MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU
3
Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN NÔNG
NGHIỆP SẠCH Ở HUYỆN LỤC NGẠN TỈNH
BẮC GIANG
1.1. Nông nghiệp và phát triển nền nông nghiệp sạch
1.2. Quan niệm, nội dung, sự cần thiết, các yếu tố ảnh
11
11
hưởng và bài học kinh nghiệm phát triển nông
nghiệp sạch ở huyện Lục Ngạn
23
Chương 2. THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP
SẠCH Ở HUYỆN LỤC NGẠN TỈNH BẮC GIANG
THỜI GIAN QUA
35
2.1 Những kết quả tích cực trong phát triển nông nghiệp
sạch ở huyện Lục Ngạn
2.2 Hạn chế và nguyên nhân của nó trong phát triển
1. Lý do chọn đề tài
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn là một trong
những nội dung cơ bản, một bộ phận của công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước. Vì vậy, Ðảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách về nông
nghiệp, nông dân và nông thôn nhằm khuyến khích phát triển nông nghiệp
một cách bền vững, tạo thêm việc làm, tăng thu nhập và nâng cao mức sống
của nông dân. Trong những chính sách về nông nghiệp, có nhiều chủ trương,
giải pháp hướng tới phát triển một nền nông nghiệp sạch, bền vững như đầu
tư hỗ trợ các nguồn lực cho trồng lúa, đánh bắt thủy, hải sản và sản xuất, kinh
doanh các sản phẩm nông nghiệp có lợi thế của cả nước cũng như từng vùng
Việt Nam là nước nông nghiệp đang có những bước phát triển mạnh
mẽ và đạt được những thành tựu về năng suất, sản lượng và tỷ trọng nông
phẩm hàng hóa ngày càng tăng, nhưng chưa đáp ứng được nhu cầu về nông
phẩm sạch cho tiêu dùng trong nước và xuất khẩu. Hiện tại, nông nghiệp nước
ta đang đứng trước những thách thức không nhỏ đó là: vấn đề ô nhiễm môi
trường, đất đai bạc màu, suy giảm đa dạng sinh học, ngộ độc thuốc bảo vệ
thực vật ở người, bùng phát sâu bệnh do phá hủy hệ sinh thái xuất phát từ
việc sử dụng quá nhiều hóa chất... Khắc phục tình trạng này, nông nghiệp
nước ta không còn con đường nào khác là phải từng bước chuyển sang sản
xuất nông nghiệp sạch (nông nghiệp hữu cơ, nông nghiệp sinh thái, nông
nghiệp xanh, nông nghiệp bền vững).
Quan niệm một nền nông nghiệp sạch không chỉ dừng ở mức bảo vệ
môi trường, mà các sản phẩm của nó còn phải là các sản phẩm sạch, an toàn,
không bị nhiễm các hóa chất độc hại, đây là vấn đề mà những người tiêu dùng
hết sức quan tâm. Bên cạnh đó, nông nghiệp sạch sử dụng các các biện pháp
và quá trình canh tác được coi là lành mạnh bền vững, an toàn về sinh thái.Do
đó, sức khỏe của người sản xuất và của cả cộng đồng cũng được đảm bảo.
3
Lê Huy Ngọ: "Đẩy mạnh phát triển một số hàng nông sản xuất
khẩu có sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế" Tạp chí Kinh tế nông
nghiệp, số 2/1998.
Nguyễn Sịnh Cúc: "Phát triển nông sản hàng hóa thực trạng và giải
pháp" ,Con số và sự kiện, số 11/1999.
Bạch Đình Ninh"Đẩy mạnh chế biến nông sản" Tạp chí Nghiên cứu lý
luận số 8/2000.
Đào Thế Tuấn: "Vấn đề phát triển nông nghiệp, nông thôn ở nước ta
trong thời kỳ đổi mới" Tạp chí Cộng sản, số 771/2007.
Lê Huy Ngọ: "Thúc đẩy tiêu thụ nông sản hàng hóa để phát triển nông
nghiệp" Hoạt động khoa học, số 8/2008.
Bùi Chí Bửu"Công nghệ sinh học và vấn đề phát triển nông nghiệp của
Việt Nam" Tạp chí Cộng sản, số 791,9/2008.
Nguyễn Thanh Hà: "Thúc đẩy sự phát triển khoa học - công nghệ phục
vụ nông nghiệp, nông thôn" Tạp chí Cộng sản, số 801,7/2009.
Nội dung các bài viết trên đã đề cập và luận giải ở những góc độ
khác nhau về sự cần thiết, những thàn tựu và hạn chế, một số vấn đề đặt ra
cho phát triển nền nông nghiệp bền vững có sức cạnh tranh cao trên thị
trường trong nước và quốc tế.. Sự đóng góp về khoa học của các công
trình, các bài viết trên vào sự phát triển nền nông nghiệp- nông thôn - nông
dân Việt Nam là rất quan trọng.
Giáo trình, Sách khoa học:
Trần Xuân Châu: "Phát triển nông nghiệp hàng hóa ở Việt Nam thực
trạng và giải pháp" Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003.
Nguyễn Kế Tuấn: "Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông
thôn Việt Nam- con đường và bước đi", Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội, 2004.
Đặng Kim Sơn: "Nông nghiệp, nông thôn, nông dân Việt Nam- Hôm
nay và ngày mai" Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2008.
6
Nguyễn Mạnh Hà (2007): “Thực trạng và một số giải pháp nhằm phát
triển cây ăn quả theo hướng bền vững trên địa bàn huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc
Giang” Luận văn thạc sĩ. Trường Đại học Nông nghiệp 1 Hà Nội
Tác giả đã hệ thống hóa các vấn đề về phát triển cây ăn quả theo quan
điểm bền vững, đưa ra các đánh giá trực trạng về hiệu quả kinh tế trong phát
triển cây ăn quả trên địa bàn huyện Lục Ngạn, từ đó đề xuất một số giải pháp
nhằm phát triển cây ăn quả theo hướng bền vững trên địa bàn huyện Lục
Ngạn, tỉnh Bắc Giang.
Trương Văn Bảo ( 2008): “Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả
kinh tế cây vải thiều trên địa bàn Huyện Lục Ngạn - Bắc Giang” Luận văn
thạc sĩ. Tác giả đã nghiên cứu thực trạng về hiệu quả kinh tế của cây vải đối
với người dân địa phương từ đó đưa ra nguyên hạn chế và tìm giải pháp nằm
nâng cao hiệu quả kinh tế của vải thiều đó là nâng cấp vùng thấp và vùng đồi
núi đối với từng loại giống vải.
Nguyễn Văn Hùng (2011): “Thực trạng và giải pháp nhằm chuyển
dịch cơ cấu cây trồng trên địa bàn huyện Phú Bình - tỉnh Thái Nguyên giai
đoạn 2012- 2015”. Luận văn thạc sĩ.
Tác giả khẳng định: Sự cần thiết phải chuyển dịch cơ cấu cây trồng
nhằm phát huy mọi tiềm năng sản xuất của mỗi vùng hướng tới sản xuất
chuyên môn hóa, phát triển nền nông nghiệp sản xuất hàng hoá lớn, giải quyết
việc làm, nâng cao thu nhập và cải thiện mức sống cho người nông dân. Trên
cơ sở nghiên cứu thực trạng và đưa ra các giải pháp nhằm chuyển dịch cơ cấu
cây trồng trên địa bàn huyện Phú Bình - Thái Nguyên thông qua áp dụng khoa
học kỹ thuật, áp dụng mô hình nông nghiệp sạch trên địa bàn...
Nguyễn Xuân Hùng (2011): “Đánh giá hiệu quả kinh tế của một số
mô hình sản xuất nông lâm nghiệp trên địa bàn xã Long Đống, huyện Bắc
Sơn, tỉnh Lạng Sơn”. Luận văn thạc sĩ nông nghiệp, Nội dung đề tài khẳng
dung Phát triển bền vững nông nghiệp hữu cơ Việt Nam. Đại hội đã đánh giá
cao vai trò của sản xuất hữu cơ trong phát triển ngành nông nghiệp bền vững;
8
xác định mục tiêu là tăng cường công tác truyền thông nhằm thông tin kịp
thời các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, các thông tin trong nước
và quốc tế có liên quan đến nông nghiệp hữu cơ, phổ biến, đào tạo các kiến
thức nông nghiệp hữu cơ cho các thành viên.
Tóm lại, các đề tài trên đã nghiên cứu làm rõ lý luận và thực tiễn về
phát triển nền nông nghiệp bền vững trên phạm vi cả nước hay ở địa bàn một
số địa phương các tỉnh phía Bắc. Tuy nhiên đến thời điểm hiện tại, chưa có
tác giả nào nghiên cứu về phát triển nông nghiệp bền vững, nông nghiệp sinh
thái sạch trên địa bàn huyện Lục Ngạn.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích nghiên cứu
Luận giải một số vấn đề lý luận và thực tiễn về phát triển một nền nông
nghiệp sạch ở huyện Lục Ngạn tỉnh Bắc Giang.
Đề xuất những quan điểm cơ bản và giải pháp chủ yếu nhằm xây dựng
một nông nghiệp sách trên địa bàn huyện trong những năm tiếp theo.
* Nhiệm vụ nghiên cứu
Làm rõ cơ sở lý luận có liên quan đến phát triển một nông nghiệp sạch.
Khảo sát đánh giá kết quả phát triển nông nghiệp sạch ở huyện Lục
Ngạn thời gia qua.
Đề xuất những quan điểm cơ bản và giải pháp chủ yếu nhằm xây dựng
nền nông nghiệp sạch, góp phần phát triển kinh tế - xã hội, tăng cường quốc
phòng - an ninh, xây dựng nông thôn mới ở huyện Lục Ngạn tỉnh Bắc Giang
trong thời gian tới.
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài
* Đối tượng nghiên cứu
- Luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu phục vụ nghiên cứu
giảng dạy trong các trường đại học và cao đẳng khối ngành kinh tế.
7. Kết cấu đề tài
Luận văn gồm: Phần mở đầu; Phần nội dung: 3 chương (6 tiết);
Phần kết luận; Danh mục tài liệu tham khảo; Phụ lục.
10
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP SẠCH Ở HUYỆN
LỤC NGẠN TỈNH BẮC GIANG
1.1. Nông nghiệp và phát triển nền nông nghiệp sạch
1.1.1. Các quan niệm về nông nghiệp, phát triển nông nghiệp
Theo bách khoa toàn thư mở Wikipedia: Nông nghiệp là ngành sản
xuất vật chất cơ bản của xã hội, sử dụng đất đai để trồng trọt và chăn nuôi,
khai thác cây trồng và vật nuôi làm tư liệu và nguyên liệu lao động chủ yếu để
tạo ra lương thực thực phẩm và một số nguyên liệu cho công nghiệp. Nông
nghiệp là một ngành sản xuất có không gian rộng lớn, bao gồm nhiều chuyên
ngành: trồng trọt, chăn nuôi, sơ chế nông sản...
Nông nghiệp có 2 loại chính:
Về tính chất, gồm Nông nghiệp thuần túy hay nông nghiệp sinh nhai, là
phương thức sản xuất nông nghiệp tự cấp, tự túc, năng suất thấp, sản phẩm
đầu ra chủ yếu phục vụ cho chính nhu cầu của người sản xuất – người nông
dân. Nông nghiệp tiên tiến hay nông nghiệp lớn hiện đại, là phương thức sản
xuất nông nghiệp hàng hóa, năng suất cao, sản phấm làm ra thỏa mãn nhu cầu
phát triển chung của xã hội.
Về phạm vi, nông nghiệp theo nghĩa hẹp gồm trồng trọt và chăn nuôi;
nông nghiệp theo nghĩa rộng, là tổ hợp các ngành gắn liền với các quá trình
sinh học bao gồm cả nông nghiệp theo nghĩa hẹp (trồng trọt, chăn nuôi); lâm
nghiệp (trồng và khai thác, bảo vệ tài nguyên rừng), ngư nghiệp (đánh bắt và
để tạo ra sản phẩm như lương thực, thực phẩm... nhằm thoả mãn các nhu cầu
của chính con người và xã hội loài người. Nông nghiệp theo nghĩa rộng còn
bao gồm cả lâm nghiệp, ngư nghiệp, diêm nghiệp.
Nông nghiệp là ngành tạo ra sản phẩm thiết yếu nhất cho con người.
Nông nghiệp có những đặc trưng là:
Thứ nhất: Nông nghiệp được sản xuất trên địa bàn rộng lớn, phức tạp,
phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên nên mang tính khu vực rõ rệt. Trong sản
12
xuất nông nghiệp đất đai là đối tượng lao động đồng thời là tư liệu sản xuất
chủ yếu không thể thay thế được
Thứ hai: Đối tượng của sản xuất nông nghiệp là cơ thể sống, là cây
trồng vật nuôi. Cây trồng, vật nuôi sinh trưởng và phát triển theo quy luật sinh
học. Trong nông nghiệp, sự khác nhau về chất lượng đất trồng, khí hậu,
nguồn nước... dẫn đến việc lựa chọn chủng loại cây, con và sử dụng các biện
pháp canh tác khác nhau.
Thứ ba: Nông nghiệp là ngành duy nhất sản xuất ra lương thực nên nó
có vai trò quyết định về vấn đề an ninh lương thực quốc gia, của từng vùng
miền và sức khỏe của con người.
Thứ tư: Nông nghiệp gắn với môi trường sinh thái. Năng suất, hiệu quả
của sản xuất nông nghiệp phụ thuộc trực tiếp vào sự biến động của khí hậu và
môi trường.
Đề cập những đặc điểm của sản xuất nông nghiệp không chỉ để khẳng
định sự cần thiết của phát triển nông nghiệp, mà phải phát triển nền nông
nghiệp sạch, nông nghiệp bền vững trong hiện tại và cho tương lai.
Phát triển nông nghiệp là sự gia tăng về quy mô, trình độ, cơ cấu sản xuất
nông nghiệp, từ đó làm tăng chất lượng, sản lượng, chủng loại sản phẩm vật nuôi
cây trồng, đáp ứng tốt hơn nhu cầu của con người. Trong kinh tế hàng hóa và cơ
chế thị trường, phát triển nông nghiệp là tạo ra nhiều trị giá trị gia tăng, làm tăng
nông nghiệp cổ truyền và nông nghiệp hiện đại. Có nông nghiệp hóa học hóa,
nông nghiệp sinh thái, nông nghiệp bền vững, nông nghiệp sinh học v.v…
Các loại nông nghiệp này được phân loại theo cách thức tiến hành sản xuất.
Thuật ngữ nông nghiệp sạch mới xuất hiện trong những năm gần đây,
cho nên đến nay chưa có định nghĩa đầy đủ và được mọi người công nhận.
Một số tác giả đưa ra những định nghĩa khác nhau tùy theo đối tượng, mục
đích nghiên cứu và cách tiếp cận vấn đề.
Viện Nghiên cứu rau quả thuộc Viện Khoa học nông nghiệp Việt Nam
đưa ra khái niệm về rau sạch: là rau đảm bảo phẩm cấp, chất lượng, không bị
14
hư hại, giập nát, héo úa. Dư lượng thuốc trừ sâu bảo vệ thực vật, hàm lượng
nitrat và kim loại nặng ở dưới mức cho phép. Không bị sâu bệnh, không có vi
sinh vật gây hại cho người và gia súc.
Theo GS,TS Đường Hồng Dật, trong khái niệm nông nghiệp sạch
người ta không chú ý nhiều cũng như không giới hạn về cách thức sản xuất
nông nghiệp mà đặt trọng tâm chú ý vào sản phẩm của nông nghiệp, vào
những hậu quả do nông nghiệp gây ra đối với con người và môi trường.
Thực ra, sản phẩm của nông nghiệp trừ một phần rất ít làm nguyên liệu
cho công nghiệp như cao su, sợi thực vật v.v…, còn phần lớn là các loại
lương thực, thực phẩm và các sản phẩm phục vụ đời sống hàng ngày của con
người. Vì vậy, nếu hiểu theo nghĩa sạch là không có các chất, các loài sinh vật
gây hại cho người thì sản phẩm nông nghiệp bao giờ cũng phải sạch.
Ở Việt Nam vào những năm 60 của thế kỷ XX, sản xuất nông nghiệp
được xem là nông nghiệp sạch. Lúc đó nguồn bổ sung để đảm bảo độ màu mỡ
của đất đai đều là chất hữu cơ (phân gia súc, cây xanh, bèo hoa dâu, chất mùn
từ rơm rạ...). Người sản xuất không biết đến phân hóa học, thuốc trừ sâu,
thuốc diệt cỏ. Tuy nhiên, vào những năm 1970, do sức ép về dân số, về nhu
cầu lương thực, thực phẩm tăng lên nhanh chóng và cùng với đó là những tiến
được thừa nhận một cách rộng rãi. Chất hữu cơ góp phần cải thiện đặc tính
vật lý, hoá học cũng như sinh học của đất và cung cấp nhiều chất dinh dưỡng
quan trọng cho cây trồng. Việc cung cấp các nguyên tố vi lượng, các dưỡng
chất từ phân hữu cơ có ý nghĩa trong việc gia tăng phẩm chất nông sản, làm
trái cây ngon, ngọt và ít sâu bệnh hơn. Bón phân hữu cơ là nguồn dinh dưỡng
cần thiết cho hoạt động của vi sinh vật đất. Nông nghiệp sạch hay còn gọi là
nông nghiệp hữu cơ là một hệ thống quản lý sản xuất nông nghiệp tránh sử
dụng phân bón và thuốc bảo vệ thực vật tổng hợp, giảm tối đa ô nhiễm không
khí, đất và nước, tối ưu về sức khoẻ con người và vật nuôi.
16
Trước đây, để tăng năng suất và sản lượng trong trồng trọt, người nông
dân thường sử dụng phân bón hóa học và thuốc trừ sâu bệnh có nguồn gốc
hóa học. Tuy nhiên, việc sử dụng này chỉ đem lại lợi ích trước mắt mà không
bảo đảm thâm canh cây trồng bền vững, vì các sản phẩm có nguồn gốc từ chất
hóa học làm cho đất đai ngày càng thoái hóa, dinh dưỡng bị mất cân đối, mất
cân bằng hệ sinh thái trong đất, hệ vi sinh vật trong đất bị phá hủy, tồn dư các
chất độc hại trong đất càng nhiều dẫn đến phát sinh một số dịch hại không dự
báo trước, từ đó ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe con người và gây ô nhiễm
môi trường.
Theo báo cáo của Trung tâm Công nghệ Sinh học Tp. Hồ Chí Minh,
trong những năm gần đây, việc nghiên cứu và sản xuất ra chế phẩm sinh học
(CPSH), phân bón hữu cơ được đẩy mạnh để thay thế phân bón hóa học và
thuốc trừ sâu bệnh có nguồn gốc hóa học đã được hầu hết các nước quan tâm.
Giám đốc Trung tâm Công nghệ Sinh học Tp. Hồ Chí Minh - TS. Dương Hoa
Xô cho rằng, cần khuyến khích sử dụng chế phẩm sinh học cho cây trồng vì
nó có nhiều ưu điểm vượt trội như:
Không gây ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe con người và cây trồng.
Không gây ô nhiễm môi trường sinh thái.
ngán ăn, xua đuổi, ngăn sự lột xác và giảm khả năng sinh sản của côn trùng,
đồng thời không để lại dư lượng trên cây trồng và không ảnh hưởng đến các
loài thiên địch; thuốc trừ sâu vi sinh BT (có nguồn gốc vi khuẩn) - dùng để
tiêu diệt và phòng trừ các loại sâu như sâu cuốn lá, sâu tơ, sâu xanh, sâu
khoang, sâu ăn tạp…; chế phẩm Biobac và Biosar - dùng để tiêu diệt và ức
chế bệnh đốm vằn và cháy lá lúa; các sản phẩm Vivadamy, Vanicide, Vali…
có hoạt chất là Validamycin A, được chiết xuất từ nấm men Streptomyces
hygroscopius var. jingangiesis - dùng để trị các bệnh đốm vằn trên lúa, bệnh
nấm hồng trên cao su, bệnh chết rạp cây con trên cà chua, khoai tây, thuốc lá,
bông vải;…
18
Nhóm CPSH dùng cho sản xuất phân bón hữu cơ sinh học, phân bón vi
sinh, điều hòa sinh trưởng cây trồng…
Đối với nhóm phân vi sinh: Là tập hợp một hoặc nhiều nhóm vi sinh
vật, chúng được nhân lên từ các chế phẩm vi sinh và tồn tại trong các chất
không vô trùng. Căn cứ Quyết định số 36/2007/QĐ-BNN ngày 24/4/2007 của
Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về việc ban hành Quy
định sản xuất, kinh doanh và sử dụng phân bón, trong đó, có quy định mật độ
mỗi chủng vi sinh vật hữu ích không thấp hơn 1 x 108 CFU/gam (ml) đối với
phân vi sinh vật. Loại phân có chứa hàm lượng vi sinh vật có ích rất cao,
nguồn dinh dưỡng hữu cơ, vô cơ và vi lượng trong phân thấp. Phân vi sinh
được sản xuất và bón vào đất nhằm mục đích tăng lượng vi sinh vật có ích
cho cây trồng, đặc biệt đối với vi sinh vật cố định đạm. Phân vi sinh cũng có
thể dùng làm phân nền phối trộn để sản xuất các loại phân hữu cơ vi sinh và
hữu cơ sinh học.
Nhóm phân hữu cơ sinh học: Là sản phẩm phân bón được tạo thành
thông qua quá trình lên men vi sinh vật các hợp chất hữu cơ có nguồn gốc
khác nhau, có sự tác động của vi sinh vật hoặc các hợp chất sinh học được
phân bón và thuốc trừ sâu, diệt cỏ, thuốc bảo quản có nguồn gốc vô cơ, nhằm
bảo vệ sức khỏe người sản xuất và tạo ra những sản phẩm nông nghiệp an
toàn cho xã hội.
Có thể nhận thức một cách rõ ràng là nông nghiệp sạch (hay còn gọi là
nông nghiệp hữu cơ) là quá trình sản xuất nông nghiệp không sử dụng (hoặc
sử dụng ở mức tối thiểu và an toàn nhất) phân bón hóa học và thuốc trừ sâu
tổng hợp, nhẳm loại trừ (hoặc giảm thiểu) ô nhiễm không khí, đất và nước; tối
ưu hóa hiệu quả kinh tế và bảo vệ sức khỏe của cộng đồng. Nghĩa là tạo ra sự
hài hòa nhất có thể được về các mối quan hệ sống phụ thuộc lẫn nhau giữa
con người với con người; giữa con người với cây trồng, vật nuôi và con
người với môi trường.
20
Nhìn chung, canh tác nông nghiệp sạch hay nông nghiệp hữu cơ sẽ cải
thiện và duy trì cảnh quan tự nhiên và hệ sinh thái nông nghiệp, tránh việc
khai thác quá mức và gây ô nhiễm cho các nguồn lực tự nhiên, giảm thiểu
việc sử dụng năng lượng và các nguồn lực không thể tái sinh, sản xuất đủ
lương thực có dinh dưỡng, không độc hại, và có chất lượng cao… Ngoài ra,
nông nghiệp hữu cơ, nông nghiệp sạch còn đảm bảo, duy trì và gia tăng độ
màu mỡ lâu dài cho đất; củng cố các chu kỳ sinh học trong nông nghiệp, đặc
biệt là các chu trình dinh dưỡng, bảo vệ cây trồng dựa trên việc phòng ngừa
thay cho cứu chữa; đa dạng các vụ mùa và các loại vật nuôi, cây trồng phù
hợp với điều kiện địa phương…
Ưu điểm của sản xuất nông nghiệp sạch là đảm bảo sức khoẻ trước hết
cho người sản xuất sau đó là người tiêu dùng; giảm chi phí sản xuất để người
sản xuất có thu nhập cao hơn, có môi trường sống và làm việc tốt hơn; xã hội
được tiêu dùng lương thực, thực phẩm an toàn cho sức khỏe hơn.
Trên thực tế, do những yếu tố tự nhiên và nhân tạo nên một số loại sâu
bọ, côn trùng đã kháng thuốc nên phải sử dụng thuốc (hóa chất) đặc trị, nhưng
là người sản xuất và người tiêu dùng trực tiếp.
Quá trình sản xuất nông nghiệp, nếu lạm dụng các chất vô cơ, các hóa
chất độc hại, sẽ làm ô nhiễm môi trường sống (nước, không khí) ảnh hưởng
đến cuộc sống của tất cả mọi người. Ngoài ra nông sản không an toàn sẽ gây
nhiều hậu quả xấu cho người tiêu dùng
Tiêu chí phát triển nông nghiệp sạch
Vì sức khỏe của con người (người sản xuất, người trực tiếp tiêu dùng
và cả cộng đồng)
Vì một môi trường xanh – sạch – an toàn. Cải thiện và duy trì cảnh
quan tự nhiên, bảo vệ môi trường sinh thái nông nghiệp. Giảm thiểu việc sử
dụng năng lượng và các nguồn lực không thể tái sinh tự nhiên.
22
Vì lương thực, thực phẩm an toàn cho xã hội. Ngăn ngừa sự lây lan
bệnh dịch do tiêu dùng lương thực, thực phẩm gây ra.
Ngoài ra còn có thể xác định
Tiêu chí về mặt y tế: Phát triển NNS nhằm đảm bảo tối đa sức khỏe của
con người
Tiêu chí vể kinh tế
Đảm bảo khả năng cung cấp lương thực đủ nuôi sống con người hiện
nay và giảm thiểu độc hại cho môi trường sống của con người; nâng cao hiệu
suất sử dụng đất đai, năng suất cây trồng, vật nuôi, sức cạnh tranh của nông
phẩm hàng hóa trong kinh tế thị trường.
Tiêu chí về mặt xã hội: Tạo thêm việc làm, cải thiện đời sống, xóa đói
giảm nghèo đói, đồng thời góp phần cải thiện môi trường sống, giữ gìn an
ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội.
Như vậy, phát triển nông nghiệp sạch ở nước ta hiện nay là sử dụng có hiệu
quả các nguồn lực, các phương tiện và các biện pháp tối ưu nhằm tăng nhanh khối
lượng nông phẩm, mở rộng loại hình, quy mô sản xuất nông nghiệp an toàn
chiếu cho các nhà sản xuất, chế biến và những người khác quan tâm đến các
sản phẩm hữu cơ dành cho thị trường trong nước. Dự án Phát triển Khuôn khổ
cho sản xuất và Marketing nông nghiệp hữu cơ tại Việt Nam do Tổ chức Phát
triển nông nghiệp Châu Á – Đan Mạch (ADDA) tài trợ và do Hội Nông dân
Việt Nam thực hiện là một trong những dự án phát triển hữu cơ đầu tiên tại
Việt Nam. Xin được mượn lời giới thiệu của Dự án để cung cấp cho bạn đọc
kiến thức về nông nghiệp hữu cơ.
Dựa trên những nghiên cứu về nông nghiệp, phát triển nông nghiệp;
tiêu chí về một nền nông nghiệp sạch, có thể quan niệm:
Phát triển nông nghiệp sạch ở huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang là
những hoạt động tích cực, tự giác của các tổ chức chính trị, xã hội; tập thể,
cá nhân người lao động tham gia sản xuất, chế biến và bảo quản nông sản
theo những quy định, quy chế an toàn và đem lại hiệu quả kinh tế cao, bền
24
vững. Quá trình sản xuất hạn chế thấp nhất sử dụng các loại vật tư, phân bón
vô cơ, độc hại nhằm tạo ra những nông phẩm sạch góp phần bảo vệ môi
trường sống, bảo vệ sức khỏe cho người sản xuất và người tiêu dùng.
Mục đích của phát triển nông nghiệp sạch là bảo vệ sức khỏe của người
sản xuất và người tiêu dùng
Chủ thể thực hiện sự phát triển là những người tham gia vào quá trình
chỉ đạo, tổ chức, hoạt động sản xuất, lưu thông nông sản.
Phạm vi phát triển nông nghiệp sạch: trên địa bàn huỵện Lục Ngạn; bao
gồm cả khâu sản xuất, thu hoạchu, bảo quản, sơ chế nông phẩm
* Nội dung phát triển nông nghiệp sạch của huyện Lục Ngạn
Căn cứ vào Các tiêu chuẩn chất lượng hữu cơ của Hiệp hội hữu cơ thế
giới (IFOAM) [Phụ lục 1] và Tiêu chuẩn Quốc gia về sản xuất và chế biến các
sản phẩm hữu cơ 10 TCN 602-2006 được Bộ Nông nghiệp và PTNT ban hành
ngày 30 tháng 12 năm 2006 [Phụ lục 2], tác giả luận văn xác định nội dung
phát triển bền vững
Thứ ba, Cung cấp sản phẩm nông nghiệp sạch ra thị trường.
Phát triển mạnh công nghiệp chế biến nông sản an toàn cho thị trường
trong tỉnh và xuất khẩu. Thực hiện xúc tiến thương mại tiêu thụ sản phẩm an
toàn, đầu tư xây dựng chợ đầu mối tiêu thụ nông sản sạch trên địa bàn
1.2.2 Sự cẩn thiết và các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển nông
nghiệp sạch ở Lục Ngạn
* Sự cần thiết phải phát triển nông nghiệp sạch ở huyện Lục Ngạn,
tỉnh Bắc Giang
Nông nghiệp giữ vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế xã hội của
Bắc Giang nói chung, huyện Lục Ngạn nói riêng
Ở Lục Ngạn, nông sản trước hết là quả vải thiều, đóng vai trò quan
trọng trong sản xuất nông nghiệp hàng hóa. Tiền bán (doanh thu) từ quả vải
26