VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
----------------------
PHẠM MINH NGỌC
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH
PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP CÔNG NGHỆ CAO
TỪ THỰC TIỄN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Ngành: Chính sách công
Mã số: 8 34 04 02
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
Người hướng dẫn khoa học: PGS,TS. Lê Thanh Sang
Hà Nội, 2019
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan: Nội dung luận văn “Thực hiện chính sách phát triển nông
nghiệp công nghệ cao từ thực hiện tiễn huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh” là
do chính sách tác giả độc lập nghiên cứu và hoàn thành.
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 14 tháng 3 năm 2019
Tác giả luận văn
Phạm Minh Ngọc
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ..................................................................................................................... 1
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
NNCNC
Nông nghiệp công nghệ cao
NNUDCNC
Nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao
TP. HCM
Thành phố Hồ Chí Minh
UBND
Ủy ban nhân dân
WTO
World Trade Organization (Tổ chức Thương mại thế giới)
ASEAN
Association of South East Asian Nations (Hiệp hội các quốc
gia Đông Nam Á)
Comprehensive and Progressive Agreement for Trans-
CPTPP
7 khoá X về nông nghiệp, nông dân và nông thôn của Bộ Nông nghiệp và Phát triển
nông thôn: Tổng kim ngạch xuất khẩu nông lâm thuỷ sản xuất trong 10 năm (20082017) đạt 261,2 tỷ USD, tăng bình quân 9,24%/năm, riêng năm 2017 đạt 36,6 tỷ USD;
qua đó cung cấp sinh kế cho hơn 10 triệu nông hộ (khoảng hơn 68% số dân), đóng
góp khoảng 22% GDP cho nền kinh tế và đến 35% giá trị xuất khẩu; cơ cấu kinh tế
chuyển dịch theo hướng hiện đại; tỷ trọng lao động nông nghiệp còn khoảng hơn 30%
lao động xã hội [31].
Tuy nhiên, về cơ bản, nền nông nghiệp nước ta chưa bền vững; nền sản xuất
còn manh mún, phụ thuộc nhiều vào sức lao động, tài nguyên thiên nhiên và hoá chất;
khả năng cạnh tranh của một số sản phẩm nông sản chưa cao, thị trường tiêu thụ thiếu
ổn định hướng; chưa hình thành có hiệu quả chuỗi giá trị nông sản xuất; cơ cấu, năng
suất và tăng trưởng nông nghiệp chủ yếu dựa vào mô hình tăng trưởng theo chiều
rộng. Vì vậy, đòi hỏi cấp thiết là thực hiện tái cơ cấu ngành nông nghiệp, trong đó
phát triển NNCNC, ứng dụng sâu rộng khoa học – công nghệ trong sản xuất, quản lý
được coi là một giải pháp đột phá để đưa nền nông nghiệp Việt Nam phát triển theo
hướng hiện đại bền vững. Vấn đề phát triển NNCNC được đề cập trong nhiều diễn
đàn và trở thành chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước trong thời gian qua. Đây được
xem là chủ trương đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta, là một quá trình lâu dài và là
bộ phận quan trọng của tái cơ cấu tổng thể ngành nông nghiệp. Trong thời gian qua,
Đảng, Nhà nước ta đã quan tâm chỉ đạo và ban hành nhiều cơ chế, chính sách đặc
thù, thu hút đầu tư vào sản xuất NNUDCNC, góp phần đưa NNUDCNC trở thành
“làn sóng mới” trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp, từng bước đáp ứng phương
hướng, nhiệm vụ phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn.
1
Củ Chi là huyện ngoại thành nằm về phía Tây Bắc Thành phố Hồ Chí Minh,
có diện tích tự nhiên 43.496 ha; trong đó diện tích đất nông nghiệp 28.228 ha. Trong
thời gian qua, Huyện đã triển khai một số chính sách, chương trình khuyến khích
chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp, áp dụng khoa học công nghệ, kỹ thuật vào nông
Vì vậy, phát triển NNCNC trong nông nghiệp huyện Củ Chi đã và đang đặt ra
nhu cầu bức thiết, không chỉ nhằm nâng cao năng suất, chất lượng nông sản và sức
cạnh tranh của sản phẩm nông nghiệp mà còn phải thích ứng với yêu cầu cao của thị
trường và quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Đặc biệt, phát triển NNCNC trong nông
nghiệp huyện có ý nghĩa lý luận và thực hiện tiễn sâu sắc, thể hiện trên các mặt sau
đây:
Thứ nhất, về phương diện lý luận: Hiện nay ở Việt Nam, những nghiên cứu về
phát triển nông nghiệp hiện đại, NNCNC không phải một vấn đề mới, do đó, đã có
khá nhiều các công trình nghiên cứu về các vấn đề lý luận liên quan về phát triển
NNCNC. Các công trình này về cơ bản đã đề cập đến khá đầy đủ, toàn diện khung lý
thuyết liên quan đến NNCNC trong điều kiện phát triển của đất nước. Về phía huyện
Củ Chi thời gian qua cũng đã triển khai nhiều đề tài, dự án, chương trình nghiên
cứu…, trên thực tế thực hiện cũng đã đạt được nhiều kết quả nổi bật trong phát triển
NNCNC. Tuy nhiên, vẫn còn những hạn chế trong tổ chức thực hiện, đồng thời phần
lớn các đề tài, dự án, chương trình thiên về thực trạng về đề xuất giải pháp, do vậy,
việc nghiên cứu lý luận, hay tổng kết lý luận qua thực tiễn phát triển NNCNC tại các
địa phương nói chung và huyện Củ Chi nói riêng vẫn là một nội dung cần được quan
tâm nghiên cứu.
Thứ hai, về phương diện thực tiễn: Vấn đề nghiên cứu là cấp thiết, thể hiện trên
các nội dung sau:
Một, huyện Củ chi là huyện đi đầu của Thành phố Hồ Chí Minh về phát triển
NNCNC, nằm kề với Khu NNCNC nên được tận dụng được các tiến bộ khoa học kỹ
thuật, được ưu tiên chuyển giao công nghệ mới để ứng dụng phát triển nông nghiệp.
Bên cạnh đó, đội ngũ các nhà khoa học, nhà nghiên cứu từ Khu NNCNC là một sự
hỗ trợ rất lớn về mặt hướng dẫn nâng cao tay nghề cho bà con nông dân.
Hai, nghiên cứu thực tiễn phát triển NNCNC nhằm khai thác có hiệu quả các
tiềm năng, thế mạnh vốn có của địa phương, nâng cao chất lượng và hiệu quả sản
xuất, tăng sức cạnh tranh, góp phần cải thiện đời sống của nhân dân, đáp ứng yêu cầu
phát triển của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn.
Development: Recent Approaches in Resources Management and EnvironmentallyBalanced Production Enhancement” (Phát triển nông nghiệp bền vững: Các phương
pháp tiếp cận gần đây trong quản lý tài nguyên và tăng cường sản xuất cân bằng môi
trường) đã đề cập đến việc khuyến khích thực hiện nông nghiệp bền vững như là một
phương pháp tiếp cận hệ sinh thái một cách hài hoà trước những thách thức của các
4
vấn đề về khí hậu, năng lượng và tài nguyên của nhân loại. Theo đó, các công nghệ
tiên tiến và nghiên cứu cần được phát triển để đảm bảo nông nghiệp bền vững và tăng
năng suất sử dụng hệ thống phương pháp canh tác nông nghiệp theo hướng hiện đại.
David Chikoye, Therese Gondwe, Nhamo Nhamo (2017), “Smart Technologies
for Sustainable Smallhokder Agriculture: Upscaling in Developing Countries”
(Công nghệ thông minh cho mô hình nông nghiệp nhỏ theo hướng bền vững: Tăng
cường ở các nước đang phát triển) xác định các công nghệ nông nghiệp thông minh
tích hợp (ICSAT) như một bộ các kỹ thuật và thực hành liên kết nhằm nâng cao số
lượng và chất lượng sản phẩm nông nghiệp với tác động tối thiểu đến môi trường.
Các ICSAT này tập trung vào ba trụ cột chính, tăng sản lượng và thu nhập, thích ứng
và khả năng phục hồi đối với biến đổi khí hậu và giảm thiểu phát thải nhà kính. Trong
đó, khoảng trống nghiên cứu và cơ hội về công nghệ thông minh trong nông nghiệp
là nội dung có vai trò đặc biệt quan trọng.
Richard Duncombe (2018), “Digital Technologies for Agricultural and Rural
Development in the Gobal South” (Công nghệ kỹ thuật cho phát triển nông nghiệp và
nông thôn ở khu vực Nam Bán cầu). Cuốn sách này chia sẻ nghiên cứu và thực hành
về xu hướng hiện tại trong công nghệ kỹ thuật cho phát triển nông nghiệp và nông
thôn ở khu vực Nam Bán cầu. Các nội dung được cấu trúc xung quanh ba chủ đề
chính sách: chia sẻ thông tin và kiến thức cho phát triển nông nghiệp, trung gian thông
tin, kiến thức và tạo điều kiện thay đổi trong các hệ thống, thiết chế cho phát triển
nông nghiệp. Với những đóng góp vượt xa chỉ là một quan điểm công nghệ, cuốn
sách cũng cung cấp một xem xét các yếu tố xã hội – văn hoá và hình thức mới của tổ
năm 2020”; ngoài ra còn có một số đề án như “Đề án tái cơ cấu nông nghiệp theo
hướng nâng cao giá trị gia tăng” (2012) và “Đề án tái cơ cấu nông nghiệp Việt Nam
theo hướng nâng cao chất lượng, giá trị gia tăng và phát triển bền vững” (2013) của
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. Các đề án này đã chỉ ra nội dung, phương
hướng, mục tiêu và các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển kinh tế nông nghiệp xanh
và ứng dụng công nghệ cao và đưa ra các giải pháp thực hiện.
Nguyễn Thị Tố Quyên (2012), “Nông nghiệp, nông dân, nông thôn trong mô
hình tăng trưởng kinh tế mới giai đoạn 2011-2020” đã đưa ra các cơ sở lý luận và
thực hiện tiễn về mô hình, kinh nghiệm cũng như bài học cho Việt Nam về nông
nghiệp, nông dân, nông thôn. Qua đó góp phần phân tích những bối cảnh, cơ hội và
thách thức cũng như những vấn đề tồn tại từ thực hiện trạng phát triển nông nghiệp
từ năm 2000 đến 2010, nhìn nhận xu hướng phát triển của nông nghiệp, nông dân,
6
nông thôn ở Việt Nam thời gian tới, đồng thời đề xuất một số chính sách nhằm giải
quyết những vấn đề tồn tại đang đặt ra.
Vũ Trọng Khải (2015), “Phát triển nông nghiệp, nông thôn Việt Nam hiện nay:
Những trăn trở và suy ngẫm”, cuốn sách tập hợp những bài viết liên quan đến vấn đề
nông nghiệp, nông thôn từ năm 2003 đến 2015 của tác giả. Cuốn sách đưa người đọc
tiếp cận những vấn đề nóng bỏng một thời trong ngành nông nghiệp, trong đời sống
nông thôn của Việt Nam, và cả nhiều vấn đề cho đến nay vẫn mang tính thời sự rất
cao, như: tái cấu trúc hay xây dựng lại nền nông nghiệp Việt Nam, làm gì để gia tăng
giá trị hạt gạo và thu nhập của người trồng lúa gạo ở Việt Nam hiện nay… Cuốn sách
được chia làm 2 phần, trong mỗi chuyên mục, các bài viết được sắp xếp theo thời
gian của các vấn đề đã nảy sinh trong thực tiễn quản lý nông nghiệp và nông thôn
nước ta.
Phạm S (2015), “Nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao là yêu cầu tất yếu để
hội nhập quốc tế” với tư cách vừa là nhà quản lý (hiện là Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân
các vùng sản xuất chuyên canh ứng dụng công nghệ cao. Các mô hình trên đều đem
lại hiệu quả kinh tế khá cao. Bên cạnh những kết quả đạt được, việc phát triển
NNCNC gặp một số khó khặn và bất cập như: khó khăn về vốn đầu tư, khó khăn về
tích tụ đất đai và cơ sở hạ tầng khu vực nông thôn; khó khăn về nguồn nhân lực; khó
khăn về thị trường tiêu thụ sản phẩm.
Trần Thanh Quang với bài đăng “Về phát triển nông nghiệp công nghệ cao ở
nước ta” trên Tạp chí Cộng sản (số 884 năm 2016) đã trình bày 3 kết quả ban đầu
trong phát triển NNCNC ở nước ta như: đã hình thành được Khu NNCNC ở Tp. Hồ
Chí Minh, Lâm Đồng và một số địa phương khác cung cấp ra thị trường nhiều sản
phẩm chất lượng cao, các khu NNCNC được trang bị nhiều trang thiết bị hiện đại cho
năng suất cao gấp 3 lần phương pháp truyền thống, tạo được những vùng sản xuất
chuyên nghiệp canh ứng dụng công nghệ cao. Bên cạnh những thành tựu đã đạt được,
phát triển NNCNC gặp một số khó khăn nhất định như: vốn đầu tư, nguồn nhân lực,
tích tụ đất đai và kết cấu hạ tầng ở khu vực nông thôn, thị trường tiêu thụ sản phẩm,
sự liên kết khoa học – công nghệ giữa các tỉnh, thành trong nước còn rời rạc. Đây là
những vấn đề đặt ra để tìm giải pháp cụ thể tháo gỡ trong thời gian tới.
Như vậy, với các công trình nghiên cứu đã được đề cập tổng hợp ở trên, nhìn
chung, các công trình nghiên cứu liên quan đến vấn đề của đề tài được các nhà nghiên
cứu, các tác giả trong nước đề cập khá đa dạng về nội dung và cách thức tiếp cận.
Qua đó, những nội dung nghiên cứu của tác giả đề cập đến trong đề tài về phát triển
nông nghiệp, phát triển NNCNC, tiêu chí, nội dung, hình thức tổ chức… cũng được
8
luận giải sáng rõ hơn. Mỗi nghiên cứu lại có những giá trị tham khảo nhất định đối
với tác giả trong quá trình thực hiện đề tài.
Đánh giá khái quát kết quả các công trình đã công bố và vấn đề đặt ra cần
tiếp tục nghiên cứu trong đề tài
Đánh giá khái quát các công trình mà tác giả đã đề cập
Có thể nhận thấy, đề tài nông nghiệp và phát triển nông nghiệp, trong đó có
NNCNC không chỉ nhận được sự quan tâm mà đây còn là đề tài có sức hấp dẫn, cần
được tiếp tực nghiên cứu của học giả, các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước góp
phần giải quyết các vấn đề cả về mặt lý luận cũng như thực tiễn cho mỗi quốc gia,
mỗi địa phương.
Các vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu trong đề tài
Từ những hạn chế của các tài liệu tổng thuật, nhóm nghiên cứu đã đưa ra những
khoảng trống mà đề tài cần tiếp tục nghiên cứu, đó là:
- Hoàn thiện cơ sở lý luận về thực hiện chính sách phát triển NNCNC.
- Phân tích kinh nghiệm của một số quốc gia trong việc triển khai, thực hiện
chính sách phát triển NNCNC để rút ra bài học kinh nghiệm cho huyện Củ Chi, Thành
phố Hồ Chí Minh.
- Đánh giá thực trạng việc thực hiện chính sách phát triển NNCNC ở huyện Củ
Chi trên các nội dung đã xác định và từ đó đưa ra các định hướng giải pháp cụ thể.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá khách quan
quá trình thực hiện chính sách phát triển NNCNC ở huyện Củ Chi, Thành phố Hồ
Chí Minh, từ đó đưa ra phương hướng và đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao
hiệu quả thực hiện chính sách phát triển NNCNC ở huyện đến năm 2020, tầm nhìn
2025.
Để đạt được mục đích nghiên cứu nêu trên, đề tài có 04 nhiệm vụ sau đây:
- Thứ nhất, quá trình thực hiện chính sách phát triển NNCNC ở huyện Củ Chi
diễn ra như thế nào?
- Thứ hai, các nhân tố ảnh hưởng đến quá trình thực hiện chính sách phát triển
NNCNC ở huyện Củ Chi?
- Thứ ba, chính sách phát triển NNCNC có đem lại những chuyển biến tích cực
về tình hình phát triển kinh tế - xã hội ở huyện Củ Chi hay không? Những mặt được,
hạn chế, khó khăn từ quá trình thực hiện chính sách phát triển NNCNC ở huyện?
Nguyên nhân? Góp ý cho chính sách?
- Thứ tư, làm cách nào để nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách phát triển
thu thập, khai thác, tổng hợp thông tin từ các nguồn có sẵn có liên quan đến đề tài
nghiên cứu, bao gồm các văn kiện, tài liệu của Đảng và Nhà nước ở Trung ương và
địa phương, các công trình nghiên cứu từ các nhà khoa học, các báo cáo, thống kê,
kết quả điều tra… của chính quyền, ban ngành, đoàn thể, tổ chức, cá nhân có lien
quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến vấn đề nghiên cứu.
- Phương pháp điều tra thực địa
11
Phương pháp điều tra thực địa nhằm thu thập những tư liệu thực tế về nhận thức,
đánh giá, nguyện vọng của các đối tượng được điều tra về thực hiện chính sách phát
triển NNCNC ở huyện Củ Chi. Phương pháp điều tra này cũng được sử dụng để thông
qua đó thu thập số liệu nhằm phục vụ việc phân tích, nhận diện được những yêu cầu,
thách thức của quá trình thực hiện chính sách phát triển NNCNC ở huyện Củ Chi.
Thực hiện phương pháp điều tra thực địa, tác giả dự kiến phỏng vấn trực tiếp một số
đối tượng để thu thập thông tin. Cụ thể dự kiến:
+ Nhóm 1: Cán bộ huyện liên quan đến việc việc triển khai thực hiện chính
sách phát triển NNCNC. Trong đó gồm có: Đại diện chính quyền (01 người thuộc
phòng kinh tế huyện (người phụ trách mảng nông nghiệp), 01 cán bộ thuộc Khu Nông
nghiệp công nghệ cao Tp. Hồ Chí Minh.
+ Nhóm 2: Nông dân, HTX, Doanh nghiệp có mô hình NNCNC. Trong đó, ở
mỗi mô hình chọn 01 đại diện, cụ thể như: Mô hình trồng lan: 01 đại diện; mô hình
trồng rau ăn lá: 01 đại diện; mô hình trồng rau ăn quả: 01 đại diện; mô hình chăn nuôi
bò: 01 đại diện; mô hình chăn nuôi heo: 01 đại diện.
- Địa điểm khảo sát: Địa bàn huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.
Các phương pháp phân tích thông tin
Sau khi kết quả điều tra được xử lý, tiến hành phân tích thông tin trên cơ sở của
sự kết hợp giữa các phương pháp định tính và định lượng.
- Phương pháp phân tích văn bản: Đây là phương pháp dùng để phân tích, nhận
VÀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP
CÔNG NGHỆ CAO
1.1. Cơ sở lý luận về chính sách nông nghiệp công nghệ cao
1.1.1. Khái niệm nông nghiệp công nghệ cao
Nông nghiệp Việt Nam là một nền nông nghiệp đa dạng, phong phú bởi điều
kiện tự nhiên thuận lợi, được biểu hiện qua sự phân bố lãnh thổ nông nghiệp. Tuy
nhiên hiện nay, cùng với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước kéo theo
tốc độ đô thị hóa diễn ra nhanh chóng làm cho diện tích đất canh tác trên đầu người
có xu hướng giảm mạnh. Bên cạnh đó, phương thức sản xuất của nông dân còn lạc
hậu, nhỏ lẻ, manh mún. Việc chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp, phát triển nền nông
nghiệp bền vững, năng suất hiệu quả, chất lượng với hàm lượng công nghệ cao chính
là xu hướng phát triển của nông nghiệp nước ta trong tình hình mới. Phát triển
NNCNC là yêu cầu tất yếu để hội nhập quốc tế, và đặc biệt hơn trong bối cảnh cách
mạng công nghiệp 4.0, khi công nghệ thông tin, công nghệ số, trí tuệ nhân tạo ngày
càng phát triển và có nhiều ứng dụng vào trong sản xuất nhằm công nghiệp hóa ngành
sản xuất nông nghiệp, giảm thiểu sự lệ thuộc vào tự nhiên.
Thuật ngữ công nghệ cao (HighTech) đã được sử dụng rộng rãi trên thế giới
không chỉ trong ngành nông nghiệp mà còn ở các ngành khoa học công nghệ khác. Ở
nước ta, về mặt pháp lý cũng đã có thay đổi trong cách định nghĩa về công nghệ cao.
Theo Nghị định 99/2003/NĐ-CP ngày 28 tháng 8 năm 2003 về việc ban hành Quy
chế Khu công nghệ cao: “công nghệ cao là công nghệ được tích hợp từ các thành
tựu khoa học và công nghệ tiên tiến, có khả năng tạo ra sự tăng đột biến về năng suất
lao động, tính năng, chất lượng và giá trị gia tăng của sản phẩm hàng hoá, hình
thành các ngành sản xuất hoặc dịch vụ mới có hiệu quả kinh tế - xã hội cao, có ảnh
hưởng lớn đến sự phát triển kinh tế - xã hội và an ninh - quốc phòng” [2].
Sau khi Luật Công nghệ cao được ban hành và có hiệu lực từ 01/07/2009, công
nghệ cao được định nghĩa lại là “công nghệ có hàm lượng cao về nghiên cứu khoa
học và phát triển công nghệ; được tích hợp từ thành tựu khoa học và công nghệ hiện
15
che, kỹ thuật chuẩn đoán bệnh nhanh, và vi khuẩn, công nghệ cao trong thu hoạch và
bảo quản[8].
16
Tại Việt Nam, theo Vụ Khoa học Công nghệ - Bộ Nông nghiệp và phát triển
nông thôn định nghĩa: “Nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao là nền nông nghiệp
được áp dụng những công nghệ mới vào sản xuất, bao gồm: công nghiệp hóa nông
nghiệp (cơ giới hóa các khâu của quá trình sản xuất), tự động hóa, công nghệ thông
tin, công nghệ vật liệu mới, công nghệ sinh học và các giống cây trồng, giống vật
nuôi có năng suất và chất lượng cao, đạt hiệu quả kinh tế cao trên một đơn vị diện
tích và phát triển bền vững trên cơ sở canh tác hữu cơ”.
Mục tiêu cuối cùng của phát triển NNCNC là giải quyết mâu thuẫn giữa năng
suất nông nghiệp thấp, sản phẩm chất lượng thấp, đầu tư công lao động nhiều, hiệu
quả kinh tế thấp với việc áp dụng những thành tư khoa học công nghệ để đảm bảo
nông nghiệp tăng trưởng ổn định với năng suất và sản lượng cao, hiệu quả và chất
lượng cao; thực hiện tốt nhất sự phối hợp giữa con người và tài nguyên, làm cho ưu
thế của nguồn tài nguyên đạt hiệu quả lớn nhất, hài hòa và thống nhất lợi ích xã hội,
kinh tế và sinh thái môi trường.
Vai trò của NNCNC trong việc phát triển bền vững ngành nông nghiệp Việt
Nam
Ở nước ta, nông nghiệp vẫn luôn đóng vai trò quan trọng trong toàn cục nền
kinh tế. Nông nghiệp giúp đảm bảo lương thực, xóa đói giảm nghèo, ổn định chính
trị quốc gia... Trong khi đó, những thành tựu từ ứng dụng NNCNC vào trong sản xuất
cho đến nay đã đóng góp rất lớn trong việc tạo những bước đột phá mới về chủng
loại, số lượng và chất lượng nông sản. Chính vì thế, việc xây dựng và phát triển
NNCNC được xem là xu hướng tất yếu mà các quốc gia cần hướng đến, trong đó có
Việt Nam. Vai trò của NNCNC đối với nền nông nghiệp nước ta được thể hiện như
sau:
nhà phân phối... tạo thành chuỗi giá trị từ cung ứng các yếu tố đầu vào để sản xuất
nông phẩm, đến đưa nông phẩm đã qua đóng gói, chế biến tới người tiêu dùng. Từ đó
mà tiến hành xây dựng thương hiệu cho nông phẩm Việt Nam và khai thác tối đa lợi
thế của chỉ dẫn địa lý và nhãn hiệu tập thể của nông phẩm.
Như vậy, NNCNC không chỉ là thành tựu giá trị của các nhà khoa học, đơn vị
nghiên cứu mà nó còn có ý nghĩa vô cùng to lớn đối với người nông dân nói riêng và
cả nền nông nghiệp nói chung. NNCNC vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy cơ
cấu lại ngành nông nghiệp nước ta.
1.1.2. Khái niệm chính sách phát triển nông nghiệp công nghệ cao
Để hiểu rõ về khái niệm “Chính sách phát triển nông nghiệp công nghệ cao”,
trước tiên, chúng ta cần phải nắm rõ “Thế nào là chính sách?”. Theo tác giả James
Anderson trong các tác phẩm viết vào năm 2003, chính sách được hiểu là: “Chính
18
sách là một quá trình hành động có mục đích theo đuổi bởi một hoặc nhiều chủ thể
trong việc giải quyết các vấn đề mà họ quan tâm”[13]. PGS,TS. Đỗ Phú Hải nêu ra
định nghĩa một cách chung nhất về chính sách công như sau: “Chính sách công là tập
hợp các quyết định chính trị có liên quan của Nhà nước nhằm lựa chọn các mục tiêu
cụ thể với giải pháp và công cụ thực hiện giải quyết các vấn đề xã hội theo mục tiêu
đã xác định của đảng chính trị cầm quyền”[10].
Từ khái niệm “chính sách” và khái niệm “nông nghiệp công nghệ cao”, có thể
hiểu “chính sách phát triển nông nghiệp công nghệ cao” là những sách lược và kế
hoạch cụ thể nhằm đạt một mục đích nhất định là thúc đẩy phát triển và ứng dụng có
hiệu quả công nghệ cao trong lĩnh vực nông nghiệp, góp phần xây dựng nền nông
nghiệp phát triển toàn diện theo hướng hiện đại, sản xuất hàng hoá lớn, có năng suất,
chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh cao, đảm bảo vững chắc an ninh lương thực,
thực phẩm quốc gia cả hiện tại và lâu dài.
1.1.3. Nội dung chính sách phát triển nông nghiệp công nghệ cao
sách công. Nông nghiệp là ngành sản xuất tạo ra nhiều việc làm cho người lao động,
giữ vai trò “trụ đỡ” rất hữu hiệu, trọng yếu trong việc duy trì, bảo đảm sự ổn định
kinh tế - chính trị - văn hóa - xã hội của nước ta trước những “cú sốc” kinh tế từ bên
ngoài. Phát triển nông nghiệp, nâng cao đời sống của nông dân và xây dựng nông
thôn mới là chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước. Mặc dù sau hơn 30 năm đổi mới,
nông nghiệp nước ta đã thu được nhiều thành tựu, tuy nhiên về mặt tổng thể nông
nghiệp nước ta vẫn là nền nông nghiệp lạc hậu, sản xuất còn manh mún, chất lượng
và giá trị gia tăng của nông phẩm thấp, nhất là chưa đạt độ đồng đều theo yêu cầu của
công nghiệp chế biến và xuất khẩu; động lực phát triển của nông nghiệp theo cơ cấu
hiện nay đã tới hạn, khả năng chống đỡ thiên tai do biến đổi khí hậu rất hạn chế. Điều
này làm cho nông nghiệp nước ta lâm vào tình trạng suy giảm tăng trưởng và sức
cạnh tranh yếu. Bên cạnh đó, biến đổi khí hậu khiến thời tiết ngày càng cực đoan,
như hạn hán, xâm nhập mặn kéo dài; mưa, bão gây ngập úng cục bộ; dịch bệnh ngày
càng gia tăng... tác động tiêu cực đến sản xuất nông nghiệp, làm năng suất giảm mạnh,
thậm chí gây thất mùa trên diện rộng. Để khắc phục những hạn chế trên, đưa nền
nông nghiệp nước ta phát triển bền vững, có sức cạnh tranh cao, ngang tầm với những
tiềm năng, lợi thế so sánh của nó, cấp thiết phải cơ cấu lại nền nông nghiệp phù hợp
với tiềm năng, lợi thế về điều kiện sinh thái tự nhiên và nhu cầu tăng trưởng, đạt trình
độ hiện đại. Do đó, ứng dụng công nghệ cao vào sản xuất nông nghiệp là một xu
hướng tất yếu.
(2) Mục tiêu, nhiệm vụ chủ yếu của chính sách
Góp phần xây dựng nền nông nghiệp phát triển toàn diện theo hướng hiện đại,
sản xuất hàng hóa lớn, có năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh cao, đạt
mức tăng trưởng trên 3,5%/năm; đảm bảo vững chắc an ninh lương thực, thực phẩm
quốc gia cả trước mắt và lâu dài. Theo đó, các nhiệm vụ bao gồm: nghiên cứu phát
triển công nghệ cao trong nông nghiệp; phát triển NNUDCNC; phát triển dịch vụ
công nghệ cao trong nông nghiệp.
20