Hoàn thiện hệ thống chính trị ở cơ sở nông thôn trên địa bàn tỉnh Kon Tum hiện nay - Pdf 33

LUẬN VĂN:
Hoàn thiện hệ thống chính trị ở cơ sở
nông thôn trên địa bàn tỉnh Kon Tum
hiện nay


Mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở nước ta, đổi mới hệ thống chính trị là nhiệm vụ
rất quan trọng. Nhiệm vụ hệ trọng đó đã được Đảng ta khẳng định trong Cương lĩnh xây
dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội năm 1991: “Toàn bộ hệ thống
chính trị ở nước ta trong giai đoạn mới là nhằm xây dựng và từng bước hoàn thiện nền dân
chủ xã hội chủ nghĩa bảo đảm quyền lực thuộc về nhân dân” [7, tr.19]. Như vậy, quyền lực
của nhân dân lao động có được đảm bảo hay không chính là tuỳ thuộc chủ yếu ở hệ thống
chính trị có được đổi mới và hoàn thiện hay không. Khi công cuộc đổi mới ngày càng đi
vào chiều sâu, Đảng ta chủ trương hướng mạnh về cơ sở, quan tâm củng cố cơ sở xã hội
của chính trị, đề cao các sáng kiến và tính chủ động từ cơ sở. Tinh thần nghị quyết Đại hội
Đảng toàn quốc lần thứ X (9- 2006) đặc biệt coi trọng đổi mới hệ thống chính trị ở cơ sở,
nhất là ở cơ sở nông thôn (xã, thị trấn). Đây cũng là thể hiện nhận thức mới của Đảng về
đổi mới hệ thống chính trị. Những nguyên tắc, yêu cầu, nội dung, phương thức đổi mới hệ
thống chính trị cấp vĩ mô chi phối quá trình đổi mới hệ thống chính trị cấp cơ sở và sự đổi
mới hệ thống chính trị cấp cơ sở có tác động tích cực trở lại hệ thống chính trị nói chung.
Cơ sở (xã, phường, thị trấn), trong đó xã là chủ yếu, chiếm tới 85% trong tổng số
các đơn vị hành chính cấp cơ sở, do vậy hệ thống chính trị ở cơ sở thuộc khu vực nông
thôn giữ vị trí rất quan trọng trong hệ thống chính trị nước ta. Hệ thống chính trị cấp cơ sở
ở nông thôn trên địa bàn Kon Tum trong thời gian qua đang tiếp tục được củng cố, hoàn
thiện nhằm phát huy quyền làm chủ của nhân dân và thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở
một cách thực sự. Tuy nhiên trong những năm gần đây, vấn đề bức xúc đã và đang đặt ra
bởi hệ thống chính trị ở cơ sở nông thôn trên địa bàn tỉnh Kon Tum còn bộc lộ nhiều yếu
kém như: hệ thống tổ chức vẫn chưa ổn định; mối quan hệ giữa các bộ phận cấu thành hệ
thống chính trị ở đây còn nhiều bất cập; các tổ chức còn lúng túng trong hình thức tổ chức

- TS. Vũ Hoàng Công, “Hệ thống chính trị cơ sở - Đặc điểm, xu hướng và giải
pháp”, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2002.
- TS. Đặng Đình Tân, “Chính quyền cấp xã - những vấn đề đặt ra hiện nay”, Tạp chí
Nghiên cứu lập pháp, Văn phòng Quốc hội, Đặc san số 3 năm 2002.


- Đảng Cộng sản Việt Nam (2002), Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành
Trung ương khoá IX về “ Đổi mới và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị ở cơ sở xã,
phường, thị trấn”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
- GS.TS. Hoàng Chí Bảo (chủ biên), “Hệ thống chính trị ở cơ sở nông thôn nước ta
hiện nay”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004.
- TS. Chu Văn Thành (chủ biên), “Hệ thống chính trị cơ sở- Thực trạng và một số
giải pháp đổi mới”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004.
- PGS.TS. Nguyễn Văn Vĩnh (chủ biên), “Góp phần đẩy lùi nguy cơ, bảo đảm ổn định
và phát triển đất nước”, Nxb Lý luận Chính trị, Hà Nội, 2005.
Và các công trình khoa học khác nghiên cứu chủ đề có liên quan đến hệ thống chính
trị.
Phần lớn các công trình khoa học trên đây đều nghiên cứu hệ thống chính trị hoặc
các chủ đề có liên quan đến hệ thống chính trị nói chung. Các công trình khoa học trên tiếp
cận hệ thống chính trị từ nhiều cách, nhiều góc độ khác nhau, nhưng tựu chung lại, các nhà
khoa học với tư cách là những chủ thể sáng tạo, nghiên cứu, khảo sát, phân tích, khái quát nêu
trên đều cố gắng giải quyết những vấn đề căn cốt của hệ thống chính trị với những mức độ
khác nhau. Xuyên qua những công trình đó, có thể tổng quan lại những vấn đề sau đây:
Thứ nhất, các nhà khoa học đã từ nhiều cách tiếp cận khác nhau đã đưa ra những
định nghĩa có thể theo nghĩa rộng hoặc nghĩa hẹp về hệ thống chính trị. Qua các phân tích,
khái quát dẫn đến việc đưa ra các định nghĩa khác nhau về hệ thống chính trị của các nhà
khoa học, có thể rút ra được những dấu hiệu nội hàm cơ bản của khái niệm hệ thống chính
trị. Những dấu hiệu cơ bản trong nội hàm của khái niệm hệ thống chính trị đó thể hiện sự
nhận thức về hệ thống chính trị ngày càng sâu sắc hơn, toàn diện hơn và có thể chỉ đạo
hoạt động thực tiễn của xã hội trong việc đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính trị ở nước ta

chính trị. Định nghĩa khái niệm hệ thống chính trị như trên đã nêu, các tác giả đã khái quát
những đặc điểm, xu hướng vận động, vị trí, vai trò của cơ sở và hệ thống chính trị ở cơ sở
ở nước ta hện nay. Phân tích thực trạng và những bất cập của hệ thống chính trị ở cơ sở,
tìm vạch nguyên nhân và đề xuất các giải pháp đổi mới hệ thống chính trị ở cơ sở nước ta
hiện nay. Những tri thức mà các nhà khoa học rút ra ở đây rất có ý nghĩa và rất được trân
trọng. Luận văn kế thừa nhiều những thành quả này.


Tuy nhiên, việc nghiên cứu hệ thống chính trị ở cơ sở không những chỉ ở cơ sở nông
thôn (xã, thị trấn) và hẹp hơn nữa là chỉ ở cơ sở nông thôn trên địa bàn tỉnh KonTum với
những nét đặc thù riêng thì chưa có công trình khoa học nào dành riêng cho nó.
Tất cả những công trình nghiên cứu trước đây thực sự là những tư tưởng quý giá đối
với tác giả để tiếp cận và kế thừa có chọn lọc các công trình nghiên cứu khoa học, về vấn
đề này cùng với việc khảo sát thực tiễn ở Kon Tum nói riêng và ở Việt Nam nói chung, sẽ
là cơ sở để tác giả hoàn thành nhiệm vụ nghiên cứu của mình.
3. Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu của luận văn
3.1. Mục đích
Trên cơ sở nghiên cứu những thành tựu, hạn chế trong hệ thống chính trị ở cơ sở
nông thôn tỉnh Kon Tum, đề tài đưa ra phương hướng cơ bản và một số giải pháp chủ yếu
nhằm hoàn thiện hệ thống chính trị ở cơ sở nông thôn trên địa bàn tỉnh Kon Tum hiện nay.
3.2. Nhiệm vụ
- Trình bày khái quát một số vấn đề lý luận chung về hệ thống chính trị ở cơ sở
nông thôn. Đồng thời, làm rõ vai trò của cơ sở nông thôn và hệ thống chính trị ở cơ sở
nông thôn.
- Phân tích thực trạng tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị ở cơ sở nông thôn
trên địa bàn tỉnh Kon Tum hiện nay, trên cơ sở đó vạch ra những vấn đề bức xúc cần giải
quyết về tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị ở cơ sở nông thôn tỉnh Kon Tum hiện
nay.
- Xác định rõ phương hướng cơ bản và một số giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện
hệ thống chính trị ở cơ sở nông thôn trên địa bàn tỉnh Kon Tum hiện nay.

1.1.1. Khái niệm “chính trị”
Chính trị là một hiện tượng lịch sử, xuất hiện và tồn tại khi xã hội phân chia giai
cấp và hình thành nhà nước. Chính trị là lĩnh vực cơ bản của đời sống xã hội có giai cấp,
nó bao hàm những quan hệ, hiện tượng, những hình thức, khía cạnh rất đa dạng và phức
tạp. ở mỗi khía cạnh, mỗi hình thức biểu hiện của nó thường dẫn tới một cách cảm nhận,
cách hiểu tương ứng về chính trị. Khó thống kê được hết những cách hiểu, định nghĩa như
thế về chính trị. Song điều đáng chú ý nhất đó là: bản chất của chính trị là gì? Vấn đề trung
tâm then chốt của nó là gì? Và kết cấu của nó như thế nào? Hơn nữa, để làm rõ khái niệm
“hệ thống chính trị”, trước hết cần làm rõ khái niệm “chính trị”. Khái niệm chỉ một lĩnh
vực phức tạp của đời sống xã hội có giai cấp mà chính trị học và nhiều khoa học chính trị
khác nghiên cứu.
Mỗi một xã hội có giai cấp đều được cấu thành từ bốn lĩnh vực cơ bản: kinh tế,
chính trị, văn hoá và xã hội. Chính trị là một trong bốn lĩnh vực cơ bản đó. Khẳng định
điều này để chống các quan điểm tư tưởng phi chính trị hoặc tuyệt đối hoá chính trị. Điều
này đã được Hồ Chí Minh nhấn mạnh rằng: “Trong công cuộc kiến thiết nước nhà có bốn
vấn đề quan trọng ngang nhau: chính trị, kinh tế, xã hội, văn hoá” [4, tr.11].
Do sự phát triển của sản xuất đến một mức độ nhất định thì xã hội phân chia thành
các giai cấp khác nhau và khi mâu thuẫn giữa các giai cấp dần dần trở nên gay gắt không
thể điều hoà được thì nhà nước, chính trị mới ra đời. Và cũng do sự phát triển của sản xuất
đến một mức độ nào đó, khi xã hội không còn sự phân chia giai cấp thì nhà nước, chính trị
tiêu vong.
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, chính trị về thực chất bắt nguồn từ
quan hệ về lợi ích giữa các giai cấp, các nhóm xã hội, các quốc gia dân tộc. Trong đó,
trước hết và cơ bản nhất là lợi ích kinh tế. Đây không phải là cách quan niệm biệt phái


riêng của chủ nghĩa Mác mà nói chung, mọi tư duy khoa học khách quan về chính trị đều
đi tời, tìm ra và khẳng định thực chất của chính trị là như vậy.
Rõ ràng chính trị có lô gíc vận động nội tại của nó và chịu sự quy định của kinh tế,
đồng thời nó tác động to lớn đối với kinh tế và các lĩnh vực khác của đời sống xã hội.

hệ chính trị. Quan hệ giai cấp biểu hiện bản chất của đời sống chính trị. Chính trị là mối
quan hệ qua lại giữa các giai cấp, mối quan hệ đó quy định nội dung và cấu thành nền tảng
của chính trị. Các giai cấp và mối quan hệ qua lại giữa chúng cấu thành cơ sở trực tiếp của
chính trị, mặc dù các giai cấp và mối quan hệ giữa chúng do kinh tế quy định. Khi xác định
bản chất của giai cấp, chủ nghĩa Mác-Lênin trước hết nhấn mạnh phương diện kinh tế. Đó
là một đặc trưng cơ bản, quan trọng nhất, nhưng không phải là duy nhất. Giai cấp còn
được xác định bởi những dấu hiệu chính trị, bởi lợi ích chính trị, bởi quan hệ của nó với
nhà nước, bởi cuộc đấu tranh để giành, giữ và thực thi quyền lực chính trị. Cho nên mối
quan hệ giữa các giai cấp không chỉ biểu hiện trong lĩnh vực kinh tế mà còn cả trên lĩnh
vực kiến trúc thượng tầng. Trong mối quan hệ đó, quan hệ kinh tế mang tính quyết định.
Trong xã hội có giai cấp, các lợi ích kinh tế cơ bản biểu hiện tập trung và khái quát thành
lợi ích chính trị. Khát vọng lợi ích cơ bản của giai cấp làm nảy sinh cuộc đấu tranh giai cấp
mà hình thức cơ bản của nó là đấu tranh chính trị. Điều đó giải thích vì sao Lênin cho rằng,
lợi ích kinh tế cơ bản của giai cấp công nhân chỉ được thoả mãn nhờ cách mạng chính trị,
thay thế chuyên chính tư sản bằng chuyên chính vô sản.
Từ sự phân tích trên có thể định nghĩa: “Chính trị là quan hệ giữa các giai cấp,
các quốc gia, các dân tộc, các lực lượng xã hội trong việc giành, giữ và thực thi quyền lực
nhà nước nhằm mang lại lợi ích cho chủ thể chính trị”.
Về mặt quan hệ, chính trị là một lĩnh vực rất rộng, gồm nhiều mối quan hệ khác
nhau trong không gian và thời gian xác định như: quan hệ giữa các giai cấp, giữa các đảng
chính trị với các giai cấp, giữa đảng cầm quyền với các đảng phái khác nhau, giữa đảng
với nhà nước, giữa nhà nước với công dân, giữa công dân với công dân, giữa các tổ chức
trong hệ thống chính trị.
Về mặt kết cấu, chính trị bao gồm các nhân tố sau:
(1) Chính sách- các quyết định của các chủ thể chính trị.
(2) Các thiết chế và thể chế chính trị.
(3) Quan hệ con người chính trị- giới lãnh đạo chính trị với công dân.


Dưới góc độ tổng quát nhất, chính trị được tiếp cận từ phương diện là một bộ phận

khó có thể thống kê hết được những sự hiểu biết đó. Chẳng hạn, ở các nước xây dựng chủ
nghĩa xã hội trước đây, quan niệm phổ biến xem hệ thống chính trị chỉ bao gồm những tổ
chức chính trị - xã hội mang bản chất của giai cấp cầm quyền nhằm phục vụ cho quyền lực
chính trị của giai cấp đó. Quan điểm này đã đồng nhất phạm trù “hệ thống chính trị” với
phạm trù “hệ thống chuyên chính của giai cấp cầm quyền”. Từ đó, cho rằng hệ thống chính
trị trong chủ nghĩa tư bản chính là hệ thống chuyên chính tư sản, còn hệ thống chính trị
chủ nghĩa xã hội là hệ thống chuyên chính vô sản. ở Việt Nam trước và một số năm đầu
đổi mới, chúng ta chưa dùng khái niệm hệ thống chính trị mà vẫn dùng một cách phổ biến
khái niệm chuyên chính vô sản để chỉ hệ thống và cơ cấu các cơ quan quyền lực lãnh đạo
và quản lý xã hội.
Nhận thức là một quá trình. Trước đây như trên đã nêu về sự đồng nhất hai phạm
trù: hệ thống chính trị và hệ thống chuyên chính của giai cấp cầm quyền. Điều đó thể hiện
sự nhận thức ấy vừa là nguyên nhân vừa là kết quả của quan điểm quá nhấn mạnh cái giai
cấp trong chính trị mà chưa thấy hết diện mạo của các dân tộc, cái nhân loại trong chi phối
chính trị. Sau này xuất hiện quan niệm về hệ thống chính trị toàn diện hơn, rộng hơn phản
ánh rõ hơn bản chất của chính trị. Chẳng hạn, quan niệm xem hệ thống chính trị là một
phạm trù rộng hơn phạm trù hệ thống chuyên chính của giai cấp cầm quyền. Hai phạm trù
này quan hệ bao hàm nhau (phạm trù hệ thống chính trị bao hàm phạm trù hệ thống
chuyên chính của giai cấp cầm quyền) hay lệ thuộc (phạm trù hệ thống chuyên chính của
giai cấp cầm quyền lệ thuộc phạm trù hệ thống chính trị). Như vậy, trong hệ thống chính
trị ngoài hệ thống chuyên chính của giai cấp cầm quyền-bộ phận cơ bản nhất, quan trọng
nhất, quy định bản chất của toàn bộ hệ thống chính trị trong xã hội tương ứng, còn có các
tổ chức, các thiết chế chính trị hợp pháp khác. Tuy nhiên, quan niệm như vậy cũng mới chỉ
nhấn mạnh được về hệ thống tổ chức (thiết chế) tức là các bộ phận cấu thành hệ thống
chính trị mà chưa chỉ ra được hệ thống các mối quan hệ trong hoạt động chính trị theo
chức năng, nhiệm vụ, đồng thời còn là hệ thống các cấp độ (Trung ương - địa phương - cơ
sở) nhằm tác động và điều chỉnh lẫn nhau và điều chỉnh mọi quan hệ giữa các giai cấp,
tầng lớp xã hội giữa các dân tộc trong cộng đồng xã hội, giữa các yếu tố xã hội, tập thể và
cá nhân, về vấn đề quyền lực, về định hướng, đường lối, chủ trương, chính sách qui định
mục tiêu, phương hướng nội dung phát triển xã hội.

quan điểm chủ nghĩa Mác-Lênin, có thể hiểu Hệ thống chính trị là một phạm trù thuộc
kiến trúc thượng tầng dùng để chỉ một chỉnh thể hệ thống các tổ chức, các thiết chế chính


trị-xã hội và các mối quan hệ giữa chúng với nhau trong và giữa các cấp độ tổ chức và
hoạt động theo chức năng, nhiệm vụ hợp thành cơ chế chính trị của một chế độ xã hội
nhằm đảm bảo việc thực hiện quyền lực chính trị của giai cấp thống trị.
Từ khái niệm vừa đưa ra trên, ta có thể xem xét đến sự tồn tại, vận động, biến đổi
của HTCT diễn ra trên thực tế rất đa dạng. Và tính đa dạng của HTCT tuỳ thuộc vào các
nhân tố khách quan và chủ quan tác động đến:
* Nhóm nhân tố khách quan: các nhân tố ảnh hưởng đến hệ thống chính trị quốc gia
là địa lý và điều kiện kinh tế-xã hội và lịch sử. Ví dụ, Anh, Mỹ, châu Âu, Nhật Bản…,các
nước khác nhau ở các khu vực khác nhau có những sự khác biệt nhất định trong quá trình
hình thành và tác động của các hệ thống chính trị. Chính những điều kiện khác nhau này
hình thành nên các quyền và các chuẩn mực xã hội khác nhau. Các quyền và các chuẩn
mực xã hội đó phân biệt các hệ thống chính trị của các nước, các thời đại khác nhau. Trình
độ phát triển kinh tế; tương quan giữa các lực lượng chính trị đang hiện diện; yếu tố lịch sử
truyền thống văn hoá;...
HTCT là một hiện tượng lịch sử chỉ tồn tại trong những điều kiện kinh tế - xã hội
nhất định trong xã hội có giai cấp và hình thành nhà nước. Kết cấu HTCT không phải theo
ý muốn chủ quan của một giai cấp nào, mà do điều kiện kinh tế - chính trị - xã hội quy
định. Trình độ phát triển kinh tế quốc gia quy định kết cấu xã hội - giai cấp, quy định
thành phần tham gia HTCT theo dòng chảy chủ đạo (xu hướng chính) của nền kinh tế quốc
gia đang vận hành. Vì chính trị là sự biểu hiện tập trung của kinh tế. Hơn nữa, sự tồn tại
của các giai cấp với sức mạnh kinh tế của chúng sẽ tạo nên nền tảng xã hội của các lực
lượng chính trị tương ứng.
Sự hiện diện của các lực lượng chính trị và mối tương quan lực lượng giữa chúng.
Đây là yếu tố quyết định trực tiếp việc thiết lập HTCT theo mô hình đa đảng hay một đảng
trên thực tế. Song mối tương quan lực lượng đó có thể bị quy định bởi nhiều khía cạnh: các
yếu tố bên trong hoặc bên ngoài đất nước, đặc biệt lại càng rõ trong xu thế toàn cầu hoá

chính trị xã hội hợp pháp ở các cấp độ và mối quan hệ qua lại giữa các yếu tố đó theo chức
năng nhiệm vụ nhằm đảm bảo quyền lực của nhân dân lao động.
Hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa chính là hệ thống các tổ chức chính trị-xã hội mà nhờ
đó, nhân dân lao động thực thi quyền lực của mình trong xã hội.


Hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay bao gồm các tổ chức Đảng,
Nhà nước, Mặt trận và các tổ chức đoàn thể chính trị-xã hội của quần chúng tham gia vào
Mặt trận với tư cách là những thành viên như Công đoàn, Đoàn Thanh niên, Hội Phụ nữ,
Hội Nông dân, Hội Cựu chiến binh… Về mặt tổ chức được xác định như vậy cho thấy
nhiều tổ chức quần chúng, tổ chức xã hội có vai trò chính trị đáng kể và thậm chí thường
xuyên có đại biểu trong Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp, nhưng không phải là thành
viên độc lập của hệ thống chính trị, mà chỉ tham gia hệ thống chính trị với tư cách thành
viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (một liên minh chính trị rộng rãi, thống nhất của dân
tộc tập hợp lực lượng thực hiện đại đoàn kết dân tộc, hiệp thương chính trị, hợp tác và hỗ
trợ phát triển xã hội).
Hệ thống chính trị nước ta có nhiều đặc điểm khác với mô hình hệ thống chính trị
của nhiều nước trên thế giới. Về hệ thống chính trị ở nước ta, có thể có những quan niệm
khác nhau, từ đó nêu ra những đặc trưng khác nhau, song để phục vụ cho việc khảo sát hệ
thống chính trị ở cơ sở cần chú trọng các đặc trưng cơ bản sau đây:
Thứ nhất, một đặc điểm nổi bật của hệ thống chính trị ở nước ta là tính nhất nguyên
chính trị và một đảng duy nhất cầm quyền lãnh đạo, đó là Đảng Cộng sản Việt Nam.
Tính nhất nguyên thể hiện ở chỗ nền tảng tư tưởng của cả hệ thống chính trị là chủ
nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Chủ nghĩa xã hội là mục tiêu chung; không
chấp nhận các khuynh hướng chính trị trái với chủ nghĩa Mác-Lênin và chủ nghĩa xã hội.
Chỉ có một hệ thống chính trị duy nhất và thống nhất trong cả nước mà Đảng Cộng sản là
hạt nhân lãnh đạo. Đảng Cộng sản Việt Nam với sự vững vàng về chính trị, tư tưởng và tổ
chức, trong suốt lịch sử của mình, Đảng Cộng sản Việt Nam đã thể hiện là một Đảng mácxít thực sự, chân chính lãnh đạo cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi
khác.
Việc Đảng lãnh đạo hệ thống chính trị và toàn xã hội là sự đảm bảo sự chắc chắn nhất

như của cả hệ thống. Hệ thống chính trị ở Việt Nam được tổ chức hết sức rộng rãi, chặt
chẽ, các mối quan hệ trong đó ngày càng được xác định rõ ràng hơn. Trong phạm vi hoạt
động của mình, cùng một lúc mỗi một thành viên phải thực hiện các quan hệ có tính chất
khác nhau với các đối tượng khác nhau của hệ thống chính trị: quan hệ lãnh đạo; quan hệ
chỉ đạo, hướng dẫn; quan hệ phối hợp, cộng tác, liên kết. Tất cả tạo thành một mạng lưới
chằng chịt, gắn kết chặt chẽ.


Thứ năm, hệ thống chính trị nước ta có thuộc tính bản chất là sự thống nhất giữa
tính giai cấp và tính dân tộc.
ở nước ta, vấn đề giai cấp và vấn đề dân tộc luôn gắn bó, quyện chặt lẫn nhau.
Nghiên cứu quá trình dân tộc và quá trình chính trị của nước ta sẽ đi tới khẳng định sự nổi
trội của tính dân tộc trong suốt lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và gĩư nước. Nhận rõ
đặc trưng về sự nổi trội của tính dân tộc không phải là coi nhẹ tính giai cấp, mà là khắc
phục quan niệm tuyệt đối hoá giai cấp để thấy rõ sự thống nhất giữa tính dân tộc và tính
giai cấp trong hoàn cảnh đặc thù của nước ta.
Những đặc điểm trên vừa quy định kết cấu, tổ chức, vận hành và các mối quan hệ
vừa quy định tính thống nhất của hệ thống chính trị duy nhất trong cả nước. Các khái niệm
trung ương - địa phương - cơ sở chỉ là những cấp độ khác nhau của hệ thống chính trị nói
chung chứ không phải là có ba hệ thống chính trị: hệ thống chính trị trung ương, hệ thống
chính trị địa phương và hệ thống chính trị cơ sở. Khẳng định điều này có ý nghĩa rất quan
trọng cả về lý luận và thực tiễn. Với cách hiểu hệ thống chính trị nói chung có tính toàn
vẹn, duy nhất, thống nhất như vậy sẽ là tiền đề, cơ sở để hiểu đúng vai trò, vị trí của hệ
thống chính trị ở cơ sở - cấp cơ sở của hệ thống chính trị nói chung.
Tóm lại, xuất phát từ mục tiêu, lý tưởng của chủ nghĩa xã hội, từ bản chất của chế
độ xã hội chủ nghĩa, hệ thống chính trị ở nước ta nhằm xây dựng và phát triển nền dân chủ
xã hội chủ nghĩa. Để thực hiện mục tiêu đó, tính đồng bộ trong hoạt động và tính thống
nhất về mục tiêu, tính chủ động sáng tạo của các tổ chức trong hệ thống chính trị và việc
giải quyết tốt các mối quan hệ ngang dọc trong toàn bộ hệ thống là những điều kiện căn
bản đảm bảo cho hệ thống chính trị hoạt động có hiệu quả. Hay nói cách khác, sự hoàn

thị trấn là thuộc về cấp cơ sở của hệ thống quản lý hành chính bốn cấp. Khi xét hệ thống
chính trị ở phần trên với tư cách là một chỉnh thể thống nhất, duy nhất có bốn cấp độ thì
cấp cơ sở là một cấp của hệ thống chính trị hay cấp độ của hệ thống chính trị. Tuy nhiên
cấp độ cơ sở của hệ thống chính trị còn bao gồm cả phường. Nhưng ở đây, luận văn chỉ đề
cập đối tượng là: xã, thị trấn, tức là cơ sở nông thôn nước ta hiện nay. Trong đó, đặc biệt
khảo sát cơ sở nông thôn ở tỉnh KonTum từ năm 1992 đến nay.
Dựa vào những nét khái quát chung nhất về hệ thống chính trị như đã nêu trên theo
quan điểm chủ nghĩa Mác-Lênin, có thể hiểu Hệ thống chính trị ở cơ sở nông thôn là toàn
bộ các thiết chế chính trị cấp cơ sở- xã, thị trấn (tổ chức đảng, chính quyền, các đoàn thể
nhân dân của xã, thị trấn và mối quan hệ giữa chúng) được tổ chức và hoạt động theo


những nguyên tắc xác định, gắn bó hữu cơ, thống nhất với nhau về mục đích, chức năng,
nhiệm vụ nhằm thực hiện sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước và phát huy
quyền làm chủ của nhân dân ở cơ sở nông thôn.
1.2.2. Đặc điểm của hệ thống chính trị ở cơ sở nông thôn
Hệ thống chính trị ở cơ sở nông thôn là một bộ phận cấu thành của hệ thống chính
trị Việt Nam xã hội chủ nghĩa, nên nó cũng mang những đặc điểm chung của toàn bộ hệ
thống, như đã phân tích ở mục 1.1.2.
Ngoài những đặc điểm chung đó, xét khía cạnh địa vị pháp lý và thực tế thì HTCT ở
cơ sở nông thôn còn mang đặc trưng riêng
Thứ nhất, hệ thống chính trị cơ sở là cấp thấp nhất trong hệ thống chính trị nước ta
hiện nay. Đây là đặc điểm xét theo khía cạnh quan hệ thứ bậc mang tính pháp lý của chỉnh
thể hệ thống chính trị duy nhất thống nhất ở nước ta hiện nay. Song quyết không phải cấp
thấp nhất là cấp kém quan trọng nhất. Mà thậm chí, xét theo khía cạnh thực thi mọi đường
lối chính sách của Đảng và nhà nước thì đây lại là cấp quan trọng nhất. Bởi vì, mọi đường
lối chính sách của Đảng và Nhà nước cuối cùng có thực hiện đựơc hay không lại là ở cơ
sở.
Thứ hai, hệ thống chính trị ở cơ sở có bộ máy đơn giản nhất và cán bộ biên chế
được hưởng sinh hoạt phí thấp nhất.

động của HTCT ở cơ sở nông thôn. Trong quan hệ với dân, cán bộ ở cơ sở nông thôn có
thể bị chi phối, ràng buộc rất lớn bởi quan hệ họ hàng, thân tộc, bởi các truyền thống,
phong tục, tập quán, lối sống làng xã. Do đó, phải hết sức chú ý khắc phục tư tưởng dòng
họ, bè phái, lợi dụng chức quyền theo kiểu “một người làm quan cả họ được nhờ” hoặc
“chi bộ ta”…
Những đặc điểm trên của hệ thống chính trị ở cơ sở, phản ánh, một mặt ở sự thống
nhất, duy nhất của cả hệ thống chính trị được tổ chức và hoạt động theo tính thống nhất về
mục tiêu và nguyên tắc. Mặt khác nó cũng phản ánh nhiều mâu thuẫn, có loại mâu thuẫn
biện chứng của sự phát triển, có loại mâu thuẫn hình thức triệt tiêu sự phát triển. Vấn đề là
phát hiện mâu thuẫn và phải có những giải pháp cụ thể xử lý những mâu thuẫn một cách cụ
thể để đổi mới và hoàn thiện hệ thống chính trị ở cơ sở đáp ứng vị trí, vai trò quan trọng
cần phải có của nó trong giai đoạn cách mạng mới hiện nay.
1.3. Vai trò của cơ sở nông thôn và hệ thống chính trị ở cơ sở nông thôn nước
ta hiện nay


1.3.1. Vị trí, vai trò của cơ sở nông thôn (xã, thị trấn)
Trước đổi mới, trong nền kinh tế hiện vật và kinh tế kế hoạch hóa với phương thức
quản lý hành chính mệnh lệnh theo cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp, chúng ta chỉ nhìn
nhận cơ sở như một cấp quản lý hành chính thấp nhất, cuối cùng trong hệ thống 4 cấp.
Theo cách nhìn này, cơ sở không chỉ thấp nhất mà còn là nhỏ nhất, nên nói tới cơ sở
thường chỉ thấy đó là một vi mô, trong khi cấp Trung ương, toàn quốc mới là cái vĩ mô.
Nếu xét theo cấp độ quản lý và nhìn về lượng (quy mô diện tích, quy mô dân số và
dân cư, mức độ làm ra của cải vật chất, tính chất và lĩnh vực hoạt động) thì cách hiểu về cơ
sở như đã nêu trên là không có gì sai. Song đó mới chỉ là một phương diện của vấn đề cần
bàn nhưng chưa đầy đủ.
Hơn nữa, cách nhìn từ trên xuống, lâu dần theo thói quen, tiền lệ khó thay đổi hình
thành trong tư duy quản lý là tính chất hành chính quan liêu, như: quen dùng chỉ thị, mệnh
lệnh từ trên đã áp đặt xuống cơ sở, biến cơ sở trở thành thụ động, trì trệ làm mất đi tính
năng động, sinh động và đa dạng phong phú ở cơ sở, Vì cơ sở vốn là nơi diễn ra mọi hoạt

và giải quyết không đúng vấn đề này chẳng những gây trở ngại tới hoạt động và hiệu quả
của cả hệ thống mà còn làm tổn hại trực tiếp tới cơ sở và cả nước vì mấu chốt của vấn đề
là dân và tổ chức cuộc sống của dân sao cho phát triển sức dân, có lực lượng của dân, tài
trí của dân góp sức vào thì mới thực hiện được những kế hoạch, mục tiêu phát triển xã hội,
mới có động lực và nội lực để xây dựng kinh tế, phát triển văn hoá, đảm bảo sự bền vững
của chế độ.
Cấp vĩ mô - toàn quốc và Trung ương lẽ dĩ nhiên là hết sức quan trọng, bởi đó là
cấp hoạch định đường lối, chiến lược phát triển quốc gia, ảnh hưởng tới toàn bộ sự phát
triển của dân tộc và xã hội. Nhưng cấp cơ sở nông thôn cũng có tầm quan trọng của riêng
nó. Mỗi làng, xã như là mỗi tế bào góp thành cái vĩ mô của toàn xã hội, như Hồ Chí Minh
nói: Kết cấu nhà - làng - nước là một kết cấu bền vững, định hình từ lâu trong lịch sử tạo
thành sức sống của dân tộc, truyền thống, bản sắc của một nền văn hoá. Hơn nữa, mỗi một
làng xã là một hình ảnh thu nhỏ của xã hội, ở đó diễn ra toàn bộ hoạt động của đời sống xã
hội, liên quan hàng ngày, hàng giờ tới cuộc sống của người dân. Theo đó, làng xã thực sự
là một thực thể kinh tế - xã hội, chính trị và văn hóa đóng vai trò nền tảng của cả xã hội, là
động lực trực tiếp của phát triển xã hội. Nếu quan tâm tới đời sống của dân, nếu thấm
nhuần và nhất quán quan điểm dân là gốc của nước thì cơ sở thực sự mang nội dung và


tính chất vĩ mô. Thể chế quan liêu trong khi cách biệt với cơ sở thì nó dẫn đến xa dân nên
không thấu hiểu cuộc sống của dân, tâm tư, nguyện vọng của dân với biết bao lợi ích và
nhu cầu chính đáng hàng ngày của họ. Chỉ có thể xây dựng thể chế dân chủ thì cán bộ,
công chức mới trở thành “công bộc của dân”, gần dân, hiểu dân, học dân, hỏi dân, lãnh đạo
và tận tuỵ phục vụ dân trong sự giúp đỡ, ủng hộ của dân, trong sự kiểm tra giám sát của
dân, dân chủ mới không biến thành “quan chủ”, “quan cách mạng” theo cách nói của Hồ
Chí Minh.
Trọng dân, tín dân và vì dân đã làm thay đổi cách nhìn nhận, đánh giá về vị trí, vai
trò của cơ sở khi mà dân và cuộc sống của dân vừa là điểm xuất phát, vừa là mục tiêu của
mọi hoạt động lãnh đạo và quản lý, của việc đổi mới tổ chức và hoạt động của HTCT. Do
đó, đổi mới nhận thức về vai trò của cơ sở, chúng ta đặc biệt lưu ý tới những điểm dưới

chuyên môn như tài chính, địa chính, thống kê, văn phòng trong UBND xã là cơ quan hành
chính của cơ sở mới xếp theo ngạch công chức, còn đa số là cán bộ dân cử, dân bầu. Cán
bộ ở cơ sở là người sở tại, làm việc tại cơ sở, hàng ngày sinh sống, làm việc và quan hệ
trực tiếp với dân. Trong quan hệ với dân, họ có bị chi phối, ràng buộc rất mạnh mẽ bởi
quan hệ họ hàng, thân tộc, bởi các truyền thống, phong tục, tập quán, lối sống làng xã.
- Cơ sở nông thôn vừa là cấp cuối cùng trong quản lý xét theo chức năng và thẩm
quyền, nhưng nó lại vừa là cấp đầu tiên và trực tiếp nhất, là nền tảng xây dựng chế độ dân
chủ của toàn bộ hệ thống chính trị ở nước ta trong thời kỳ quá độ lên CNXH... Vì cơ sở là
nơi diễn ra mọi hoạt động của quần chúng, nơi tổ chức các phong trào xã hội của quần
chúng để triển khai thực hiện đường lối, chủ trương, nghị quyết của Đảng và chính sách,
pháp luật của Nhà nước, nhằm đưa đường lối, chính sách vào cuộc sống. Đặc điểm này nói
lên vai trò quan trọng đặc biệt của cơ sở. Mọi đường lối, chủ trương chính sách của Đảng
và Nhà nước có trở thành hiện thực hay không đều tuỳ thuộc vào việc tổ chức triển khai
thực hiện ở cơ sở có chu đáo, cụ thể, có tập hợp được lực lượng dân chúng hay không. Nó
liên quan trực tiếp tới HTCT ở cơ sở, tới chất lượng đội ngũ cán bộ ở cơ sở. Có cán bộ tốt
thì mới có phong trào mạnh mẽ, sôi nổi. Từ các phong trào của quần chúng ở cơ sở mà nảy
sinh rất nhiều sáng kiến của dân, xuất hiện những điển hình tiên tiến của xã hội ở ngay cơ
sở, làm cho cán bộ trưởng thành, phát huy được phẩm chất và năng lực trong công tác thực
tế, nhờ đó làm tăng uy tín, ảnh hưởng của Đảng, Nhà nước trong quần chúng. Cơ sở nông
thôn chẳng những cung cấp cán bộ cho phong trào, cho cơ sở và cấp trên, mà còn là nơi
quần chúng chứng thực tính đúng đắn của đường lối, chủ trương, chính sách hoặc từ thực


Trích đoạn Đặc điểm văn hóa và tâm lý truyền thống Quá trình hình thành, phát triển, tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị ở cơ sở tỉnh Kon Tum từ năm 1992 đến nay Về tổ chức và hoạt động của khối đoàn thể nhân dân Về tổ chức và hoạt động của khối đoàn thể nhân dân ở cấp xã
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status