DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết đầy đủ
Công nghiệp hoá, Hiện đại hoá
Hợp tác xã
Hội đồng nhân dân
Kinh tế - xã hội
Kinh tế thị trường
Lực lượng sản xuất
Tổng sản phẩm quốc nội
Quan hệ sản xuất
Uỷ ban nhân dân
Xã hội chủ nghĩa
Chữ viết tắt
CNH, HĐH
HTX
HĐND
KT-XH
KTTT
LLSX
GDP
QHSX
UBND
XHCN
MỤC LỤC
Tran
MỞ ĐẦU
Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN HỢP TÁC XÃ
2.1.
35
Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội tác động đến phát
triển hợp tác xã trên địa bàn huyện Thanh Trì, thành phố
2.2.
Hà Nội
Thành tựu, hạn chế, nguyên nhân và những vấn đề đặt
35
ra cần giải quyết trong phát triển hợp tác xã trên địa bàn
huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội
39
Chương 3. QUAN ĐIỂM CƠ BẢN VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU
PHÁT TRIỂN HỢP TÁC XÃ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN
THANH TRÌ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI THỜI GIAN TỚI
56
3.1.
Những quan điểm cơ bản phát triển hợp tác xã trên địa
56
hiện đường lối đổi mới HTX của Đảng, hầu hết các địa phương đã tập trung
chỉ đạo chuyển đổi HTX kiểu cũ sang HTX kiểu mới cho phù hợp với nền
kinh tế thị trường định hướng XHCN và đặc điểm của hộ kinh tế cá thể dựa
trên quyền tự chủ sản xuất kinh doanh.
Thực hiện Luật HTX năm 2003 và mới đây là Luật HTX năm 2012,
việc phát triển HTX trên địa bàn huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội đã có
những bước phát triển đáng kể, đạt được nhiều thành tựu quan trọng: tạo ra
nhiều việc làm và nâng cao thu nhập cho các thành viên, tăng cường năng lực
cạnh tranh của kinh tế hộ gia đình đặc biệt là kinh tế hộ nông dân và các cơ sở
sản xuất, kinh doanh quy mô vừa và nhỏ, thực hiện các nghĩa vụ vật chất đối
với Nhà nước đóng góp quan trọng vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội
của huyện và thành phố. Bên cạnh đó, các HTX trên địa bàn huyện đã tích
cực, chủ động phổ biến các đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp
luật của Nhà nước, chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho các thành viên,
đảm bảo cuộc sống của các thành viên khi họ già yếu, ốm đau, mất sức
lao động…
Tuy nhiên, trước tác động trong quá trình CNH, HĐH, đô thị hóa nhanh
của thành phố. Phát triển HTX trên địa bàn huyện Thanh Trì, thành phố Hà
3
Nội đang đặt ra nhiều vấn đề cần phải giải quyết: Nhiều HTX làm ăn hiệu quả
kém đang có xu hướng tan rã, việc làm của người lao động chưa bền vững,
thu nhập thấp, đời sống vật chất, tinh thần gặp nhiều khó khăn, lợi ích của các
thành viên không bảo đảm, HTX đang lúng túng trong việc chuyển đổi mô
hình, lĩnh vực hoạt động…
Để bảo đảm đầy đủ và hợp lý các nguồn lực cũng như hệ thống cơ
chế, chính sách hỗ trợ cho phát triển HTX, tạo động lực mạnh mẽ, góp phần
thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của huyện trong giai
đoạn 2015-2020, tác giả lựa chọn vấn đề: “Phát triển hợp tác xã trên địa bàn
đánh giá, phân tích những thành tựu, hạn chế của phong trào HTX Quốc tế
qua gần hai thế kỷ, nêu bật những phương hướng, cách làm, mô hình của các
HTX trên thế giới, từ đó chỉ ra những bài học đối với việc xây dựng và phát
triển HTX ở Việt Nam.
“Đổi mới tổ chức và quản lý hợp tác xã trong nông nghiệp nông
thôn” của Lương Xuân Quỳ, Nguyễn Thế Nhã, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội
năm 1999. Các tác giả đã khái quát bức tranh toàn cảnh quá trình phát triển
của các hình thức tổ chức, quản lý hợp tác xã trong nông thôn Việt Nam từ
giai đoạn trước đến khi chuyển sang KTTT và phân tích thực trạng mô hình tổ
chức quản lý các HTX ở một số địa phương tiêu biểu. Trên cơ sở đó, đề xuất
phương hướng và một số giải pháp chủ yếu để xây dựng mô hình tổ chức có
hiệu quả cho các loại hình HTX.
“Kinh tế hợp tác, hợp tác xã ở Việt Nam - Thực trạng và định hướng
phát triển” của Nguyễn Văn Bình, Chu Tiến Quang, Lưu Văn Sùng, Nxb
Nông nghiệp, Hà Nội năm 2001. Nhóm tác giả đã hệ thống hóa quá trình hình
thành, phát triển các loại hình kinh tế hợp tác, HTX trên thế giới và ở Việt
Nam, chỉ rõ những thành tựu và hạn chế, từ đó đề xuất định hướng phát triển
phù hợp với đường lối đổi mới của Đảng và Nhà nước ta.
“Kinh tế hợp tác trong nông nghiệp nước ta hiện nay” của nhóm tác
giả Phạm Thị Cần, Vũ Văn Phúc, Nguyễn Văn Kỷ, Nxb Chính trị quốc gia,
Hà Nội năm 2003. Các tác giả tập trung trình bày những vấn đề lý luận và
5
thực tiễn về kinh tế hợp tác, HTX; sự cần thiết khách quan phải lựa chọn các
mô hình kinh tế hợp tác, HTX phù hợp với đặc điểm, điều kiện nông nghiệp,
nông thôn nước ta, từ đó đề xuất những giải pháp phát triển các mô hình kinh
tế hợp tác, HTX trong nông nghiệp, nông thôn Việt Nam hiện nay.
* Luận án, luận văn
“Phát triển kinh tế hợp tác ở ngoại thành Thành phố Hồ Chí Minh Thực trạng và giải pháp” Trần Minh Tâm, Luận văn thạc sĩ kinh tế, Đại học
hiện đại hóa ở nước ta” Hồ Văn Vĩnh, Tạp chí Cộng sản, số 8/2005.
“Hợp tác xã nông nghiệp các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long - nhìn từ
thực tiễn” Nguyễn Văn Tuất, Tạp chí Khoa học và chính trị, số 3/2002.
“Về chế độ kinh tế hợp tác xã ở nước ta” Vũ Văn Phúc, Tạp chí Lý
luận chính trị, số 1/2002.
Những bài viết trên của các tác giả nghiên cứu về kinh tế hợp tác, HTX
với nhiều cách tiếp cận khác nhau. Đóng góp khoa học của các bài viết này vào
phát triển kinh tế hợp tác, HTX là bổ ích. Tuy nhiên, trước những biến đổi của
nền KTTT định hướng XHCN và những vấn đề mới đặt ra cho quá trình CNH,
HĐH và đô thị hóa đòi hỏi phải có nhận thức sâu sắc và tổng quát về phát triển
kinh tế HTX, bảo đảm sự phát triển đúng định hướng XHCN, phục vụ có hiệu
quả CNH, HĐH và đô thị hóa. Đồng thời, góp phần củng cố nền quốc phòng an ninh. Tuy nhiên, ở phạm vi địa phương, theo nhận biết của tác giả, đến nay
chưa có đề tài, công trình khoa học nào nghiên cứu vấn đề phát triển HTX trên
địa bàn huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội dưới dạng một luận văn khoa học
kinh tế chính trị. Để thực hiện đề tài này, tác giả có lựa chọn và kế thừa một số
kết quả nghiên cứu đã được công bố, kết hợp khảo sát thực tiễn phát triển HTX
trên địa bàn huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội trong những năm qua để phân
tích, từ đó đưa ra các giải pháp phù hợp với tình hình thực tế của địa phương trên
cơ sở đường lối, quan điểm, chủ trương, chính sách phát triển kinh tế - xã hội nói
chung, phát triển HTX nói riêng của Đảng, Nhà nước, thành phố Hà Nội và của
huyện Thanh Trì. Do đó, đề tài tác giả lựa chọn không trùng lắp với các công
trình nghiên cứu khác.
7
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
* Mục đích nghiên cứu
Luận giải cơ sở lý luận và thực tiễn phát triển HTX ở huyện Thanh Trì,
thành phố Hà Nội trên cơ sở đó đề xuất quan điểm và giải pháp nhằm phát triển
HTX trên địa bàn huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội trong thời gian tới.
chính trị Mác - Lênin: Trừu tượng hóa khoa học, kết hợp lôgíc và lịch sử,
phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh và phương pháp chuyên gia.
6. Ý nghĩa của đề tài
- Luận văn được thực hiện thành công góp phần cung cấp thêm cơ sở
khoa học cho việc phát triển Hợp tác xã trên địa bàn huyện Thanh Trì,
thành phố Hà Nội.
- Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo,
nghiên cứu cho chính quyền địa phương huyện và những người cần quan tâm.
7. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,
luận văn kết cấu thành 3 chương (7 tiết).
9
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN HỢP TÁC XÃ
TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN THANH TRÌ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
1.1. Hợp tác xã và phát triển hợp tác xã
1.1.1. Hợp tác xã
* Hợp tác
Là sự kết hợp sức mạnh của các cá nhân hoặc tổ chức để tạo nên sức
mạnh tổng hợp lớn hơn, để thực hiện những công việc của mỗi cá nhân, tổ
chức nhằm đạt được mục đích đề ra mà mỗi cá nhân, tổ chức hoạt động riêng
lẻ sẽ gặp khó khăn, thậm chí không thể thực hiện được, hoặc thực hiện kém
hiệu quả so với hợp tác.
* Kinh tế hợp tác
Là một hình thức quan hệ kinh tế, hợp tác tự nguyện, phối hợp, hỗ trợ,
giúp đỡ lẫn nhau giữa các chủ thể kinh tế để kết hợp sức mạnh của từng thành
HTX dưới nhiều khía cạnh, đặt biệt là mục đích thành lập, quan hệ sở hữu và
quyền lực, quan hệ kinh tế và quan hệ phân phối trong HTX.
* Bản chất của hợp tác xã
Một là, mục đích thành lập nhằm tối đa hóa lợi ích của thành viên
HTX là tổ chức do các thành viên tự nguyện hợp tác, thành lập nhằm
tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau, đáp ứng nhu cầu chung về sản phẩm, dịch vụ cho
chính mình và hợp thành khu vực thứ 3 của nền kinh tế quốc dân, bên cạnh
khu vực công và khu vực tư. Thành viên thành lập HTX cùng nhau bàn bạc,
thảo luận tìm cách thỏa mãn nhu cầu chung một cách tốt nhất. Nhu cầu chung
của thành viên được định nghĩa như sau: “Nhu cầu chung của thành viên là
nhu cầu sử dụng sản phẩm, dịch vụ giống nhau phát sinh thường xuyên, ổn
định từ hoạt động sản xuất, kinh doanh, đời sống của thành viên, hợp tác xã
thành viên. Đối với hợp tác xã tạo việc làm thì nhu cầu chung của thành viên
là nhu cầu việc làm của thành viên trong hợp tác xã do hợp tác xã tạo ra”
(Điều 4, khoản 1). Thông qua hoạt động như: mua chung sản phẩm, dịch vụ
11
từ thị trường để phục vụ cho thành viên, bán chung sản phẩm, dịch vụ của
thành viên ra thị trường, chế biến sản phẩm của thành viên, hợp tác xã thành
viên, cung ứng phương tiện, kết cấu hạ tầng kinh tế - kỹ thuật, kinh tế - xã hội
phục vụ thành viên, tín dụng cho thành viên, tạo việc làm cho thành viên đối
với hợp tác xã tạo việc làm (Điều 4, khoản 6), thành viên tiết kiệm được chi
phí sản xuất, nâng cao hiệu quả sản xuất và sức cạnh tranh của sản phẩm do
mình làm ra. Như vậy, sứ mệnh quan trọng nhất của hợp tác xã không phải là
tối đa hoá lợi nhuận, mà là tối đa hóa lợi ích trước mắt và lâu dài của thành
viên bằng cách đáp ứng nhu cầu chung của thành viên về sản phẩm, dịch vụ,
hoặc tạo việc làm và nâng cao thu nhập cho thành viên một cách hiệu quả
hơn, điều mà từng thành viên đơn lẻ không thực hiện được hoặc thực hiện
kém hiệu quả trong điều kiện KTTT. Đặc tính này làm nổi bật sự khác biệt cơ
mô hình công ty mang tính chất “trọng vốn”. Ở công ty cổ phần, các cổ đông
thể hiện quyền làm chủ của mình theo nguyên tắc “mỗi cổ phiếu, một phiếu
bầu”. Điều này có nghĩa là cổ đông nào càng nắm giữ nhiều cổ phiếu thì càng
có nhiều quyền lực trong biểu quyết. Ngược lại, nguyên tắc bình đẳng trong
HTX là rào cản giữa thế lực đồng tiền và quyền lực trong ra quyết định.
Trong HTX, một phần (không phải tất cả) vốn chủ sở hữu là tài sản
không chia. “Tài sản không chia là một bộ phận tài sản của HTX, không được
chia cho thành viên khi chấm dứt tư cách thành viên hoặc khi HTX chấm dứt
hoạt động” (Điều 4, khoản 4), “Tài sản không chia của HTX bao gồm: Quyền
sử dụng đất do Nhà nước giao đất, cho thuê đất; Khoản trợ cấp, hỗ trợ không
hoàn lại của Nhà nước; khoản được tặng, cho theo thỏa thuận là tài sản không
chia; phần trích lại từ quỹ đầu tư phát triển hằng năm được đại hội thành viên
quyết định đưa vào tài sản không chia; vốn, tài sản khác được Điều lệ quy
định là tài sản không chia” (Điều 48).
Tài sản không chia của HTX mang tính chất bất khả chuyển nhượng
nhằm bảo đảm sự tồn tại liên tục của HTX và chống lại bất cứ sự mua bán cơ
hội nào. Điều này có nghĩa là khi nào HTX còn đủ điều kiện để hoạt động thì
13
không ai có thể bán hay chuyển nhượng HTX được. Tài sản không chia còn là
di sản của HTX dành cho thế hệ tương lai. Đây là đặc điểm mang tính nhân
văn, đề cao giá trị cộng đồng và tính sở hữu chung của HTX. Tài sản không
chia được hình thành và phát triển không có mục đích tự thân, mà hướng đến
việc phục vụ có hiệu quả nhu cầu chung, lâu dài của thành viên. Ngược lại, ở
công ty cổ phần, tất cả tài sản thuộc về cổ đông, tương ứng với tỷ lệ số lượng
cổ phần mà cổ đông sở hữu trong tổng vốn sở hữu chủ của công ty. Việc mua
bán, chuyển nhượng công ty xảy ra như là một hiện tượng bình thường và
ngày càng trở nên phổ biến trong nền KTTT.
Ba là, quan hệ kinh tế dựa trên cơ sở đồng sở hữu hợp tác xã trên
Xét dưới góc độ kinh tế, cộng đồng thành viên chính là thị trường chính
của HTX. HTX có càng nhiều thành viên thì càng có thị phần rộng lớn, lượng
khách hàng trung thành càng cao. Lúc này, HTX hoạt động càng có hiệu quả
hơn nhờ vào lợi thế về số lượng thành viên. Để gia tăng số lượng thành viên khách hàng, nhiều HTX thường mở rộng thị trường nội bộ bằng cách mở rộng
địa bàn hoạt động, thu hút và kết nạp thêm nhiều thành viên mới hoặc bằng
cách liên kết, sáp nhập hoặc hợp nhất các HTX lại với nhau.
Xét về mặt xã hội, cộng đồng thành viên càng lớn thì HTX càng có lợi
thế trong việc phát huy tinh thần hợp tác, tinh thần tự quản, mở rộng dân chủ,
nâng cao hiệu quả sinh hoạt văn hóa, cộng đồng. Nguyên tắc “mở” luôn được
xem là nguyên tắc quan trọng nhất, đưa lên làm nguyên tắc đầu tiên, cùng với
“tính tự nguyện” trong suốt thời gian tồn tại và phát triển của HTX. Ngày nay,
trong bối cảnh hội nhập quốc tế, “tính mở” của HTX đã xóa nhòa ranh giới
hành chính của HTX. Như nhiều loại hình doanh nghiệp khác, HTX không
nhất thiết phải bó hẹp trong địa bàn dân cư hay vùng, lãnh thổ. “Tính mở” của
hợp tác xã cũng xóa bỏ tình trạng một người chỉ có thể là thành viên của một
HTX như trước kia.
Bốn là, quan hệ phân phối dựa trên cơ sở giao dịch nhiều, hưởng lợi
nhiều theo nguyên tắc công bằng
Điều 7, khoản 5 quy định “thu nhập của HTX được phân phối chủ yếu
theo mức độ sử dụng sản phẩm, dịch vụ của thành viên, HTX thành viên hoặc
15
theo công sức lao động đóng góp của thành viên đối với HTX tạo việc làm”.
Thu nhập là khái niệm chỉ phần tiền chênh lệch giữa doanh thu và chi phí
trong HTX và khái niệm tương ứng trong doanh nghiệp là “lợi nhuận” hay
“lãi”, “Mức độ sử dụng sản phẩm, dịch vụ của thành viên là tỷ lệ giá trị sản
phẩm, dịch vụ mà từng thành viên sử dụng trên tổng giá trị sản phẩm, dịch vụ
do HTX cung ứng cho tất cả thành viên. Đối với HTX tạo việc làm thì mức
độ sử dụng sản phẩm, dịch vụ được thể hiện bằng tỷ lệ tiền lương của từng
ty cổ phần, cổ đông là những nhà đầu tư. Họ không cần giao dịch với công ty.
Động cơ duy nhất của cổ đông là cổ tức, được phân phối theo số lượng cổ
phiếu mà cổ đông sở hữu. Ở nước ta hiện nay, hiện tượng một số HTX đề cao
tính lợi nhuận và phân phối theo vốn góp đang làm xói mòn bản chất HTX.
Nếu HTX áp dụng cách phân chia lợi nhuận giống như ở công ty cổ phần, tức
là lãi được chia theo số lượng vốn góp, thì thành viên sẽ trông chờ vào “phần
chia lợi nhuận” mà không cần giao dịch với HTX (không sử dụng dịch vụ của
HTX). Điều này làm biến chất của HTX, hướng đến loại hình công ty thuần
túy vì mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận.
Tóm lại, xét cả khía cạnh lý luận và thực tiễn, HTX là sản phẩm tất yếu
của nền KTTT. KTTT càng phát triển, sự cạnh tranh càng gay gắt buộc những
người lao động riêng lẻ, hộ cá thể càng phải hợp tác với nhau để tồn tại và
phát triển. Xã hội càng phát triển thì nhu cầu hợp tác càng cấp thiết hơn, hình
thức hợp tác càng đa dạng hơn, nội dung hợp tác trở nên phong phú hơn. Đây
chính là cơ sở, động lực thúc đẩy HTX phát triển. Một số thành công của mô
hình HTX gợi mở một niềm tin rằng, với vai trò kép: HTX vừa là hiệp hội
mang tính kinh tế vừa là doanh nghiệp mang tính xã hội, HTX có thể hoạt
động tốt như bất kỳ doanh nghiệp nào. Thậm chí HTX có thể hoạt động tốt
hơn doanh nghiệp, nếu những thành viên am hiểu tường tận, tôn trọng và phát
huy bản chất của HTX, biết cách sử dụng và khai thác công cụ kinh tế tập thể
độc đáo này.
17
* Các loại hình hợp tác xã
Căn cứ vào Luật Hợp tác xã (sửa đổi) số 23/2012/QH13 đã được Quốc
hội thông qua ngày 20 tháng 11 năm 2012 tại kỳ họp thứ 4 Khóa XIII, được
Chủ tịch nước ký Lệnh về việc Công bố Luật Hợp tác xã, Liên hiệp hợp tác
xã ngày 03 tháng 12 năm 2012 và bắt đầu có hiệu lực kể từ ngày 01/07/2013.
HTX được hình thành, xây dựng, phát triển ở tất cả các ngành, các vùng, các
9.000 xã của cả nước, với số hộ xã viên chiếm khoảng 4-5% hộ nông dân cả
nước thì mô hình HTX hiện nay không thể đóng vai trò dẫn dắt nông nghiệp
Việt Nam đi lên trong thời kỳ cạnh tranh toàn cầu.
Sau 60 năm phát triển mô hình kinh tế hợp tác, tuy những năm gần đây
có gia tăng về số lượng, song về tổng thể không thể tiếp tục quản lý nhà nước,
quản lý từng HTX như thời gian qua mà cần phải có tư duy mới về kinh tế
hợp tác và có bước đột phá về hiệu quả kinh tế, nâng cao đáng kể thu nhập
của xã viên so với người không vào HTX, nâng cao tỷ lệ đóng góp của khu
vực kinh tế hợp tác trong tổng thể nền kinh tế quốc dân. Dự thảo Báo cáo
tổng kết của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về một số vấn đề lý
luận và thực tiễn 30 năm đổi mới nêu rõ: "Kinh tế tập thể hiện nay rất yếu (chỉ
chiếm 5-6% GDP), vậy đến bao giờ nó mới cùng kinh tế nhà nước đóng vai
trò nền tảng? Cần có tư duy mới về kinh tế tập thể, cần nghiên cứu về phát
triển HTX".
1.2. Quan niệm, nội dung và sự cần thiết phát triển hợp tác xã trên
địa bàn huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội
1.2.1. Quan niệm về phát triển Hợp tác xã nông nghiệp trên địa bàn
huyện Thanh Trì
* Quan niệm
Theo quan điểm của Chủ nghĩa Mác - Lênin, phát triển là một quá trình
vận động từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ chưa hoàn thiện đến
ngày càng hoàn thiện. Phát triển HTX là quá trình biến đổi lâu dài của HTX
trong phát triển kinh tế - xã hội. Thực chất của sự phát triển là khả năng thích
ứng của HTX trong mọi kiểu tổ chức sản xuất xã hội. Do đó, phát triển HTX
21
không chỉ tăng lên về mặt số lượng, cơ cấu mà điều quan trọng là tăng lên về
mặt chất lượng, trong quá trình phát sinh, phát triển của nó.
Từ sự tiếp cận trên, dưới góc độ kinh tế chính trị, tác giả cho rằng: Phát
Nội dung phát triển HTX trên địa bàn huyện là củng cố, duy trì và phát
triển các loại hình HTX về số lượng, chất lượng đáp ứng được với mục tiêu,
yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn huyện nói riêng cũng như toàn
thành phố Hà Nội nói chung.
Phát triển HTX trên địa bàn huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội hiện
nay, bao gồm: phát triển số lượng; chất lượng; cơ cấu HTX trong các ngành,
các vùng, các thành phần kinh tế. Về số lượng, phát triển mạnh mạng lưới
và số lượng HTX tham gia sản xuất; HTX tham gia sản xuất kết hợp với
dịch vụ; HTX tham gia hoạt động dịch vụ trong các ngành công nghiệp,
nông nghiệp, thương nghiệp, tín dụng trên địa bàn huyện Thanh Trì. Về
chất lượng, thông qua việc đầu tư vốn, lao động, công nghệ, kỹ thuật… của
các HTX nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả sản xuất, sản xuất
kết hợp với dịch vụ, hoạt động dịch vụ của HTX đáp ứng tốt nhất nhu cầu
của các thành viên và xã hội. Trên cơ sở đó, tạo việc làm, giảm chi phí sản
xuất, nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm, nâng cao thu nhập, trình độ
và đời sống vật chất, tinh thần tiến tới mục tiêu tối đa hóa lợi ích của các
thành viên, góp phần phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn huyện Thanh
Trì. Về cơ cấu, đó chính là sự phù hợp về số lượng, chất lượng của các
HTX trong các ngành công nghiệp, nông nghiệp, thương nghiệp, tín dụng,
dịch vụ… đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế tập thể nói riêng, kinh tế - xã
hội nói chung trên địa bàn huyện Thanh Trì. Cụ thể, với yêu cầu cao của
KTTT sẽ dẫn đến hình thành, phát triển đa dạng hóa mô hình HTX với các
hình thức hoạt động khác nhau đáp ứng tốt nhất nhu cầu của sản xuất nông
nghiệp, công nghiệp, dịch vụ như HTX sản xuất; HTX dịch vụ; HTX tạo
việc làm; HTX sản xuất kết hợp với dịch vụ…
23
1.2.2. Sự cần thiết phát triển hợp tác xã trên địa bàn huyện Thanh
cấu kinh tế trong quá trình CNH, HĐH, đô thị hóa trên địa bàn huyện Thanh Trì
Phát triển KTTT định hướng XHCN chính là phát triển nền kinh tế
hàng hóa nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của
Nhà nước theo định hướng XHCN. Trong đó, kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ
đạo, kinh tế Nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng
vững chắc của nền kinh tế quốc dân. Do vậy, phát triển kinh tế tập thể là đòi
hỏi khách quan, yêu cầu cấp thiết trong đẩy mạnh CNH, HĐH và hội nhập
kinh tế quốc tế hiện nay. Phát triển kinh tế tập thể góp phần thúc đẩy phát
triển kinh tế - chính trị - xã hội, tăng cường tiềm lực quốc phòng – an ninh,
giữ vững định hướng XHCN của nền kinh tế. Phát triển kinh tế tập thể, trọng
tâm là phát triển HTX, yếu tố cấu thành nòng cốt của kinh tế tập thể. Phát
triển HTX sẽ là cơ sở, động lực thúc đẩy phát triển LLSX cùng với củng cố,
hoàn thiện quan hệ sản xuất XHCN. Chính điều này, lại tạo tiền đề cho phát
triển kinh tế tập thể.
Thành phố Hà Nội nói chung, huyện Thanh Trì nói riêng đang trong
quá trình đẩy mạnh CNH, HĐH, đô thị hóa, phát triển kinh tế theo xu hướng
đẩy mạnh phát triển kinh tế dịch vụ, công nghiệp - xây dựng. Nghị quyết Đại
hội Đảng bộ thành phố lần thứ XV (nhiệm kì 2010 – 2015) chỉ rõ mục tiêu cơ
cấu kinh tế của thành phố đến 2015 là: dịch vụ (54-55%); công nghiệp - xây
dựng (41-42%); nông nghiệp (3,0-4,0%). Để đạt được mục tiêu trên đòi hỏi sự
nỗ lực, cố gắng, phấn đấu của tất cả các cấp, các ngành, các thành phần kinh
tế, các địa phương trên địa bàn thành phố Hà Nội, trong đó có sự nỗ lực, phấn
đấu của Đảng bộ, chính quyền, các đoàn thể và nhân dân huyện Thanh Trì
trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế trên địa bàn huyện.
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế của huyện Thanh Trì là chuyển dịch cơ cấu
ngành, cơ cấu vùng, cơ cấu các thành phần kinh tế trên địa bàn. Điều này đồng
nghĩa, kéo theo chuyển dịch cơ cấu lao động, cơ cấu việc làm, cơ cấu thu nhập
và mức sống của nhân dân. Quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế của huyện
25