MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU
Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ PHÁT TRIỂN
3
NGÀNH TIỂU THỦ CÔNG NGHIỆP Ở QUẬN
12
1.1
KIẾN AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
Quan niệm về tiểu công nghiệp, thủ công nghiệp; đặc
12
1.2
điểm ngành tiểu thủ công nghiệp
Nội dung và các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển ngành tiểu
24
1.3
thủ công nghiệp ở quận Kiến An, thành phố Hải Phòng
Vai trò phát triển của ngành tiểu thủ công nghiệp ở quận
Kiến An, thành phố Hải Phòng
35
70
3.2.
Kiến An
Những giải pháp cơ bản để phát triển ngành tiểu thủ công
nghiệp ở Kiến An đến năm 2020 định hướng đến năm 2025
KẾT LUẬN
74
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
93
PHỤ LỤC
96
92
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
2
Đại hội XI đã xác định “Phấn đấu đến năm 2020 nước ta cơ bản trở
thành nước công nghiệp theo hướng hiên đại, chính trị xã hội ổn định, dân chủ
thống sẽ đẩy mạnh phân công lao động trong nội bộ từng địa phương, phát
triển ngành nghề tiểu thủ công nghiệp mới, thu hút lao động dôi dư, chuyển
dịch cơ cấu kinh tế, nâng cao mức sống cho người dân… mặt khác, còn ghi dấu
ấn truyền thống văn hoá, kinh tế tại mỗi kỳ lịch sử. Bên cạnh những ưu thế lớn
đó, việc phát triển các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp hiện nay ở Kiến An
cũng nảy sinh nhiều vấn đề đáng quan tâm, đó là: sản xuất phải xuất phát từ
nhu cầu thị trường trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, trình độ công nghệ
chưa cao, sử dụng công nghệ truyền thống còn khá phổ biến; vấn đề ô nhiễm
môi trường đang đặt ra nhiều thách thức; thu nhập của người làm nghề tiểu thủ
công nghiệp còn thấp…
Vì vậy, việc tìm ra các giải pháp hợp lý đẩy mạnh phát triển ngành tiểu
thủ công nghiệp là rất cần thiết, nhằm phát triển kinh tế xã hội của Kiến An,
góp phần đẩy nhanh công nghiệp hoá, hiện đại hoá giúp Hải Phòng về đích
trước vào năm 2020. Do đó, tôi đã chọn đề tài: “ Phát triển ngành tiểu thủ
công nghiệp ở quận Kiến An, thành phố Hải Phòng” làm luận văn tốt
nghiệp thạc sỹ chuyên ngành kinh tế chính trị.
2. Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
Các nước trên thế giới khi tiến hành CNH - HĐH đối với kinh tế nông
nghiệp thì phát triển nông nghiệp, nông thôn luôn được coi là phát huy lợi thế
so sánh, nội lực của đất nước; vừa thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế vừa
giải quyết có hiệu quả các vấn đề xã hội. Trong đó, làng nghề, làng nghề
truyền thống, ngành nghề ở nông thôn là những nguồn lực còn nhiều tiềm
năng của đất nước. Vì vậy, vấn đề phát triển làng nghề, làng nghề truyền
thống, ngành nghề ở nông thôn và phát triển nông nghiệp, nông thôn theo
hướng CNH - HĐH có ý nghĩa thực tiễn quan trọng đã được nghiên cứu, thảo
luận tại nhiều hội thảo trong và ngoài nước. Được nhiều tác giả, nhiều nhà
khoa học, chính quyền các cấp quan tâm, các sách chuyên tham khảo, các bài
4
* Ở trong nước:
- “Nghiên cứu qui hoạch phát triển ngành nghề thủ công theo hướng
CNH nông thôn Việt Nam” của cơ quan hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA) và Bộ
Nông nghiệp Phát triển nông thôn (2002) đã đạt được một số kết quả nhất định
đặc biệt, đưa ra vấn đề hỗ trợ của chính phủ cho sản xuất nghề thủ công
truyền thống của đồng bào dân tộc thiểu số. Sự hỗ trợ trên các phương diện:
hỗ trợ trực tiếp vốn, hỗ trợ gián tiếp về thực hiện thương mại bình đẳng, năng
lực quản lý kinh doanh.
- Trong nghiên cứu của GS.TS Trần Văn Chử (2005) về “Phát triển thị
trường làng nghề tiểu thủ công nghiệp vùng đồng bằng sông Hồng” đây là Đề
tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ năm 2004 - 2005 đã phân tích vai trò của làng
nghề và những nhân tố tác động đến sự phát triển của làng nghề. Dựa trên cơ sở
chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về phát triển làng nghề, đề tài đã
đi sâu khảo sát, đánh giá thực trạng phát triển làng nghề ở đồng bằng sông Hồng
trong thời kỳ đổi mới từ 1986 đến nay. Từ đó, đề xuất hệ quan điểm và các giải
pháp chủ yếu phát triển kinh tế, nâng cao sức cạnh tranh và tính hiệu quả của các
làng nghề ở một số tỉnh đồng bằng sông Hồng trong thời gian tới.
- Trong dự thảo Đề án “Chương trình phát triển mỗi làng một nghề
giai đoạn 2006 - 2015” của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, các
chuyên gia đã nêu một cách tổng quan những xu hướng phát triển của các
nghề phi nông nghiệp và các làng nghề ở nông thôn Việt Nam. Phân tích các
đặc điểm và tác động của sự phát triển làng nghề phi nông nghiệp và các làng
nghề đối với những thay đổi về kinh tế, xã hội và môi trường, đặc biệt là tác
động đối với nhóm những hộ nghèo ở nông thôn. Trên cơ sở phân tích đó, đề
xuất những kiến nghị trong phát triển và quản lý các nghề phi nông nghiệp và
các làng nghề nhằm giảm nghèo nói riêng và đảm bảo sự phát triển của nông
thôn Việt Nam.
- Theo nghiên cứu của TS. Mai Thế Hởn về “Phát triển làng nghề
truyền thống trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở vùng ven Thủ
nghề truyền thống. Đánh giá thực trạng vấn đề xây dựng thương hiệu sản
7
phẩm làng nghề truyền thống ở đồng bằng sông Hồng, trong đó có vấn đề
nhận thức của làng nghề về thương hiệu, chiến lược phân phối và quảng
bá thương hiệu. Từ thực trạng vấn đề xây dựng thương hiệu sản phẩm
làng nghề, nghiên cứu đã đề xuất phương hướng và giải pháp nhằm thúc
đẩy quá trình xây dựng thương hiệu sản phẩm của làng nghề ở vùng đồng
bằng sông Hồng trong thời gian đến.
- Đề tài cấp Bộ của ThS. Nguyễn Hữu Thông (2007) “Vai trò nghề thủ
công trong sự phát triển kinh tế - xã hội của Huế và sự mai một các nghề thủ
công truyền thống”. Tác giả đã nêu ra bối cảnh nghề truyền thống ở Việt
Nam, đề cập về những hệ quả mà các làng nghề thủ công truyền thống phải
đối mặt và đưa ra giải pháp để khắc phục. Mặc dù, tác giả đưa ra những nhận
định về thực trạng mai một của các làng nghề truyền thống nhưng chưa tìm
hiểu những nguyên nhân khách quan và chủ quan dẫn đến những hệ quả này.
Những giải pháp chủ yếu tập trung dành cho những doanh nhân trong lĩnh
vực này mà thiếu đi những giải pháp về chính sách hỗ trợ của chính quyền
tỉnh Thừa Thiên Huế trong việc phát triển nghề thủ công truyền thống.
- Nằm trong khuôn khổ dự án “Khung chính sách cho ngành thủ công
ở Việt Nam, tập trung vào làng nghề thủ công truyền thống ở năm khu vực di
sản thế giới” do Quỹ Korea Funds - Trust tài trợ, với sự điều phối của Bộ Văn
hóa - Thể thao - Du lịch, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cùng các
tỉnh có di sản thế giới, TS Nguyễn Thị Phương Châm và các cộng sự (2009)
đã công bố kết quả bước đầu về tiềm năng, thực trạng và những giải pháp cho
sự phát triển nghề thủ công ở Huế trong bối cảnh thành phố di sản. Trong
nghiên cứu của mình, tác giả đã trình bày bối cảnh chung của Huế và đặc thù
nghề thủ công; thực trạng nghề thủ công ở Huế và các giải pháp, trong đó tập
trung vào phân tích các nội dung: nguyên liệu, qui trình và công nghệ sản
truyền thống từ lao động, công nghệ, vốn, thị trường tiêu thụ sản phẩm…
trong bối cảnh hội nhập quốc tế.
9
Tuy nhiên, chưa có một công trình nào đi sâu nghiên cứu về thực
trạng và giải pháp phát triển kinh tế ngành tiểu thủ công nghiệp tại một địa
bàn quận, huyện như quận Kiến An – thành phố Hải Phòng. Đặc biệt là
nghiên cứu phát triển kinh tế mang tính bền vững các nghề truyền thống các
ngành tiểu thủ công nghiệp trên cơ sở gắn kết 03 nội dung kinh tế - xã hội môi trường trong bối cảnh cạnh tranh và hội nhập quốc tế.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển ngành tiểu thủ công
nghiệp ở quận Kiến An, thành phố Hải Phòng; qua đó đề xuất các quan điểm
và giải pháp nhằm phát triển ngành tiểu thủ công nghiệp ở quận Kiến An,
thành phố Hải Phòng.
* Nhiệm vụ nghiên cứu
Phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn về kinh tế ngành tiểu thủ công
nghiệp.
Phân tích đánh giá thực trạng việc phát triển ngành tiểu thủ công
nghiệp ở quận Kiến An trong thời gian qua.
Đề xuất quan điểm cơ bản và những giải pháp chủ yếu nhằm thức đẩy
sự phát triển ngành tiểu thủ công nghiệp của quận Kiến An trong thời gian tới.
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu thực trạng phát triển ngành tiểu thủ công nghiệp của các cơ
sở sản xuất kinh doanh trên địa bàn quận Kiến An trong quá trình phát triển
công nghiệp hoá, hiện đại hoá thành phố hiện nay.
* Phạm vi nghiên cứu
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ PHÁT TRIỂN
NGÀNH TIỂU THỦ CÔNG NGHIỆP Ở QUẬN KIẾN AN,
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
1.1. Quan niệm và các hình thức của tiểu, thủ công nghiệp
1.1.1. Tiểu thủ công nghiệp
Lịch sử xã hội loài người đã trải qua ba lần phân công lao động xã hội
lớn, theo đó LLSX xã hội có bước phát triển vượt bậc hơn trước và với cuộc
phân công lao động xã hội lần thứ hai TCN trở thành một nghề riêng biệt.
TCN là giai đoạn phát triển thấp của công nghiệp; lúc đầu chỉ thỏa mãn các
nhu cầu của người sản xuất và mang tính chất của một nghề phụ. Về sau đã
xuất hiện những nghề thủ công độc lập, chuyên chế biến các nguyên liệu và
dùng sản phẩm đó để trao đổi. Đến thế kỷ XI, NN và TCN đã phát triển, trở
thành những ngành độc lập và mối quan hệ giữa chúng trở thành mối quan hệ
của trao đổi sản phẩm hàng hóa.
Ở mỗi giai đoạn lịch sử khác nhau, nội hàm của khái niệm “tiểu công
nghiệp” và “thủ công nghiệp” có sự thay đổi do sự phát triển mạnh mẽ của
khoa học kỹ thuật, thậm chí mỗi quốc gia khác nhau tùy theo quy ước của
mình mà đưa ra những cách hiểu khác nhau. Đối với Việt Nam, chúng ta
không có sự phân định rõ ràng giữa CN và TCN, hai khái niệm này thường
được dùng ghép với nhau như một thuật ngữ không tách biệt.
Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác-Lênin đã đề cập đến TCN. Khi
nói đến TCN, V.I.Lênin viết “hình thức CN thứ nhất tách khỏi NN gia
trưởng, là nghề thủ công nghiệp, là nghề chế tạo các vật phẩm theo đơn đặt
hàng của người tiêu dùng”. Người cũng khẳng định TCN là sản phẩm của sự
phát triển xã hội, là giai đoạn phát triển thấp của CN “sự xuất hiện của một
nghề thủ công mới đánh dấu một bước tiến trong sự phân công lao động xã
hội; Một bước tiến như vậy là điều tất yếu phải có trong xã hội TBCN chừng
12
13
sức nhỏ hẹp, người sản xuất và người tiêu thụ không xa nhau lắm, quy mô
nhỏ hẹp dễ thích hợp với nhu cầu địa phương, nhu cầu đó lên xuống không
bao nhiêu. Vì vậy, CN ở giai đoạn này được ổn định đến mức độ cao nhất,
tình trạng ổn định này lại là tình trạng kỹ thuật đình đốn, tình trạng duy trì
quan hệ xã hội gia trưởng, mà quan hệ xã hội này lại xoắn xuýt chặt chẽ với
mọi tàn tích của truyền thống thời trung cổ. Công trường thủ công sản xuất
cho thị trường lớn, đôi khi cho cả toàn quốc, nên sản xuất của nó có tính chất
không ổn định mà chỉ riêng CBTB mới có và tính chất này lên đỉnh chóp của
nó trong sản xuất công xưởng.
Như vậy, giai đoạn phát triển công trường thủ công gần với nội hàm
khái niệm “tiểu công nghiệp”, sự khác nhau giữa thủ công nghiệp và tiểu công
nghiệp chỉ là ở trình độ PCLĐ, tiến bộ kỹ thuật, thị trường tiêu thụ sản phẩm,
nguyên vật liệu, quy mô tổ chức sản xuất lớn hay nhỏ, phân tán hay tập trung.
Với tiêu trí đó, cũng như tại thời điểm bùng nổ cuộc cách mạng khoa học kỹ lần
thứ nhất thì có thể hiểu “tiểu công nghiệp” chính là hình thức CN sử dụng công
cụ lao động nửa cơ khí để chế biến nguyên liệu ra sản phẩm. Cuộc cách mạng
khoa học kỹ thuật lần thứ nhất khởi đầu ở nước Anh thế kỷ XVIII, máy móc đã
thay thế công cụ thủ công, sự phát minh và ứng dụng máy hơi nước có tác dụng
then chốt trong sản xuất lớn TBCN. Máy móc ban đầu là sự kết hợp của ba bộ
phận: công tác, phát lực và truyền lực; sau đó có thêm bộ phận điều khiển tự
động, sử dụng rộng rãi sức điện và vật liệu mới. Nhưng nếu vẫn sử dụng sức
người thay cho máy phát lực thì lao động bằng máy công tác đó là lao động
nửa cơ khí.
Ngày nay, trên thế giới có hai quan niệm về TTCN là tiểu công nghiệp
và thủ công nghiệp:
* Về Tiểu công nghiệp: mỗi quốc gia đều đề ra các quy định về tiểu
công nghiệp có tính chất hành chính, pháp lý để phân biệt với “đại hay trung
thợ; tính linh hoạt trong các chính sách đối với tiểu công nghiệp;
15
- Những điểm mạnh, điểm yếu về phương diện vốn và tín dụng như:
khó vay vốn ở ngân hàng hơn các xí nghiệp lớn, nhưng dễ huy động vốn từ bà
con hay bạn bè để thành lập, phát triển sản xuất;
- Tính chất đa dạng của sản xuất TTCN cần áp dụng mềm dẻo các biện
pháp, chính sách, một sự chỉ đạo, một chương trình phát triển chuyên biệt.
* Về thủ công nghiệp: người ta vẫn coi là một thành phần, một dạng đa
thức, một loại “tiểu công nghiệp”. Hai loại định nghĩa về tiểu công nghiệp và
thủ công nghiệp bổ sung cho nhau, nhưng không thể sử dụng toàn cầu. Để
nghiên cứu sâu các vấn đề về tiểu công nghiệp và thủ công nghiệp, chúng ta
cần có một mốc chuẩn nào đó.
Ở Việt Nam, khái niệm “thủ công nghiệp” hay nghề thủ công được hiểu
là một hình thức công nghiệp sử dụng công cụ cầm tay, để chế biến nguyên
liệu ra sản xuất ra sản phẩm. Hình thức nguyên thủy là sự tác động của tay
hoặc chân người lao động lên đối tượng lao động thông qua công cụ lao động.
Đặc trưng của thủ công nghiệp là công cụ cầm tay hay cải tiến.
Về “tiểu công nghiệp” có thể hiểu bao gồm các đơn vị sản xuất công
nghiệp có trang bị kỹ thuật tương đối cao hơn thủ công nghiệp. Ở một số khâu,
bộ phận chủ yếu trong dây chuyền sản xuất có thể được trang bị máy móc hiện
đại, được chuyên môn hóa để sản xuất ra các chi tiết, bộ phận, sản xuất hoàn
chỉnh. Sự khác nhau căn bản giữa tiểu công nghiệp và thủ công nghiệp là ở trình
độ kỹ thuật của TLSX. Giữa chúng có điểm giống nhau dựa trên quy mô sản
xuất nhỏ đã tồn tại một nền đại công nghiệp và chúng là bộ phận công nghiệp
phụ trợ. Trong điều kiện KH – CN phát triển nhanh chóng, để phân biệt với đại
công nghiệp, khái niệm tiểu công nghiệp không chỉ dựa vào chỉ tiêu về vốn và
lao động mà cần bổ sung các chỉ tiêu như mức độ phức tạp của quản lý, hiệu quả
SXKD để làm rõ danh giới giữa tiểu công nghiệp và đại công nghiệp.
cụ cầm tay thô sơ hoặc cải tiến. Trong lao động thủ công, con người làm cả
chức năng phát lực, truyền lực và điều khiển công cụ. Như vậy, thủ công
nghiệp là một nghề thủ công, hình thức sản xuất công nghiệp dựa trên quy mô
nhỏ, công cụ lao động đơn giản và chủ yếu dựa vào sự khéo léo của bàn tay
17
người thợ thủ công. Hiện nay, khi KH – CN đã có những phát triển vượt bậc,
cách hiểu về khái niệm “thủ công nghiệp” có những nội dung thay đổi, người
thợ thủ công đã sử dụng máy móc để phát lực, truyền lực kết hợp với sự khéo
léo của đôi bàn tay để tạo ra các sản phẩm thủ công độc đáo, tinh xảo và có
giá trị kinh tế cao. Sự khác biệt cơ bản giữa thủ công nghiệp và đại công
nghiệp chính là việc điều khiển công cụ lao động được thực hiện dựa vào sự
khéo léo của bàn tay con người và sự PCLĐ được tiến hành một cách chủ
quan dựa vào năng lực của người công nhân.
Đặc điểm chủ yếu của thủ công nghiệp bao gồm nhiều ngành, nghề
phong phú từ sản xuất đến dịch vụ sản xuất và đời sống; gắn chặt chẽ với
sản xuất và tiêu dùng các nguyên liệu, tận dụng các phế liệu và đáp ứng
các nhu cầu và thị hiếu tiêu dùng của địa phương; thường là quy mô nhỏ,
linh hoạt, thuận tiện và tiết kiệm được chi phí quản lý; có khả năng huy
động nhiều nguồn vốn tự có của gia đình đồng thời kết hợp được với vốn
vay. Các loại hình sản xuất của thủ công nghiệp khá phong phú như thủ
công nghiệp gia đình, thủ công nghiệp tiểu chủ, thủ công nghiệp hợp tác
(tổ, đội, HTX TCN...). Cơ cấu sản xuất thủ công nghiệp bao gồm nhiều
loại khác nhau: mộc, nề, cơ khí, xây dựng cơ bản, thủ công mỹ nghệ, dệt,
may, giấy, vận chuyển... Tính chất sản xuất thủ công nghiệp cũng có
nhiều dạng: tự cung tự cấp, tự sản tự tiêu; vừa tự cung tự cấp vừa
SXHH; SXHH. Thủ công nghiệp Việt Nam có truyền thống sản xuất lâu
đời với nhiều ngành nghề phong phú, gắn chặt với nông nghiệp, lâm
nghiệp, ngư nghiệp, phân bố rộng khắp các làng xã và mang tính chất địa
Từ trước tới nay, ở Việt Nam không có sự phân định rõ ràng giữa thủ
công nghiệp và tiểu công nghiệp; hai khái niệm này thường được dùng ghép
với nhau như một thuật ngữ không tách biệt. Xét về nguồn gốc ra đời, các tổ
chức sản xuất TTCN của nước ta được hính thành theo 3 cách:
19
Thứ nhất: tổ chức những người thợ thủ công cá thể vào làm ăn tập thể,
hình thành các HTX TTCN, các HTX TTCN ở đây thường được hiểu là HTX
chỉ sở hữu tập thể còn TTCN chỉ trình độ kỹ thuật của sản xuất.
Thứ hai: thông qua con đường cải tạo XHCN đối với các xí nghiệp tư
bản tư doanh, hình thành các xí nghiệp công tư hợp doanh.
Thứ ba: các xí nghiệp công nghiệp quốc doanh tỉnh hoặc huyện hoặc
của các đoàn thể, của tổ chức các hội nghề nghiệp hình thành thông qua việc
đầu tư xây dựng các xí nghiệp mới.
Tiểu thủ công nghiệp (TTCN) là một lĩnh vực sản xuất có quan hệ với
sản xuất công nghiệp, TTCN được coi là một lĩnh vực vừa độc lập, vừa phụ
thuộc với công nghiệp. Xét về trình độ kỹ thuật và hình thức tổ chức sản xuất, thì
TTCN chính là hình thức phát triển sơ khai của công nghiệp. Trong quá trình
phát triển lịch sử, ngành công nghiệp đã trải qua hình thái tiểu thủ công nghiệp.
TTCN phát sinh và phát triển cùng con người và xã hội loài người ở
các xã hội tiền tư bản cái gọi là sản xuất tiểu thủ công nghiệp đảm bảo toàn bộ
các sản phẩm lao động và tiêu dùng của con người, trừ các sản phẩm nông
nghiệp. Với quá trình phát triển của nền công nghiệp hiện đại ngày nay thì
tiểu thủ công nghiệp cần được xác định rõ ràng hơn.
- Thủ công nghiệp: Về mặt sản xuất thủ công nghiệp là hình thái phát
triển của công cụ lao động từ thô sơ bằng tay đến cơ khí kế hợp máy móc hiện
đại, năng suất lao động ngày càng cao, sản xuất nhiều hàng hoá. Về mặt quan
hệ sản xuất đó là sự phát triển từ quan hệ thợ ban, phường hội tới quan hệ chủ
xưởng và nhân công làm thuê.
Lao động – Thương binh và Xã hội chấp thuận bằng văn bản đạt các tiêu
chuẩn về môi trường, văn minh thương mại, dịch vụ và an toàn lao động trong
làng nghề.
Năm là về văn hóa – xã hội: làng nghề có hương ước hoặc quy chế hoạt
động và chấp hành tốt các tiêu chuẩn về an ninh và an toàn xã hội.
21
Thông thường, hoạt động của làng nghề TTCN lúc đầu phát sinh từ một
số gia đình, dần dần mở rộng ra nhiều gia đình và phát triển thành làng nghề.
Số hộ và số lao động làm nghề TTCN ngày càng nhiều. Như vậy, làng nghề
TTCN là những làng ở nông thôn có một hay một số nghề TTCN tách ra khỏi
NN để SXKD độc lập, phương pháp sản xuất đã được cải tiến hoặc sử dụng
những máy móc hiện đại hỗ trợ cho sản xuất.
Có thể thấy rằng mỗi địa phương cũng quy định về con số định lượng
công nhận làng nghề khác nhau, ví dụ Hà Tây (cũ) quy định số hộ hoặc số lao
động làm nghề TTCN phải đạt từ 50% trở lên; Thừa Thiên Huế lại quy định
số hộ lao động trực tiếp tham gia làm nghề TTCN đạt từ 30% trở lên, JICA –
cơ quan hợp tác quốc tế Nhật Bản phối hợp với Bộ NN và Phát triển nông
thông điều tra năm 2004 đánh giá tiêu chí có trên 20% số hộ làm nghề, thu
nhập từ nghề chiếm trên 20% thu nhập chung... Qua đây, ta có thể thấy con số
định lượng công nhận làng nghề phải đạt các tiêu chuẩn sau:
- Giá trị sản xuất của làng nghề chiếm tỷ trọng nhất định (ít nhất là 20%
trở lên) so với tổng giá trị sản xuất của làng;
- Số hộ hoặc số lao động làm nghề CN – TTCN ở làng chiếm đa số ( từ
20% trở lên) trong tổng số hộ hoặc lao động của từng làng;
- Chấp hành tốt đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật
của Nhà nước, các quy định của địa phương;
- Ngoài ra, còn một số tiêu chuẩn khác liên quan đến tuổi đời của nghề được
lưu truyền, tiêu chuẩn về môi trường, văn minh, an toàn lao động của làng nghề.
việc sản xuất hoàn chỉnh một sản phẩm; hoặc chỉ một khâu tiêu thụ sản phẩm,
bán thành phẩm hay việc thu mua nguyên vật liệu, vật tư trên thị trường. Mức
độ hợp tác giữa họ phụ thuôc vào trình độ xã hội hóa nghề TTCN hay cơ sở
hạ tầng KT – XH ở địa phương, nhằm phát triển sản xuất, nâng cao doanh lợi.
Sự hợp tác đó có thể thực hiện trên một sơ sở pháp lý hoặc tín chấp theo
phong tục tập quán của cộng đồng.
Ba là: hình thức tổ chức theo mô hình HTX:
- Thời kỳ trước đổi mới, HTX TCN ở nông thôn được tổ chức như một
nghề phụ của NN hoặc mỗi HTX tổ chức ra một đội ngành nghề, tập hợp tất
cả những thợ “thủ công” chuyên nghiệp hoặc bán chuyên nghiệp, làm nhiều
23
nghề khác nhau, hoặc có thể giao một số nhiệm vụ khác. Việc phân phối thu
nhập cho lao động làm nghề thủ công này cũng tính theo công điểm, ăn chia
như lao động NN.
- Hiện nay mô hình HTX kiểu mới thực hiện theo Luật HTX, là loại
hình tổ chức sản xuất chủ yếu ở nông thôn nước ta. Ở hình thức tổ chức sản
xuất này, các nghề TTCN sẽ phát huy yếu tố tích cực tạo việc làm, sẽ huy
động mọi nguồn vốn trong nhân dân, để cải tiến, đầu tư máy móc, công cụ,
nhà xưởng sản xuất, mở rộng SXKD TTCN.
Bốn là: mô hình doanh nghiệp như doanh nghiệp tư nhân, công ty
TNHH, công ty cổ phần:
Đây là những mô hình sản xuất tiên tiến, có trình độ xã hội hóa cao
trong khu vực kinh tế nông thôn. Các hình thức này tuy chưa phổ biến ở làng
nghề song bước đầu nó đóng vai trò liên kết, hợp tác trong sản xuất và tiêu
thụ sản phẩm có hiệu quả. Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản pháp luật,
quy định về mặt pháp lý hoạt động của các loại doanh nghiệp. Nhà nước ta
nhất quán công nhận sự tồn tại lâu dài và phát triển của công ty, thừa nhận sự
làng nghề.
- Đào tạo nghề mới, nâng cao tay nghề cho lao động gắn với doanh
nghiệp, cơ sở sản xuất CN, TTCN.
- Thành lập các hiệp hội ngành nghề CN, TTCN theo các quy mô.
Năm 2006, Chính phủ đã phê duyệt Chiến lược phát triển ngành TTCN
giai đoạn 2006 – 2015 của Bộ Công nghiệp với mục tiêu cơ bản là phát triển
ngành nghề thủ công phải gắn với phát triển NN, CN và thị trường tiêu thụ
sản phẩm, giải quyết việc làm nâng cao thu nhập cho người lao động.
Như vậy, phát triển ngành TTCN nhằm thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh
tế nông thôn theo hướng CNH - HĐH, tăng tỉ trọng nghề thủ công trong cơ
cấu kinh tế nông thôn, tạo việc làm, tăng thu nhập và giá trị hàng hóa dịch
vụ, cải thiện cuộc sống của người dân nông thôn và bảo tồn giá trị văn hóa dân
tộc của địa phương.
25
Việc phát triển ngành TTCN cần phải đảm bảo 03 tiêu chí sau:
Một là Tiêu chí phát triển về kinh tế: Việc phát triển các ngành nghề phải
đảm bảo tăng năng suất lao động, gia tăng giá trị sản lượng, thu hút lao
động vào ngành nghề phi nông nghiệp, nâng cao thu nhập, thúc đẩy
chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn, thay đổi mô hình sản xuất tiêu
dùng, thông qua:
- Tăng năng suất lao động nhằm giảm chi phí, hạ giá giá thành, nâng
cao sức cạnh tranh của sản phẩm làng nghề.
- Thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động nông thôn theo
hướng CNH-HĐH. Điều này thể hiện qua: Tăng tỷ trọng công nghiệp - TTCN,
dịch vụ, giảm tỷ trọng nông nghiệp; chuyển lao động từ sản xuất nông nghiệp có
thu nhập thấp sang ngành nghề phi nông nghiệp có thu nhập cao hơn; tạo ra một
nền kinh tế đa dạng ở nông thôn với sự thay đổi về cơ cấu, phong phú, đa dạng
về loại hình sản phẩm.