế vẫn là một điều nan giải khó có thể giải
quyết được trong thời gian ngắn.
+ Một điều tất yếu là trong quá trình hội nhập Việt Nam sẽ phải giảm thuế xuất
nhập khẩu. Việc giảm thuế sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến nguồn thu ngân sách vốn thu đã
không đủ chi.
+ Hội nhập kinh tế quốc tế là một lĩnh vực hoàn toàn mới lạ đối với Việt Nam.
Trong khi đó đội ngũ cán bộ của Việt Nam còn khá yếu kém cả về kiến thức chung,
cũng như kiến thức chuyên ngành có liên quan đến vấn đề hội nhập.
+ Một thực tế cho chấy, hiện nay hầu hết các ngành kinh tế Việt Nam từ sản xuất
đến dịch vụ chưa chuẩn bị hay chưa xây dựng một chiến lược thống nhất về hội nhập
để tăng cường sức cạnh tranh của hàng hoá Việt Nam, biểu tượng Việt Nam trên thương
trường quốc tế.
+ Cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ ở Đông Nam á có phần nào tác động tới
nền kinh tế Việt Nam. Do vậy trong thời gian tới quá trình mở cửa và hội nhập kinh tế
quốc tế của Việt Nam ít nhiều gì cũng sẽ gặp khó khăn.
II - Viễn thông Việt Nam trước xu thế hội nhập.
Trong thời gian tới xu hướng hội nhập nói chung vẫn tiếp tục được củng cố và
phát triển cả bề rộng và bề sâu, trong đó đáng chú ý là xu hướng đẩy nhanh việc mở cửa
thị trường trong nhiều lĩnh vực. Kể cả lĩnh vực được coi là phức tạp và có nhiều gay
cấn là lĩnh vực thương mại dịch vụ mà trong đó dịch vụ Viễn thông được đặt lên hàng
đầu.
1. Các xu hướng phát triển Viễn thông trên thế giới.
7. Các dịch vụ cho thuê kênh riêng.
8. Các dịch vụ nhắn tin.
9. Các dịch vụ di động tế bào số/analogue.
10. Các dịch vụ thông tin vệ tinh.
11. Các dịch vụ thông tin các nhân (PCS)
12. Các dịch vụ dữ liệu di động.
13. Các dịch vụ khác.
II. Các dịch vụ giá trị gia tăng.
1. Dịch vụ thư điện tử (E mail)
2. Dịch vụ thư thoại.
3. Dịch vụ khôi phục thông tin và cơ sở dữ liệu trực tuyến (on line)
4. Dịch vụ trao đổi dữ liệu điện tử (EDI).
5. Dịch vụ Facsimile gia tăng giá trị/cải tiến tính năng (gồm cả dịch vụ lưu trữ
và tự động chuyển, lưa trữ và khôi phục).
6. Dịch vụ chuyển đổi mã và giao thức.
7. Dịch vụ xử lý thông tin và / hoặc số liệu trực tuyến (kể cả dịch vụ xử lý các
giao dịch kinh doanh).
8. Các dịch vụ khác.
Đối với các dịch vụ giá trị gia tăng (VAS) là những dịch vụ Viễn thông đầu tiên
được đưa ra đàm phán và cam kết trong GATT 93 (tiền thân của WTO). Kết thúc vòng
đàm phát GATT93, đã có 68 nước trên thế giới có cam kết với cấc dịch vụ Viễn thông
VAS . Sở dĩ các nước bàn và cam kết mở cửa các dịch vụ VAS trước vì đây là những
dịch vụ dễ triển khai về kỹ thuật và ít ảnh hưởng đến quyền lợi kinh tế cũng như an
ninh quốc gia của các nước.
Tuy nhiên, hoạt động có ý nghĩa nhất và có ảnh hưởng sâu rộng nhất về thương
mại dịch vụ Viễn thông trong WTO chỉ bắt đầu khi có vòng đàm phán về mở cửa thị
trường các dịch vụ Viễn thông cơ bản (Group on basis telecom -GBT). Đây là lĩnh vực
dịch vụ Viễn thông quan trọng mà bất cứ quốc gia nào cũng muốn bảo hội vì lý do an
ninh, chủ quyền quốc gia và lợi nhuận. Ngày 15/2/1997, 69 quốc gia thành viên WTO
đã ký nghị định thư thứ 4 của Hiệp định chung về thương mại dịch vụ liên quan đến
truy nhập nội hạt và lưu lượng đường dài trong nước và quốc tế. Đồng thời các công ty
này cũng thống trị luôn trong lĩnh vực thông tin di động. Với việc độc quyền đã làm cho
giá cả thường mất cân đối, các công ty thống trị không khuyến khích giảm chi phí hay
nâng cao hiệu quả kinh doanh. Tất nhiên vấn đề độc quyền trong Viễn thông có liên
quan đến an ninh quốc phòng. Nhưng trước xu thế toàn cầu hoá, tự do hoá trong khai
thác dịch vụ Viễn thông, hầu như Chính phủ các nước trên thế giới đã cho phép thêm
nhiều công ty được tham gia vào thị trường dịch vụ Viễn thông. Các lĩnh vực khuyến
khích các công ty tham gia khác thác thường là các lĩnh vực hấp dẫn, có lợi nhuận cao
như là các dịch vụ đường dài quốc tế, di động, các thiết bị đầu cuối khách hàng và các
dịch vụ giá trị gia tăng. Việc tăng số công ty được tham gia khai thác dịch vụ Viễn
thông nhằm tăng cường sự tham gia của các thành phần kinh tế trong và ngoài nước
tham gia vào quá trình cạnh tranh, tạo động lực thúc đẩy Viễn thông phát triển. Tuy
nhiên việc đưa cạnh tranh vào lĩnh vực dịch vụ Viễn thông không phải là một quá trình
xảy ra nhanh chóng kể cả những nước công nghiệp phát triển như Anh, Mỹ, Pháp....
Thông thường lúc đầu Chính phủ chỉ cho phép hai hoặc ba công ty cạnh tranh khai thác
các dịch vụ Viễn thông, và các công ty mới thành lập thường bị hạn chế về phạm vi
khai thác.Ví dụ:Như ở các nước đang phát triển các công ty mới thành lập lúc đàu chỉ
được khai thác dịch vu nội hạt, các dịch vụ giá trị gia tăng và thông tin di động.Sau một
thời gian mới cho phép tham gia khai thác các dịch vụ cơ bản, có phạm vi đường dài và
quốc tế. Tuy nhiên hầu như các nước đều duy trì một công ty chủ đạo như công ty NTT
của Nhật Bản, BT của Anh, ATT của Mỹ ,FT của Pháp... Thông thường trên thế giới,
dịch vụ thông tin di động, nhắn tin được khuyến khích sự tham gia của nhiều công ty,
tại vì:
+ Dịch vụ thông tin di động và nhắn tin thường không ảnh hưởng đến nhiều
doanh thu của thông tin cố định.
+ Việc xây dựng kết cấu mạng lưới của các công ty kinh doanh dịch vụ thông tin
di động, nhắn tin thường không ảnh hưởng đến mạng cố định.
Ngoài ra trong thời gian gần đây để khuyến khích cạnh tranh trong khai thác
dịch vụ Viễn thông cũng như thu hút được nguồn lực để phát triển Viễn thông, chính
phủ của nhiều nước đã cho phép khu vực tư nhân tham gia vào việc cho phép khu vực
vào thị trường các nước này. Hiện tại, các MNCs trong Viễn thông chủ yếu tập trung ở
các nước phát triển Tây Âu, Bắc Mỹ và Nhật Bản. Với lợi thế về vốn, công nghệ, thị
trường các MNCs ngày càng xâm nhập sâu vào tất cả các loại hình dịch vụ Viễn thông,
từ dịch vụ giá trị gia tăng cho đến dịch vụ cơ bản.
1.3. Xu hướng hội tụ công nghệ Viễn thông - Tin học - Phát thanh
truyền hình và đa phương tiện.
Bước vào thập kỷ 90, đi đôi với sự tiến bộ và hoà nhập vào nhau của kỹ thuật
Viễn thông và kỹ thuật tin học, đi đôi với việc thúc đẩy tin học hoá toàn cầu và dần dần
nới lỏng việc quản chế thị trường Viễn thông, ngành Viễn thông, ngành tin học và phát
thanh truyền hình trên thế giới đã hoà quyện, xâm nhập, chồng lấn nghiệp vụ lẫn nhau,
ranh giới phân cách giữa các ngành nghề trước kia ngày càng không rõ ràng. Sự hoà
nhập về kỹ thuật thúc đẩy sự hoà nhập về mạng lưới, hoà nhập về nghiệp vụ và hoà
nhập về thị trường. Xu hướng này được chứng minh bởi sự sáp nhập và liên hợp ngày
càng nhiều của các công ty khai thác Viễn thông, máy tính truyền hình và hữu tuyến.
Ví dụ: