LỜI CẢM ƠN
Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới tất cả các thầy giáo, cô giáo trong khoa
Lý luận chính trị và nhà trường đã tạo điều kiện động viên và giúp đỡ em trong quá
trình nghiên cứu.
Em xin cảm ơn UBND huyện Sông Mã đã nhiệt tình giúp đỡ trong việc sưu tầm
và chọn lọc tài liệu.
Em xin chân thành cảm ơn cô giáo Đỗ Huyền Trang, người đã nhiệt tình
hướng dẫn, chỉ đạo và đóng góp nhiều ý kiến quý báu cho khóa luận của em hoàn
thành đúng tiến độ.
Em xin chân thành cảm ơn cô giáo chủ nhiệm và tập thể lớp k52 Đại học giáo
dục chính trị cùng gia đình đã động viên em để em hoàn thành tốt khóa luận.
Trong quá trình sưu tầm, nghiên cứu, phân tích, tổng hợp tài liệu cùng khả năng
nắm bắt tình hình của bản thân còn nhiều hạn chế, nên thiếu sót trong khóa luận là
điều không thể tránh khỏi. Vì vậy, em rất mong nhận được sự ủng hộ, chỉ bảo và đóng
góp ý kiến của các thầy giáo, cô giáo và các bạn sinh viên cho khóa luận của em thêm
đầy đủ và hoàn thiện hơn.
Em xin trân thành cảm ơn!
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
CNXH
: Chủ nghĩa xã hội
CT - XH : Chính trị - xã hội
DTTS
: Dân tộc thiểu số
HĐND
1.2.1. Khái niệm hệ thống chính trị ở cơ sở nông thôn ....................................... 14
1.2.2. Đặc điểm của hệ thống chính trị ở cơ sở nông thôn ................................. 15
1.3. Vị trí, vai trò của cơ sở nông thôn và hệ thống chính trị nông thôn ở nước ta
hiện nay ............................................................................................................... 16
1.3.1. Vị trí, vai trò của cơ sở nông thôn (xã, phường, thị trấn) ......................... 16
1.3.2. Vai trò của hệ thống chính trị ở cơ sở nông thôn ...................................... 22
CHƯƠNG 2: HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ Ở CƠ SỞ NÔNG THÔN TRÊN
ĐỊA BÀN HUYỆN SÔNG MÃ, TỈNH SƠN LA - NHỮNG VẤN ĐỀ BỨC
XÚC HIỆN NAY ............................................................................................... 25
2.1. Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện Sông Mã, tỉnh
Sơn La ................................................................................................................. 25
2.1.1. Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên ............................................................. 25
2.1.2. Tình hình kinh tế, văn hóa - xã hội ........................................................... 26
2.2. Tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị ở cơ sở huyện Sông Mã từ năm
2010 đến nay ....................................................................................................... 30
2.2.1. Về tổ chức và hoạt động của tổ chức cơ sở Đảng ..................................... 31
2.2.2. Về tổ chức và hoạt động của chính quyền cơ sở nông thôn ..................... 34
2.2.3. Về tổ chức và hoạt động của khối đoàn thể nhân dân .............................. 35
2.2.4. Về mối quan hệ giữa các tổ chức trong hệ thống chính trị ở cơ sở nông
thôn ...................................................................................................................... 38
2.2.5. Về thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở nông thôn ..................................... 39
2.3. Những vấn đề hạn chế đặt ra cần hoàn thiện hệ thống chính trị ở cơ sở nông
thôn huyện Sông Mã hiện nay ............................................................................. 40
2.3.1. Hạn chế về tổ chức và hoạt động của tổ chức cơ sở Đảng ....................... 40
2.3.2. Về tổ chức và hoạt động của chính quyền cơ sở nông thôn ..................... 43
2.3.3. Về tổ chức và hoạt động của khối đoàn thể nhân dân ở cấp xã ................ 46
2.3.4. Về mối quan hệ giữa các tổ chức trong hệ thống chính trị ....................... 47
2.3.5. Về thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở nông thôn ..................................... 48
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở nước ta, đổi mới hệ thống chính trị là nhiệm
vụ rất quan trọng. Nhiệm vụ hệ trọng đó đã được Đảng ta khẳng định trong Cương lĩnh
xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội năm 1991. Toàn bộ hệ
thống chính trị ở nước ta trong giai đoạn mới là nhằm xây dựng và từng bước hoàn
thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa bảo đảm quyền lực thuộc về nhân dân. Như vậy,
quyền lực của nhân dân lao động có được đảm bảo hay không chính là tuỳ thuộc chủ
yếu ở hệ thống chính trị có được đổi mới và hoàn thiện hay không. Khi công cuộc đổi
mới ngày càng đi vào chiều sâu, Đảng ta chủ trương hướng mạnh về cơ sở, quan tâm
củng cố cơ sở xã hội của hệ thống chính trị, đề cao các sáng kiến và tính chủ động từ
cơ sở. Tinh thần nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X (9- 2006) đặc biệt coi
trọng đổi mới hệ thống chính trị ở cơ sở, nhất là ở cơ sở nông thôn (xã, thị trấn). Đây
cũng là thể hiện nhận thức mới của Đảng về đổi mới hệ thống chính trị. Những nguyên
tắc, yêu cầu, nội dung, phương thức đổi mới hệ thống chính trị cấp vĩ mô chi phối quá
trình đổi mới hệ thống chính trị cấp cơ sở và sự đổi mới hệ thống chính trị cấp cơ sở
có tác động tích cực trở lại hệ thống chính trị nói chung.
Cơ sở (xã, phường, thị trấn), trong đó xã là chủ yếu, chiếm tới 85% trong tổng
số các đơn vị hành chính cấp cơ sở, do vậy hệ thống chính trị ở cơ sở thuộc khu vực
nông thôn giữ vị trí rất quan trọng trong hệ thống chính trị nước ta. Hệ thống chính trị
cấp cơ sở ở nông thôn trên địa bàn huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La trong thời gian qua
đang tiếp tục được củng cố, hoàn thiện nhằm phát huy quyền làm chủ của nhân dân và
thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở một cách thực sự. Tuy nhiên trong những năm gần
đây, vấn đề bức xúc đã và đang đặt ra bởi hệ thống chính trị ở cơ sở nông thôn trên địa
bàn huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La còn bộc lộ nhiều yếu kém như: hệ thống tổ chức vẫn
chưa ổn định, mối quan hệ giữa các bộ phận cấu thành hệ thống chính trị ở đây còn
nhiều bất cập, các tổ chức còn lúng túng trong hình thức tổ chức và phương thức hoạt
động... chưa đáp ứng với yêu cầu thực tiễn hiện nay.
Đứng trước yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, tình
TS. Vũ Hoàng Công, “Hệ thống chính trị cơ sở - Đặc điểm, xu hướng và giải
pháp”, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2002.
TS. Đặng Đình Tân, “Chính quyền cấp xã - những vấn đề đặt ra hiện nay”, Tạp chí
Nghiên cứu lập pháp, Văn phòng Quốc hội, Đặc san số 3 năm 2002.
Đảng Cộng sản Việt Nam (2002), Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban chấp
hành Trung ương khoá IX về “ Đổi mới và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị ở
cơ sở xã, phường, thị trấn”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
2
GS.TS. Hoàng Chí Bảo (chủ biên), “Hệ thống chính trị ở cơ sở nông thôn nước
ta hiện nay”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004.
TS. Chu Văn Thành (chủ biên), “Hệ thống chính trị cơ sở - Thực trạng và một
số giải pháp đổi mới”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004.
PGS.TS. Nguyễn Văn Vĩnh (chủ biên), “Góp phần đẩy lùi nguy cơ, bảo đảm ổn
định và phát triển đất nước”, Nxb Lý luận Chính trị, Hà Nội, 2005.
Và các công trình khoa học khác nghiên cứu chủ đề có liên quan đến hệ thống
chính trị.
Phần lớn các công trình khoa học trên đây đều nghiên cứu hệ thống chính trị
hoặc các chủ đề có liên quan đến hệ thống chính trị nói chung. Các công trình khoa học
trên tiếp cận hệ thống chính trị từ nhiều cách, nhiều góc độ khác nhau, nhưng tựu chung
lại, các nhà khoa học với tư cách là những chủ thể sáng tạo, nghiên cứu, khảo sát, phân
tích, khái quát nêu trên đều cố gắng giải quyết những vấn đề căn cốt của hệ thống chính trị
với những mức độ khác nhau. Xuyên qua những công trình đó, có thể tổng quan lại những
vấn đề sau đây:
Thứ nhất, các nhà khoa học đã từ nhiều cách tiếp cận khác nhau đã đưa ra
những định nghĩa có thể theo nghĩa rộng hoặc nghĩa hẹp về hệ thống chính trị.
Thứ hai, các nhà khoa học đã tập trung phân tích cấu trúc, đặc điểm, các nhân tố
chế định và vị trí, vai trò của hệ thống chính trị nói chung và hệ thống chính trị Việt Nam
Xác định rõ phương hướng cơ bản và một số giải pháp chủ yếu nhằm hoàn
thiện hệ thống chính trị ở cơ sở nông thôn trên địa bàn huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La
hiện nay.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Khóa luận tập trung nghiên cứu về hệ thống chính trị ở cơ sở nông thôn (xã, thị
trấn) trên địa bàn huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La 5 năm trở lại đây.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận của đề tài là hệ thống các quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm của Đảng ta về hệ thống chính trị.
Đề tài nghiên cứu từ góc nhìn chính trị học, sử dụng phương pháp biện chứng
duy vật Macxit làm nền tảng. Trên cơ sở đó, luận văn sử dụng kết hợp phương pháp
lịch sử và lôgíc, phân tích với tổng hợp, so sánh, điều tra xã hội học và các phương
pháp đặc thù của chính trị học như: phân tích giai cấp, dân tộc, nhân loại trong chính
trị và phương pháp tiếp cận hình thái kinh tế - xã hội khi nghiên cứu chính trị.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
Về lý luận: Góp phần làm rõ thêm một số nhận thức chung về hệ thống chính trị
ở cơ sở nông thôn.
4
Về thực tiễn: Trên cơ sở các luận cứ khoa học và khảo sát thực tiễn để xác định
rõ những vấn đề bức xúc đang đặt ra đối với hệ thống chính trị ở cơ sở nông thôn
huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La hiện nay. Đồng thời, luận văn góp tiếng nói vào việc
hoàn thiện hệ thống chính trị ở cơ sở nông thôn trên Địa bàn huyện Sông Mã, tỉnh Sơn
La hiện nay.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn
gồm 3 chương, 8 tiết.
hội. Chính trị có quá trình hình thành, tồn tại, phát triển và tiêu vong như một hiện
tượng lịch sử ra đời khi xã hội phân chia thành các giai cấp và mâu thuẫn đó trở nên
không thể điều hoà được.
Vấn đề quan hệ giai cấp và vấn đề quyền lực nhà nước là hai vấn đề cơ bản
nhất của chính trị. Nói đến chính trị là phải nói đến giai cấp và nhà nước. Tuy nhiên,
6
không chỉ có giai cấp và nhà nước mà chính trị còn liên quan đến nhiều vấn đề khác.
Nói đến chính trị mà chỉ nói đến giai cấp và nhà nước thì chưa đủ, nhất là trong thời
đại ngày nay, khi mà hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ, tự do, bình đẳng đã trở thành
mệnh lệnh của đời sống nhân loại.
Chính trị là một hiện tượng xã hội đặc biệt, nó xuất hiện khi xã hội phân chia
thành các giai cấp, khi xuất hiện nhà nước, cho nên tiếp cận với chính trị từ những lập
trường giai cấp khác nhau sẽ có những quan điểm không giống nhau.
Quan điểm duy vật lịch sử về chính trị đòi hỏi phải xem xét chính trị trong quan
hệ với kinh tế, với giai cấp, với dân tộc, với nhân loại, với lợi ích giai cấp, với nhà nước
cùng thiết chế chính trị đảm bảo hiện thực hoá những nhu cầu chính trị và kinh tế.
Chính trị là quan hệ giữa các giai cấp, là sự biểu hiện tập trung của kinh tế,
chính trị tức là kinh tế được cô đọng lại. Đây là thuộc tính bản chất của chính trị.
Trong quan điểm đó, chính trị do kinh tế quy định, sự vận động và phát triển của kinh
tế quy định sự biến đổi của chính trị.
Chính trị là mối quan hệ qua lại giữa các giai cấp, mối quan hệ đó quy định
nội dung và cấu thành nền tảng của chính trị. Các giai cấp và mối quan hệ qua lại giữa
các gia cấp cấu thành cơ sở trực tiếp của chính trị, mặc dù các giai cấp và mối quan hệ
giữa chúng do kinh tế quy định. Khi xác định bản chất của giai cấp, chủ nghĩa MácLênin trước hết nhấn mạnh phương diện kinh tế. Đó là một đặc trưng cơ bản, quan
trọng nhất, nhưng không phải là duy nhất. Giai cấp còn được xác định bởi những dấu
hiệu chính trị, bởi lợi ích chính trị, bởi quan hệ của nó với nhà nước, bởi cuộc đấu
tranh để giành, giữ và thực thi quyền lực chính trị. Cho nên mối quan hệ giữa các giai
cấp không chỉ biểu hiện trong lĩnh vực kinh tế mà còn cả trên lĩnh vực kiến trúc
nhằm giành, giữ và thực thi quyền lực chính trị của một giai cấp.
Vạch rõ dấu hiệu căn bản nhất cũng như quy luật chung nhất của chính trị,
trong đó đặc biệt là quy luật về giành, giữ, thực thi quyền lực chính trị, sẽ là cơ sở
khoa học, là tiền đề cần thiết để khảo sát các dấu hiệu đặc trưng bản chất của thiết chế
chính trị tương ứng - Hệ thống chính trị.
1.1.2. Khái niệm “hệ thống chính trị”
Chính trị là một hiện tượng lịch sử, nó có quá trình ra đời, tồn tại và mất đi.
chính trị chỉ tồn tại khi xã hội có giai cấp và nhà nước. Các nhà kinh điển Mác,
Ăngghen, Lênin vẫn chưa dùng khái niệm hệ thống chính trị. Tuy nhiên nội dung sự
hiểu biết về hệ thống chính trị đã được Mác, Ăngghen, Lênin diễn đạt bằng những
phạm trù liên quan như: hình thức chính trị, thiết chế chính trị, thể chế chính trị, cơ cấu
chính trị, kết cấu chính trị của xã hội hay tư tưởng chính trị và các thiết chế tương
ứng… Sau Mác, là ở các nước phương Tây tư bản chủ nghĩa (đầu những năm 50 của
thế kỷ XX) và ở các nước xã hội chủ nghĩa cũ (Liên Xô muộn hơn vào đầu những năm
8
80 của thế kỷ XX) mới xuất hiện khái niệm hệ thống chính trị. Ở Việt Nam, bắt đầu từ
Hội nghị Trung ương 6 khoá VI (tháng 3-1989) Đảng ta mới dùng khái niệm hệ thống
chính trị. Trong những văn kiện, sách báo, tạp chí, công trình nghiên cứu chính trị ở
nước ta gần đây ngày càng sử dụng rộng rãi phạm trù hệ thống chính trị, hệ thống
chính trị xã hội chủ nghĩa. Khái niệm hệ thống chính trị ra đời ở thời kỳ hiện đại, nó là
sự phản ánh chính trị hiện đại. Mặc dù đến thời hiện đại, khái niệm hệ thống chính trị
mới ra đời, nhưng sự hiểu biết về nó không kém phần đa dạng, phong phú đến mức mà
khó có thể thống kê hết được những sự hiểu biết đó. Chẳng hạn, ở các nước xây dựng
chủ nghĩa xã hội trước đây, quan niệm phổ biến xem hệ thống chính trị chỉ bao gồm
những tổ chức chính trị - xã hội mang bản chất của giai cấp cầm quyền nhằm phục vụ
cho quyền lực chính trị của giai cấp đó. Quan điểm này đã đồng nhất phạm trù “hệ
thống chính trị” với phạm trù “hệ thống chuyên chính của giai cấp cầm quyền”. Từ đó,
cho rằng hệ thống chính trị trong chủ nghĩa tư bản chính là hệ thống chuyên chính tư
chính trị - xã hội và các mối quan hệ giữa chúng với nhau trong và giữa các cấp độ tổ
chức và hoạt động theo chức năng, nhiệm vụ hợp thành cơ chế chính trị của một chế
độ xã hội nhằm đảm bảo việc thực hiện quyền lực chính trị của giai cấp thống trị.
Từ khái niệm vừa đưa ra trên, ta có thể xem xét đến sự tồn tại, vận động, biến
đổi của HTCT diễn ra trên thực tế rất đa dạng. Và tính đa dạng của HTCT tuỳ thuộc
vào các nhân tố khách quan và chủ quan tác động đến:
Nhóm nhân tố khách quan: các nhân tố ảnh hưởng đến hệ thống chính trị quốc
gia là địa lý và điều kiện kinh tế - xã hội và lịch sử. Trình độ phát triển kinh tế, tương
quan giữa các lực lượng chính trị đang hiện diện, yếu tố lịch sử truyền thống văn hoá...
HTCT là một hiện tượng lịch sử chỉ tồn tại trong những điều kiện kinh tế - xã
hội nhất định trong xã hội có giai cấp và hình thành nhà nước. Kết cấu HTCT không
phải theo ý muốn chủ quan của một giai cấp nào, mà do điều kiện kinh tế - chính trị xã hội quy định.
Sự hiện diện của các lực lượng chính trị và mối tương quan lực lượng giữa
chúng. Đây là yếu tố quyết định trực tiếp việc thiết lập HTCT theo mô hình đa đảng
hay một đảng trên thực tế.
Cùng với sự trưởng thành của ý thức công dân thì truyền thống, thói quen, lịch
sử văn hoá chính trị của dân tộc quốc gia là yếu tố khách quan tạo nên diện mạo bản
sắc về HTCT của mỗi quốc gia.
Nhóm nhân tố chủ quan:
Sự trưởng thành, năng lực và đạo đức, bản chất và bản lĩnh chính trị của đảng
chính trị cùng với đội ngũ đảng viên của nó. Đây là yếu tố rất quan trọng liên quan đến
sinh mệnh đảng chính trị, nó được xem là thước đo tổng hợp đánh giá mức độ uy tín
đích thực của đảng chính trị trước dân chúng như thế nào. Điều này hoàn toàn từ xuất
10
phát điểm, cũng như là hệ quả của sự nỗ lực, trưởng thành nhân tố chủ quan của đảng
chính trị mà có.
Sự tương đồng về tư tưởng của các đảng chính trị: nếu việc tìm kiếm và tạo
dựng sự tương đồng về tư tưởng, quan điểm của các đảng chính trị càng lớn thì dễ
Tính nhất nguyên thể hiện ở chỗ nền tảng tư tưởng của cả hệ thống chính trị là
chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Chủ nghĩa xã hội là mục tiêu chung,
không chấp nhận các khuynh hướng chính trị trái với chủ nghĩa Mác - Lênin và chủ
nghĩa xã hội. Chỉ có một hệ thống chính trị duy nhất và thống nhất trong cả nước mà
Đảng Cộng sản là hạt nhân lãnh đạo. Đảng Cộng sản Việt Nam với sự vững vàng về
chính trị, tư tưởng và tổ chức, trong suốt lịch sử của mình, Đảng Cộng sản Việt Nam
đã thể hiện là một Đảng mác - xít thực sự, chân chính lãnh đạo cách mạng Việt Nam đi
từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.
Việc Đảng lãnh đạo hệ thống chính trị và toàn xã hội là sự đảm bảo sự chắc chắn
nhất để nhân dân bảo vệ và phát huy quyền làm chủ xã hội của mình, chống lại mọi biểu
hiện đi ngược lại nguyện vọng, quyền lợi của nhân dân.
Hệ thống chính trị nước ta do duy nhất một Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo
là một đặc điểm vừa mang tính phổ biến đối với hệ thống chính trị các nước xã hội chủ
nghĩa, vừa mang tính đặc thù Việt Nam. Tính đặc thù đó do vai trò, vị trí, uy tín của
Đảng Cộng sản Việt Nam quy định.
Thứ hai, hệ thống chính trị mang tính nhân dân rộng rãi.
Tính nhân dân rộng rãi của hệ thống chính trị thể hiện chủ yếu ở mục tiêu,
phương thức, nguyên tắc tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị:
Nhân dân là gốc của quyền lực, là chủ của xã hội. Tổ chức của Nhà nước do
nhân dân lập ra, hoạt động của các cơ quan và công chức nhà nước là đầy tớ của dân
chịu sự giám sát tối cao và thường xuyên của dân.
Hệ thống chính trị bằng mọi hình thức khác nhau để tập hợp, tổ chức mọi người
dân thuộc các dân tộc, tôn giáo, giai cấp, nghề nghiệp, chính kiến…, ở trong và ngoài
nước để thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh.
Thứ ba, tính quá độ của hệ thống chính trị Việt Nam.
Hệ thống chính trị hiện nay ở nước ta đã và đang chuyển sang phạm trù hệ
thống chính trị xã hội chủ nghĩa nhưng đang ở bước đầu xây dựng. Nó là bước phát
triển nối tiếp tự nhiên và liên tục từ hệ thống chính trị dân chủ nhân dân trước đây, đó
chính trị nói chung chứ không phải là có ba hệ thống chính trị: hệ thống chí nh trị
trung ương, hệ thống chính trị địa phương và hệ thống chính trị cơ sở. Khẳng định
điều này có ý nghĩa rất quan trọng cả về lý luận và thực tiễn. Với cách hiểu hệ thống
chính trị nói chung có tính toàn vẹn, duy nhất, thống nhất như vậy sẽ là tiền đề, cơ sở
để hiểu đúng vai trò, vị trí của hệ thống chính trị ở cơ sở - cấp cơ sở của hệ thống
chính trị nói chung.
Tóm lại, xuất phát từ mục tiêu, lý tưởng của chủ nghĩa xã hội, từ bản chất của
chế độ xã hội chủ nghĩa, hệ thống chính trị ở nước ta nhằm xây dựng và phát triển nền
dân chủ xã hội chủ nghĩa. Để thực hiện mục tiêu đó, tính đồng bộ trong hoạt động và
13
tính thống nhất về mục tiêu, tính chủ động sáng tạo của các tổ chức trong hệ thống
chính trị và việc giải quyết tốt các mối quan hệ ngang dọc trong toàn bộ hệ thống là
những điều kiện căn bản đảm bảo cho hệ thống chính trị hoạt động có hiệu quả. Hay
nói cách khác, sự hoàn thiện của hệ thống chính trị sẽ là phương thức và động lực để
hoàn thành mục tiêu, lý tưởng của chủ nghĩa xã hội ở nước ta.
1.2. Hệ thống chính trị ở cơ sở nông thôn
1.2.1. Khái niệm hệ thống chính trị ở cơ sở nông thôn
Muốn đổi mới và hoàn thiện hệ thống chính trị ở cơ sở, đặc biệt là ở cơ sở nông
thôn nước ta nói chung, nông thôn huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La nói riêng, vấn đề rất
quan trọng và cần thiết trước tiên là phải nhận thức đúng về cơ sở và vị trí, vai trò của
cơ sở, đặc biệt là cơ sở nông thôn. Lớp đối tượng mà khái niệm cơ sở nông thôn phản
ánh đó chính là toàn bộ những xã, thị trấn đang tồn tại thực trên đất nước ta với những
tên gọi, địa dư hành chính, pháp lý chính trị đầy đủ của nó. Mặt khác, về mặt nội hàm
tương ứng của khái niệm này phải được hiểu các xã, thị trấn ở nông thôn là cơ sở xã
hội của chính trị, của chế độ chính trị, là cơ sở của thể chế chính trị, của thể chế nhà
nước. Cơ sở nông thôn: xã, thị trấn được xét ở đây tồn tại với tư cách là một cấp quản
lý trong hệ thống bốn cấp quản lý hành chính nhà nước hiện hành ở nước ta - cấp cơ
sở. Như vậy, cơ sở nông thôn gồm xã, thị trấn là thuộc về cấp cơ sở của hệ thống quản
Thứ hai, hệ thống chính trị ở cơ sở có bộ máy đơn giản nhất và cán bộ biên chế
được hưởng sinh hoạt phí thấp nhất.
Theo các quy định hiện hành thì hệ thống chính trị ở cơ sở xã, thị trấn được
biên chế và hưởng sinh hoạt phí không quá 25 người. Bộ máy đơn giản nhất nhưng
không phải là đơn giản nhất trong vận hành bộ máy. Các mối quan hệ ở đây không
phải là không phức tạp. Tính phức tạp ở đây được quy định bởi các yếu tố dân tộc, gia
tộc, dòng họ, tôn giáo, văn hoá, truyền thống…
Thứ ba, hệ thống chính trị ở cơ sở là cấp có đội ngũ cán bộ biến động nhất, ít
chuyên nghiệp nhất, trình độ học vấn và văn hoá, trình độ lý luận và chuyên môn
thấp nhất.
Đội ngũ cán bộ của hệ thống chính trị ở cơ sở biến động nhất là vì do cơ chế họ
không được biên chế cố định mà chủ yếu lệ thuộc vào lá phiếu bầu chọn trong các
cuộc bầu cử nên thời gian này làm cán bộ, thời gian sau làm dân thường. Tâm lý
không ổn định, số phận bấp bênh chi phối rất lớn đến từng người ở từng thời kỳ khác
nhau. Dẫn đến việc họ ít được chuyên môn hoá, ít được đào tạo cơ bản và họ cũng còn
nặng tâm lý ngại học tập lý luận và chuyên môn nghiệp vụ theo xu hướng tâm lý
“quan nhất thời, dân vạn đại”. Phần lớn những người được đào tạo cơ bản cả về lý luận
và chuyên môn nghiệp vụ thì họ tìm cách thoát ly khỏi xã, thị trấn để lại hệ thống
chính trị ở cơ sở với đội ngũ cán bộ nổi bật đặc điểm này.
15
Thứ tư, hệ thống chính trị ở cơ sở là cấp trực tiếp nhất chịu sự chi phối của
nhân dân.
Mọi đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước quán triệt, triển khai đến dân
đều qua cấp cơ sở. Vì vậy, nó là cấp gần dân nhất và thể hiện tính nhân dân một cách
rõ ràng, trực tiếp nhất. Song đây là cấp đầu tiên đối mặt với những yêu cầu bức xúc
của dân chúng với những mâu thuẫn, thậm chí cả những xung đột nảy sinh trong đời
sống dân cư. Vì vậy, tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị ở cơ sở mang tính tự
quản cao.
và dân cư, mức độ làm ra của cải vật chất, tính chất và lĩnh vực hoạt động) thì cách
hiểu về cơ sở như đã nêu trên là không có gì sai. Song đó mới chỉ là một phương diện
của vấn đề cần bàn nhưng chưa đầy đủ.
Hơn nữa, cách nhìn từ trên xuống, lâu dần theo thói quen, tiền lệ khó thay đổi
hình thành trong tư duy quản lý là tính chất hành chính quan liêu, như: quen dùng chỉ
thị, mệnh lệnh từ trên đã áp đặt xuống cơ sở, biến cơ sở trở thành thụ động, trì trệ làm
mất đi tính năng động, sinh động và đa dạng phong phú ở cơ sở, Vì cơ sở vốn là nơi
diễn ra mọi hoạt động đời sống của dân, việc làm của dân, là thái độ và hành vi ứng xử
của dân chúng đối với cấp chính quyền, mọi quan hệ xã hội. Cách nhìn từ trên xuống
một cách quan liêu - hành chính như vậy, đã tạo ra khoảng cách biệt rất lớn giữa Trung
ương với cơ sở, nếu có đi cơ sở cũng chỉ mang hình thức và chiếu lệ, tuỳ thuộc vào
trách nhiệm công việc hay phong cách dân chủ, thái độ và tình cảm đạo đức với dân
của cán bộ cấp trên chứ không mang tính pháp lý bắt buộc được bảo đảm bởi chế tài,
bởi kiểm tra và giám sát.
Cách biệt với cơ sở lại càng trở nên nghiêm trọng hơn khi hệ thống thể chế
hành chính quan liêu bị xơ cứng bởi các tầng nấc, giấy tờ, công văn, chỉ thị của các
cấp trên, bởi cả những khó khăn, trở ngại về giao thông đi lại do hạ tầng cơ sở kém
phát triển, bởi thiếu thông tin, không có thói quen cập nhật thông tin từ cơ sở của đội
ngũ công chức, viên chức quan liêu. Cơ sở nông thôn miền núi, với những làng bản xa
xôi gần như cách biệt, thậm chí không ít nơi bị bỏ quên, bị lãng quên, không được đầu
tư, chăm sóc, không được quan tâm để nó diễn ra một cách tự phát. Những cơ sở loại
đó vốn đã lạc hậu, khó khăn, chậm phát triển lại càng trở nên khu vực đặc biệt khó
khăn hơn.
“Cái thấp nhất, nhỏ nhất trong quản lý không bao giờ được đồng nghĩa với cái
ít quan trọng hơn” [1;183], ít quan trọng hơn so với những cái cao hơn, lớn hơn. Tư
duy so sánh hình thức ở đây đem áp dụng cho vị trí, vị thế của cơ sở là một sai lầm đã
từng xảy ra khi nhận thức về cơ sở và ứng xử với cơ sở. Do đó, nhận thức trước đây về
cơ sở còn nhiều điểm chưa đúng và chưa chính xác về đặc điểm, vai trò của cơ sở
trong đời sống xã hội cũng như trong hoạt động lãnh đạo và quản lý ở cơ sở. Tồn tại
17
tư, nguyện vọng của dân với biết bao lợi ích và nhu cầu chính đáng hàng ngày của họ.
Chỉ có thể xây dựng thể chế dân chủ thì cán bộ, công chức mới trở thành “công bộc
của dân”, gần dân, hiểu dân, học dân, hỏi dân, lãnh đạo và tận tuỵ phục vụ dân trong
sự giúp đỡ, ủng hộ của dân, trong sự kiểm tra giám sát của dân, dân chủ mới không
biến thành “quan chủ”, “quan cách mạng” theo cách nói của Hồ Chí Minh.
18
Trọng dân, tín dân và vì dân đã làm thay đổi cách nhìn nhận, đánh giá về vị trí,
vai trò của cơ sở khi mà dân và cuộc sống của dân vừa là điểm xuất phát, vừa là mục
tiêu của mọi hoạt động lãnh đạo và quản lý, của việc đổi mới tổ chức và hoạt động của
HTCT. Do đó, đổi mới nhận thức về vai trò của cơ sở, chúng ta đặc biệt lưu ý tới
những điểm dưới đây:
Cơ sở nông thôn không chỉ là địa bàn cư trú của dân, mà còn là nơi diễn ra mọi
hoạt động sinh sống và làm ăn của nhân dân lao động của đời sống xã hội. Đó vừa là
địa bàn diễn ra các hoạt động sản xuất - kinh doanh của người lao động, của các cơ sở
doanh nghiệp theo các thành phần kinh tế..., vừa là nơi diễn ra trao đổi, lưu thông hàng
hoá, là đầu mối của thị trường, nơi hình thành các quan hệ kinh tế giữa các chủ thể sản
xuất và tiêu dùng. Do đó, nói tới cơ sở là nói tới người dân (các chủ thể) và hình thức
tổ chức các hoạt động sống của cộng đồng, các mối quan hệ xã hội. Mỗi cơ sở là một
cộng đồng xã hội, ở đó có hoạt động kinh tế, có giao lưu văn hoá và đồng thời tất yếu
phải hình thành nên cộng đồng xã hội - chính trị, bởi có vai trò của quản lý hành chính
của Nhà nước theo pháp luật, nhằm đảm bảo an ninh, trật tự xã hội và tổ chức đời sống
chính trị của các công dân.
Cấp cơ sở nông thôn, không chỉ là cấp thực hiện chức năng quản lý của nhà
nước mà còn là nơi diễn ra các hoạt động tự quản của cộng đồng xã hội. Đây là nét đặc
trưng của nước ta, do đặc điểm và truyền thống lịch sử nên tính cố kết cộng đồng đặc
biệt nổi bật ở cơ sở. Tính chất vừa quản lý, vừa tự quản ở cơ sở thể hiện trong mối
quan hệ giữa xã và bản. Đây là mối quan hệ tác động qua lại, phân công, phối hợp chứ
dân chúng hay không. Nó liên quan trực tiếp tới HTCT ở cơ sở, tới chất lượng đội ngũ
cán bộ ở cơ sở. Có cán bộ tốt thì mới có phong trào mạnh mẽ, sôi nổi. Từ các phong
trào của quần chúng ở cơ sở mà nảy sinh rất nhiều sáng kiến của dân, xuất hiện những
điển hình tiên tiến của xã hội ở ngay cơ sở, làm cho cán bộ trưởng thành, phát huy
được phẩm chất và năng lực trong công tác thực tế, nhờ đó làm tăng uy tín, ảnh hưởng
của Đảng, Nhà nước trong quần chúng. Cơ sở nông thôn chẳng những cung cấp cán bộ
cho phong trào, cho cơ sở và cấp trên, mà còn là nơi quần chúng chứng thực tính đúng
đắn của đường lối, chủ trương, chính sách hoặc từ thực tiễn cơ sở mà kiểm nghiệm,
phát hiện, điều chỉnh, sửa chữa, làm cho đường lối, chính sách ngày càng phù hợp với
thực tiễn, càng hợp với lòng dân và được lòng dân hơn.
Cơ sở nông thôn là tầng sâu nhất mà sự vận hành của thể chế chính trị từ cấp vĩ
mô phải tác động tới. Vì cơ sở gắn liền với dân, có quy mô dân số và diện tích. Do
đó, cơ sở tuy là cấp thấp nhất trong cấp quản lý nhưng lại là tầng sâu nhất trong
quản lý và lãnh đạo, là địa chỉ quan trọng nhất mà mọi chỉ thị, nghị quyết, chủ
trương, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước phải tìm đến, phải bằng mọi
cách tổ chức, tuyên truyền, vận động làm cho dân hiểu, dân tin và dân làm.
20