ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
ĐẶNG THỊ THU HƢƠNG
THỰC HIỆN PHÁP LỆNH DÂN CHỦ
Ở XÃ, PHƢỜNG, THỊ TRẤN TRÊN ĐỊA BÀN
HUYỆN VŨ THƢ, TỈNH THÁI BÌNH HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS. TS. Nguyễn Thọ Khang
Hà Nội - 2013
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC THỰC HIỆN PHÁP LỆNH DÂN
CHỦ Ở XÃ, PHƢỜNG, THỊ TRẤN Ở NƢỚC TA HIỆN NAY 9
1.1. Một số khái niệm 9
1.1.1. Khái niệm dân chủ 9
1.1.2. Khái niệm dân chủ xã hội chủ nghĩa 10
1.1.3. Khái niệm dân chủ xã hội chủ nghĩa ở cơ sở 13
1.2. Những vấn đề chung về “Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường,
thị trấn” của Ủy ban thường vụ Quốc hội nước Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam 14
1.2.1. Sự cần thiết xây dựng Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã,
phường, thị trấn ở nước ta 14
1.2.2. Những nội dung chính của Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã,
phường, thị trấn 16
1.2.3. Vai trò của Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn 20
Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn trên địa bàn
huyện Vũ Thư tỉnh Thái Bình 48
2.3. Hạn chế và nguyên nhân của hạn chế trong quá trình triển khai thực
hiện Pháp lệnh dân chủ ở xã, phường, thị trấn trên địa bàn
huyện Vũ Thư tỉnh Thái Bình 52
2.3.1. Hạn chế trong quá trình triển khai thực hiện Pháp lệnh dân chủ
ở xã, phường, thị trấn trên địa bàn huyện Vũ Thư tỉnh Thái
Bình 52
2.3.2. Nguyên nhân của hạn chế trong quá trình triển khai Pháp lệnh
thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn trên địa bàn huyện Vũ
Thư tỉnh Thái Bình 55
2.4. Bài học kinh nghiệm 59
Chƣơng 3: NHỮNG PHƢƠNG HƢỚNG CƠ BẢN VÀ CÁC GIẢI PHÁP CHỦ
YẾU THỰC HIỆN PHÁP LỆNH DÂN CHỦ Ở XÃ, PHƢỜNG, THỊ
TRẤN TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN VŨ THƢ, TỈNH THÁI BÌNH HIỆN
NAY 62
3.1. Những phương hướng cơ bản 62
3.1.1. Kết hợp đẩy mạnh tuyên truyền sâu rộng các nội dung của Pháp
lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn với nâng cao dân
trí cho các tầng lớp nhân dân bằng nhiều hình thức khác nhau 62
3.1.2. Tiếp tục phát huy vai trò của hệ thống chính trị ở cơ sở đối với
việc thực hiện Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở cơ sở 64
3.1.3. Gắn việc thực hiện Pháp lệnh dân chủ ở cơ sở với nhiệm vụ
phát triển kinh tế, xã hội, văn hóa của địa phương 65
3.2. Các giải pháp chủ yếu 66
3.2.1. Kiện toàn Ban chỉ đạo việc thực hiện Pháp lệnh dân chủ ở cơ sở 66
3.2.2. Nâng cao trình độ dân trí, ý thức, năng lực thực hành dân chủ
của nhân dân 67
3.2.3. Nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân 68
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Dân chủ, dù ở bất cứ quốc gia nào trên thế giới, dù trong lịch sử hay
hiện tại luôn là kết quả của cuộc đấu tranh giai cấp trong xã hội có giai cấp.
Khi đó, dân chủ là môi trường của tự do, hạnh phúc và lối sống của nhân loại
tiến bộ.Vì vậy, dân chủ hóa là một xu hướng chính trị, một nhu cầu khách
quan của sự phát triển xã hội.
C. Mác và Ph. Ăngghen đã chỉ rõ, trong giai đoạn đầu tiên của cách
mạng vô sản là, giai cấp vô sản phải trở thành giai cấp thống trị, phải giành
lấy dân chủ và dựa vào ưu thế chính trị đó, giai cấp vô sản mới tiến hành
thắng lợi công cuộc cải tạo xã hội cũ, xây dựng thành công xã hội mới xã hội
hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn khá sâu rộng nhưng còn có một số hạn chế
như: việc triển khai Pháp lệnh chưa đồng đều, tình trạng nhũng nhiễu, gây
phiền hà cho nhân dân vẫn xảy ra ở một số xã; tình trạng cán bộ thiếu trách
nhiệm, triển khai Pháp lệnh còn mang tính chống đối, thực thi dân chủ còn
mang nặng tính hình thức hay ở một số địa phương do nhận thức của người
dân chưa đúng nên vẫn xảy ra hiện tượng dân chủ bị kẻ xấu lợi dụng để thực
hiện ý đồ không tốt, dân chủ tự do quá trớn Vậy những nguyên nhân nào
dẫn đến tình trạng trên và khắc phục nó như thế nào? Để Pháp lệnh dân chủ ở
cơ sở thực sự đi vào cuộc sống, cần có những phương hướng và giải pháp gì?
Để trả lời cho câu hỏi này, tác giả đã chọn đề tài “Thực hiện Pháp lệnh dân
chủ ở xã, phường, thị trấn trên địa bàn huyện Vũ Thư - tỉnh Thái Bình hiện
nay” làm luận văn tốt nghiệp của mình.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Vấn đề dân chủ và dân chủ ở cơ sở được nhiều nhà khoa học quan tâm
với nhiều công trình có giá trị và ý nghĩa đã được công bố như:
* Sách:
PGS. TS Dương Xuân Ngọc: “Quy chế thực hiện dân chủ cấp xã- Một
số vấn đề lý luận và thực tiễn”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000;
3
PGS.TS Nguyễn Cúc: “Thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở trong tình hình
hiện nay - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà
Nội, 2002; Lương Gia Ban: “Dân chủ và việc thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ
sở”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003; TS. Nguyễn Văn Sáu - GS. Hồ
Văn Thông: “Thực hiện quy chế dân chủ và xây dựng chính quyền cấp xã ở
nước ta hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003. Ở các công trình này,
các tác giả tập trung làm rõ ý nghĩa, tầm quan trọng cả về mặt lý luận và thực
tiễn cùng thực trạng của việc thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở.
Thomas Meyer và Nicole Breyer: “Tương lai của nền dân chủ xã hội”,
(Người dịch: Trần Danh Tạo, Ngô Lan Anh), Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội,
Dương Trung Ý: “Nâng cao sự lãnh đạo của các tổ chức cơ sở đảng
thực hiện hiệu quả dân chủ ở cơ sở”, Tạp chí Cộng sản, số 14 (tháng 5/2003).
Ở bài viết này tác giả chủ yếu đề cập đến các giải pháp nhằm nâng cao vai trò
và năng lực của các tổ chức cơ sở Đảng trong việc phát huy dân chủ ở cơ sở.
TS. Đoàn Minh Huấn: “Dân chủ đại diện, dân chủ trực tiếp và quá trình
mở rộng dân chủ XHCN ở nước ta”, Tạp chí Lý luận chính trị, số 8/2004. Tác
giả bài viết này làm rõ đặc trưng của hai hình thức dân chủ là dân chủ trực
tiếp và dân chủ đại diện, đồng thời khẳng định vai trò, ưu thế của mỗi hình
thức cũng như sự cần thiết phải kết hợp chặt chẽ hai hình thức dân chủ này
trong việc mở rộng dân chủ XHCN ở nước ta.
Phạm Ngọc Trâm: “Nhìn lại quá trình thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ
sở 1998-2012”, Tạp chí Lịch sử Đảng, số 11/2012. Tác giả bài viết này đã
đánh giá một cách tổng quát quá trình thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở hơn
mười năm qua, từ chủ trương của Đảng, thể chế của Nhà nước đến các hình
thức tổ chức và cơ chế phối hợp hiệu quả thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở.
Đặc biệt tác giả còn chỉ ra bước phát triển mới trong thực hiện Quy chế dân
chủ ở cơ sở những năm qua.
Ngoài ra cũng có một số luận văn cũng đề cập đến vấn đề dân chủ và
dân chủ ở cơ sở như:
5
Nguyễn Thanh Sơn: “Thực hiện Quy chế dân chủ ở xã trên địa bàn tỉnh
Sơn La- thực trạng và giải pháp”, Luận văn Thạc sỹ CNXHKH bảo vệ tại Học
viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh năm 2003. Trần Quốc Huy: “Hoàn thiện
Quy chế thực hiện dân chủ ở cơ sở ở Việt Nam hiện nay”, Luận văn thạc sĩ
Luật, Hà Nội, 2005. Ở những Luận văn này các tác giả đề cập đến việc thực
hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở gắn với những địa bàn cụ thể, làm rõ thực trạng
và đưa ra giải pháp đối với thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở trên những địa
bàn đó.
Vương Ngọc Thịnh: “Thực hiện Pháp luật về dân chủ ở cơ sở trên địa
Mục đích nghiên cứu của luận văn là trên cơ sở nghiên cứu thực trạng
thực hiện Pháp lệnh dân chủ ở cấp xã mà tác giả luận văn đưa ra những giải
pháp góp phần nâng cao hiệu quả thực hiện Pháp lệnh dân chủ ở xã, phường,
thị trấn trên địa bàn huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình.
Để đạt mục đích nghiên cứu nói trên, luận văn có nhiệm vụ:
Thứ nhất, làm rõ những vấn đề lý luận chung về dân chủ, dân chủ
XHCN và dân chủ ở cơ sở.
Thứ hai, phân tích, đánh giá thực trạng thực hiện Pháp lệnh dân chủ ở
xã, phường, thị trấn tại Vũ Thư - Thái Bình thời gian qua.
Thứ ba, đề xuất những phương hướng, giải pháp nhằm đẩy mạnh việc
thực hiện Pháp lệnh dân chủ ở xã, phường, thị trấn trên địa bàn huyện Vũ Thư
tỉnh Thái Bình hiện nay.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
- Đối tượng nghiên cứu:
Luận văn tiến hành nghiên cứu việc thực hiện Pháp lệnh dân chủ ở xã,
phường, thị trấn trên địa bàn huyện vũ Thư tỉnh Thái Bình.
- Phạm vi nghiên cứu:
Luận văn tiến hành nghiên cứu việc thực hiện Pháp lệnh dân chủ ở xã,
phường, thị trấn trên địa bàn huyện vũ Thư tỉnh Thái Bình từ năm 2007 đến
nay.
7
5. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu của luận văn
Luận văn thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng, Nhà nước ta về dân chủ và xây
dựng nền dân chủ XHCN.
Phương pháp luận mà tác giả sử dụng là chủ nghĩa duy vật biện chứng
và duy vật lịch sử. Đồng thời, trong quá trình thực hiện đề tài, tác giả sử dụng
các phương pháp nghiên cứu cụ thể như: phân tích, tổng hợp, so sánh, thống
kê, điều tra xã hội học, phỏng vấn
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC THỰC HIỆN PHÁP LỆNH DÂN CHỦ
Ở XÃ, PHƢỜNG, THỊ TRẤN Ở NƢỚC TA HIỆN NAY
1.1. Một số khái niệm
1.1.1. Khái niệm dân chủ
Thuật ngữ “dân chủ” có gốc tiếng Hy Lạp là “demokratia” được hình
thành từ hai chữ “demos” có nghĩa là nhân dân và “kratos” có nghĩa là quyền
lực. “Demokratia” hiểu một cách đơn giản là quyền lực thuộc về nhân dân
hay nhân dân làm chủ quyền lực.
Dân chủ có quá trình tiến hóa lâu dài thể hiện khát vọng của nhân dân
được làm chủ vận mệnh, làm chủ quyền lực xã hội của mình. Sự phát triển
của dân chủ phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế, xã hội, năng lực nhận
thức của công dân và chính quyền, truyền thống lịch sử, văn hóa…
Khi xã hội chưa phân chia thành giai cấp, còn sống thành thị tộc, bộ lạc
nguyên thủy thì quyền lực chung của cộng đồng là quyền lực của công xã trao
cho người thủ lĩnh thừa hành.
Xã hội chiếm hữu nô lệ ra đời xuất hiện sự phân chia thành hai giai cấp
cơ bản và đối lập nhau: chủ nô và nô lệ. Quyền lực được tổ chức thành nhà
nước nhưng do giai cấp chủ nô chi phối, người nô lệ là lực lượng sản xuất lớn
nhất, tạo ra tài sản xã hội nhưng hầu như không có quyền sống, quyền làm
người. Đó là nghịch lý lớn nhất trong xã hội chiếm hữu nô lệ.
Bước sang chế độ phong kiến, nông dân và nông nô có chút quyền tự
do nhưng vẫn chỉ được coi là “thần dân”, là “bầy tôi” của vua, tức là họ vẫn là
công cụ, phương tiện của người cầm quyền; quyền lực chính trị, quyền lực
nhà nước, về cơ bản, vẫn nằm trong tay chúa đất và nhà thờ.
Sang thời đại tư bản chủ nghĩa, nơi mà luôn nêu khẩu hiệu “bình đẳng”,
“bác ái”, “tự do” nhưng sự tự do, bình đẳng, bác ái ấy lại khó có được nếu
10
như ai đó không có tiền hoặc có ít tiền. Tuy nhiên dân chủ tư sản vẫn là một
khi nền dân chủ vô sản - dân chủ XHCN ra đời thì quyền lực của người dân
mới ngày càng được thực hiện đầy đủ trong thực tiễn bởi đó là nền dân chủ
của đa số nhân dân với sự đảm bảo thực hiện của Pháp luật của Nhà nước
pháp quyền XHCN của dân, do dân, vì dân trên nền tảng của chế độ sở hữu xã
hội về tư liệu sản xuất chủ yếu.
Dân chủ XHCN ra đời là một hiện tượng hợp quy luật, là bước phát
triển cao hơn về chất so với các kiểu dân chủ khác. Đó là nền dân chủ được
xây dựng và hình thành trong tiến trình xây dựng CNXH, mang bản chất của
giai cấp công nhân, dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản để thực hiện và bảo
đảm quyền làm chủ thực sự của đông đảo quần chúng nhân dân trong xã hội.
Nền dân chủ XHCN khẳng định quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân
lao động, nhân dân tự tổ chức quyền lực nhà nước qua bầu cử, tham gia quản
lý và quyết định những vấn đề quan trọng, kiểm tra, giám sát hoạt động của
nhà nước thông qua các hình thức dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện.
Chủ nghĩa Mác-Lênin cũng đã từng khẳng định rằng dân chủ vô sản
không chỉ là công cụ, phương tiện để phát huy tính sáng tạo của quần chúng
mà còn là bản chất tồn tại của nhà nước XHCN. Chế độ dân chủ XHCN là
một kiểu hình thức nhà nước mới khác về chất so với các hình thức nhà nước
trước đó bởi nó đảm bảo đươc quyền lợi cho đa số nhân dân lao động. Theo
V.I.Lênin: “Đồng thời với việc mở rộng rất nhiều chế độ dân chủ, lần đầu tiên
biến thành chế độ dân chủ cho người nghèo, chế độ dân chủ cho nhân dân
dân chủ cho tuyệt đại đa số nhân dân” [34, tr. 107].
Dân chủ XHCN đảm bảo dân chủ thực sự cho nhân dân lao động, dân
chủ toàn diện trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, tư tưởng…,
thống nhất được quyền và nghĩa vụ của công dân trong mối quan hệ với Nhà
nước, nó là mục tiêu và động lực của sự phát triển xã hội.
12
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quyết tâm đưa nước ta trở thành
một nước dân chủ, Người chỉ ra rằng: bao nhiêu quyền hạn đều của dân, nước
nhân loại.
1.1.3. Khái niệm dân chủ xã hội chủ nghĩa ở cơ sở
Dân chủ XHCN ở cơ sở là một cấp độ của chế độ dân chủ XHCN.
Củng cố và mở rộng dân chủ XHCN ở cơ sở là một quá trình nâng cao sức
mạnh và hiệu quả hoạt động của nhà nước, trước hết ở cấp xã, phường, thị
trấn. Hay nói cách khác, dân chủ ở xã, phường, thị trấn là việc thực hiện
quyền mọi người được tham gia bàn bạc hoặc quyết định các công việc chung
của xã, phường, thị trấn.
Hệ thống chính trị của nước ta được tổ chức theo nguyên tắc cơ bản của
nền dân chủ xã hội chủ nghĩa đó là nguyên tắc tập trung dân chủ, tổ chức
thành bốn cấp là trung ương, tỉnh, huyện, xã. Cơ sở, là cấp xa Trung ương
nhất nhưng lại là cấp gần dân nhất. Đó cũng là nơi sẽ trực tiếp thực hiện và
kiểm nghiệm những chính sách, đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước,
là nơi bắt đầu của mọi cuộc vận động xã hội. Vì vậy nói dân làm chủ trước
hết là nói đến làm chủ ở cơ sở. Trong xây dựng nền dân chủ XHCN, phát huy
quyền làm chủ của nhân dân, khâu cấp bách hiện nay là phát huy quyền làm
chủ của nhân dân ở cơ sở. Vì chỉ có thực hiện dân chủ, phát huy quyền làm
chủ của nhân dân từ cơ sở mới phát huy được tính tích cực, chủ động, tự giác
của các tầng lớp nhân dân.
Dân chủ XHCN ở cơ sở đó là nhân dân có quyền được biết, được bàn,
được tham gia giải quyết, được tham gia kiểm tra giám sát mọi hoạt động diễn
ra ở cơ sở. Dân chủ XHCN ở cơ sở được thực hiện dưới hình thức dân chủ
trực tiếp và dân chủ đại diện nhưng chủ yếu là hình thức dân chủ trực tiếp.
Chỉ có trên cơ sở thực hiện tốt dân chủ trực tiếp người dân mới có ý thức, thói
quen, trách nhiệm thực hiện quyền lực và lợi ích của mình.
14
GS. TS Lê Hữu Nghĩa trong hội thảo “Thực hiện dân chủ ở cơ sở: Qua
thực tiễn Việt Nam và Trung Quốc” đã chỉ ra một cách khái quát rằng: “Thực
hiện dân chủ ở cơ sở là động lực mạnh mẽ để đảm bảo và phát huy quyền làm
nhân dân ở cơ sở, là nơi trực tiếp thực hiện quyền dân chủ của nhân dân ở cơ
sở, là nơi trực tiếp thực hiện mọi chủ trương , chính sách của Đảng và Nhà
nước, là nơi cần thực hiện quyền dân chủ của nhân dân một cách trực tiếp và
rộng rãi nhất”. Chủ trương đó của Đảng đã được Chính phủ cụ thể hóa bằng
Nghị định số 29/1998/NĐ-CP ngày 11/5/1998 (sau được sửa đổi băng Nghị
định số 79/2003/NĐ-CP ngày 07/7/2003) kèm theo Quy chế thực hiện dân
chủ ở xã, phường, thị trấn quy định các nội dung, phương thức và trách nhiệm
của chính quyền cấp xã trong việc thực hiện quyền dân chủ của nhân dân.
Những văn bản đó đã đánh dấu bước tiến trong việc thể chế hóa phương châm
“dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” của Đảng nhằm phát huy quyền
làm chủ trực tiếp của nhân dân ngay từ cơ sở.
Sau hơn 10 năm thực hiện Quy chế dân chủ ở xã, phường, thị trấn
chúng ta đã đạt được những thành tựu đáng kể. Đời sống sinh hoạt chính trị,
xã hội ở các địa phương đã thay đổi rõ rệt. Nhận thức về quyền làm chủ của
nhân dân được nâng lên, thu hút được nhân dân tham gia vào quản lý Nhà
nước, giám sát hoạt động của chính quyền, khắc phục tình trạng suy thoái,
quan liêu, mất dân chủ, tham nhũng tại cơ sở xã, phường, thị trấn.
Thực hiện Quy chế dân chủ, chính quyền cấp xã bước đầu được kiện
toàn, lề lối, tác phong của cán bộ cơ sở bước đầu có nhiều thay đổi theo
hướng gần dân hơn, phục vụ nhân dân tốt hơn. Việc thực hiện Quy chế còn
được gắn với phát triển KT- XH, cải cách thủ tục hành chính, cuộc vận động
“Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”. Các đơn vị cơ sở đã
tích cực xây dựng quy chế, quy định; thôn, làng, bản, ấp, tổ dân phố xây dựng
hương ước, quy ước; phong trào “Toàn dân xây dựng đời sống văn hóa ở khu
16
dân cư” được đẩy mạnh; xuất hiện nhiều điển hình tiên tiến, gương người tốt,
việc tốt
Tuy nhiên việc thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở trong những năm
qua vẫn còn những hạn chế. Việc thực hiện dân chủ còn không ít biểu hiện
của gia đình và cộng đồng dân cư là một trong những quyền trước tiên của
nhân dân. Điều 5 của Pháp lệnh nêu rõ những nội dung công khai sau đây:
Kế hoạch phát triển KT- XH, phương án chuyển dịch cơ cấu kinh tế và
dự toán, quyết toán ngân sách hàng năm của cấp xã.
Dự án, công trình đầu tư và thứ tự ưu tiên, tiến độ thực hiện, phương án
đền bù, hỗ trợ giải phóng mặt bằng, tái định cư liên quan đến dự án, công
trình trên địa bàn cấp xã; qui hoạch, kế hoạch sử dụng đất chi tiết và phương
án điều chỉnh, quy hoạch khu dân cư trên địa bàn cấp xã.
Nhiệm vụ, quyền hạn của cán bộ, công chức cấp xã trực tiếp giải quyết
các công việc của nhân dân.
Việc quản lý và sử dụng các loại quỹ, khoản đầu tư, tài trợ theo chương
trình, dự án đối với cấp xã, các khoản huy động nhân dân đóng góp.
Chủ trương, kế hoạch vay vốn cho nhân dân để phát triển sản xuất, xóa
đói, giảm nghèo; phương thức và kết quả bình xét hộ nghèo được vay vốn
phát triển sản xuất, trợ cấp xã hội, xây dựng nhà tình thương, cấp thẻ bảo
hiểm y tế.
Đề án thành lập mới, nhập, chia đơn vị hành chính, điều chỉnh địa giới
hành chính liên quan trực tiếp tới cấp xã.
Kết quả thanh tra, kiểm tra, giải quyết các vụ việc tiêu cực, tham nhũng
của cán bộ, công chức cấp xã, cán bộ thôn, tổ dân phố; kết quả lấy phiếu tín
nhiệm Chủ tịch và Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân, Chủ tịch và Phó Chủ tịch
Ủy ban nhân dân cấp xã.
18
Nội dung và kết quả tiếp thu ý kiến của nhân dân đối với những vấn đề
thuộc thẩm quyền quyết định của cấp xã mà chính quyền cấp xã đưa ra lấy ý
kiến nhân dân.
Đối tượng, mức thu các loại phí, lệ phí và nghĩa vụ tài chính khác do
chính quyền cấp xã trực tiếp thu.
Các quy định của pháp luật về thủ tục hành chính, giải quyết các công
viên Ban thanh tra nhân dân, Ban giám sát đầu tư cộng đồng.
Nhân dân bàn và biểu quyết những vấn đề trên bằng một trong các hình
thức đó là: tổ chức cuộc họp cử tri hoặc cử tri đại diện hộ gia đình theo từng
địa bàn, từng thôn, tổ dân phố; phát phiếu lấy ý kiến tới cử tri hoặc cử tri đại
diện hộ gia đình. Trường hợp tổ chức họp cử tri hoặc cử tri đại diện hộ gia
đình thì việc biểu quyết được thực hiện bằng hình thức giơ tay hoặc bỏ phiếu
kín; hình thức biểu quyết do hội nghị quyết định, nếu số người tán thành chưa
đạt quá 50% tổng số cử tri hoặc cử tri đại diện hộ gia đình trong thôn, tổ dân
phố thì tổ chức lại cuộc họp; trường hợp không tổ chức lại được cuộc họp thì
phát phiếu lấy ý kiến tới cử tri hoặc cử tri đại diện hộ gia đình, trừ việc bầu,
miễn nhiệm, bãi nhiệm Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố.
Bốn là, những nội dung nhân dân tham gia ý kiến trước khi cơ quan có
thẩm quyền quyết định:
Nhân dân tham gia ý kiến vào các vấn đề: Dự thảo kế hoạch phát triển
kinh tế - xã hội của cấp xã; phương án chuyển đổi cơ cấu kinh tế, cơ cấu sản
xuất; đề án định canh, định cư, vùng kinh tế mới và phương án phát triển
ngành nghề của cấp xã; dự thảo quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất chi tiết và
phương án điều chỉnh; việc quản lý, sử dụng quỹ đất của cấp xã; dự thảo kế
hoạch triển khai các chương trình, dự án trên địa bàn cấp xã; chủ trương,
phương án đền bù, hỗ trợ giải phóng mặt bằng, xây dựng cơ sở hạ tầng, tái
định cư; phương án quy hoạch khu dân cư; dự thảo đề án thành lập mới, nhập,
chia đơn vị hành chính, điều chỉnh địa giới hành chính liên quan trực tiếp đến