MỤC LỤC
Tran
g
3
MỞ ĐẦU
Chương 1: CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU LAO ĐỘNG THEO NGÀNH
TRÊN ĐỊA BÀN CẤP TỈNH - CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH
1.1.
1.2.
NGHIỆM CỦA MỘT SỐ ĐỊA PHƯƠNG
Cơ cấu lao động và chuyển dịch cơ cấu lao động theo ngành
Khái niệm, nội dung, chỉ tiêu đánh giá và các nhân tố ảnh
12
12
hưởng tới chuyển dịch cơ cấu lao động theo ngành trên địa
bàn cấp tỉnh
Kinh nghiệm chuyển dịch cơ cấu lao động theo ngành ở một
16
số địa phương và bài học rút ra cho tỉnh Thái Bình
Chương 2: THỰC TRẠNG CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU LAO ĐỘNG
26
1.3.
3.2.
tỉnh Thái Bình
Các giải pháp chủ yếu đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu lao
động theo ngành ở tỉnh Thái Bình
70
93
94
99
KẾT LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Chuyển dịch cơ cấu lao động là sự vận động chuyển hoá từ cơ cấu lao
động cũ sang cơ cấu lao động mới phù hợp hơn với quá trình phát triển kinh
tế xã hội và trình độ phát triển nguồn lực của đất nước. Sự chuyển hoá này
luôn diễn ra theo qui luật phát triển không ngừng của xã hội. Chuyển dịch cơ
cấu lao động có ý nghĩa, vai trò quan trọng đối với chuyển dịch cơ cấu kinh
tế. Chuyển dịch cơ cấu lao động (CCLĐ) được coi là một trong những nhiệm
vụ quan trọng, phục vụ đắc lực cho chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nó vừa là kết
quả, vừa là yếu tố thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đẩy mạnh công nghiệp
hóa - hiện đại hóa và góp phần cân đối lại cung - cầu trên thị trường lao
động,.. Chuyển dịch cơ cấu lao động không chỉ tuân theo các quy luật kinh tế,
mà còn nhằm vào các mục tiêu phát triển kinh tế bền vững, ổn định xã hội, cải
tỉnh Thái Bình hiện nay” đã có một số công trình khoa học nghiên cứu công
bố dưới dạng luận văn, luận án và các công trình nghiên cứu như:
* Các công trình nghiên cứu về chuyển dịch cơ cấu lao động nói chung
- Tác giả Lê Doãn Khải (2001), Quá trình chuyển dịch CCLĐ theo
hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở vùng đồng bằng Bắc Bộ, Luận án
Tiến sĩ kinh tế, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh. Luận án đã đưa ra
các khái niệm và nội dung của CCLĐ trong nông nghiệp, nông thôn; các nội
dung về công nghiệp hóa- hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn; các nhân tố
và chỉ tiêu đánh giá quá trình chuyển dịch CCLĐ theo hướng công nghiệp
hóa- hiện đại hóa trong nông nghiệp, nông thôn nước ta. Tác giả phân tích
thực trạng chuyển dịch CCLĐ theo hướng công nghiệp hóa- hiện đại hóa
trong nông nghiệp, nông thôn vùng đồng bằng Bắc bộ và nguyên nhân của
thực trạng này. Đây là nghiên cứu khá đầy đủ, toàn diện về thực trạng chuyển
dịch CCLĐ trong vùng, tuy nhiên tác giả cũng chỉ đưa ra được hiệu quả của
quá trình chuyển dịch CCLĐ này đã làm thay đổi về chất lượng của nguồn lao
động trong vùng như thế nào, năng suất lao động và thu nhập của người lao
động trong vùng tăng lên ra sao?
4
- Các tác giả Trần Gia Long, Bùi Hồng Đăng, Đinh Hải Chung, Đinh
Văn Doãn (2010), Một số giải pháp chuyển dịch CCLĐ nông thôn khi thu hồi
đất nông nghiệp, Tạp chí Nông nghiệp và PTNT, (Kỳ 2), tháng 8. Đề tài đã sử
dụng khung phân tích với một số chỉ tiêu đánh giá đất đai, lao động, việc làm ở
nông thôn trên những nội dung tiếp cận thuận lợi, khó khăn, cơ hội, thách thức,
xu hướng. Qua đó thấy được thực trạng lao động nông thôn khi thu hồi đất là
mỗi héc ta đất bị thu hồi có 13 lao động mất việc làm và một số người di cư
xuất phát từ nông thôn chiếm 73% tổng số người di cư,… và dẫn đến một tất
yếu là tỷ lệ LĐNN giảm còn tỷ lệ lao động phi nông nghiệp tăng dần trong
CCLĐ nông thôn. Công trình nghiên cứu này có sử dụng số liệu điều tra một số
hình thức khác nhau, kể cả dịch chuyển sang nội tỉnh, trong nội vùng và ra
ngoài vùng, cả di chuyển dài hạn và di chuyển theo thời vụ. Tác giả cũng dự
báo số lao động cần chuyển ra khỏi khu vực nông nghiệp đến năm 2010 và đề
ra một số giải pháp chính để thúc đẩy quá trình chuyển dịch LĐNN sang phi
nông nghiệp; Thực hiện đồng bộ các chương trình xóa đói giảm nghèo; Mở
rộng và phát triển các cơ sở sản xuất dịch vụ ở nông thôn;…
- Nguyễn Tiệp (2010), Chuyển dịch CCLĐ ở Việt Nam, thực trạng và
khuyến nghị, Tạp chí Kinh tế và Phát triển, (1). Đã chỉ rõ chất lượng chuyển
dịch CCLĐ ở nước ta những năm qua còn thấp, biểu hiện rõ nhất ở năng suất
lao động trong các ngành còn khá thấp. Tiếp đó là hệ số co dãn việc làm trong
các ngành khá thấp, nhất là ngành N,L,TS, khi tổng vốn đầu tư toàn xã hội
tăng 1% thì số việc làm tăng thêm 0,38%, trong đó, ngành CN- XD khi tăng
tổng vốn đầu tư xã hội tăng 1% thì số việc làm tăng thêm 0,82%; ngành TMDV tăng là 0,48%; trong khi đó ngành N,L,TS lại giảm đi -0,13%. Tác giả
phân tích các yếu tố cản trở quá trình chuyển dịch CCLĐ là do tăng trưởng
kinh tế còn thấp so với yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước; Chất lượng tăng trưởng kinh tế những năm qua ở nước ta chủ yếu theo
chiều rộng; Cơ cấu đầu tư còn nhiều hạn chế, chủ yếu vào các ngành gia
công, ngành công nghiệp khai thác,…
6
* Các công trình nghiên cứu về chuyển dịch cơ cấu lao động theo
ngành ở phạm vi cấp tỉnh
- Đỗ Tuấn Sơn (2007), Định hướng và giải pháp chuyển dịch CCLĐ
theo ngành trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh đến năm 2020, Luận văn thạc sỹ kinh
tế, Trường Đại học kinh tế quốc dân. Đề tài đã khái quát một số vấn đề cơ bản
về CCLĐ theo ngành thông qua việc phân tích mối quan hệ giữa chuyển dịch
CCLĐ theo ngành và chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành, xu hướng chuyển
dịch CCLĐ theo ngành, các tiêu chí đánh giá chuyển dịch CCLĐ theo ngành,
… Trên cơ sở đó, tác giả phân tích thực trạng chuyển dịch CCLĐ theo ngành
vực nông nghiêp, công nghiệp-xây dựng và dịch vụ, song về tỷ trọng khu vực
dịch vụ đang giảm mạnh, do vậy đã không tác động tích cực đến chuyển dịch
CCLĐ; Chuyển dịch CCLĐ - việc làm ở thành phố rất chậm và không ổn
định trong khi dân số đang chuyển từ giai đoạn cơ cấu dân số trẻ sang cơ cấu
dân số vàng; Cơ cấu đào tạo tuy có chuyển biến nhưng còn chậm, chưa phù
hợp với một thành phố phát triển theo hướng công nghiệp. Xuất phát từ
những thực trạng trên, tác giả đề xuất một số giải pháp cụ thể như: Phải coi
chiến lược đào tạo việc làm và chuyển dịch CCLĐ là một cấu thành quan
trọng trong chiến lược cơ cấu kinh tế; Cần có những định hướng trong thu hút
đầu tư và hướng đến ưu tiên đầu tư phát triển những ngành sử dụng nhiều lao
động, đặc biệt coi trọng phát triển kinh tế dịch vụ, công nghiệp chế biến thủy
sản,…; Phát huy lợi thế trong thu hút đầu tư của thành phố cho phát triển
mạnh hệ thống dạy nghề; Phát triển nhanh đội ngũ giáo viên dạy nghề cả về
số lượng và chất lượng, xây dựng và ban hành hệ thống giáo trình chuẩn, tăng
cường công tác thanh tra, kiểm tra,…
- Phạm Hồng Thắng (2010), Chuyển dịch CCLĐ ở tỉnh Hà Nam trong
quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Luận văn thạc sỹ kinh tế, Học viện
Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh. Đề tài đã nêu lên bản chất của
sự chuyển dịch CCLĐ trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phân
tích những yếu tố ảnh hưởng đến chuyển dịch CCLĐ đó là vốn đầu tư, tiến bộ
8
khoa học kỹ thuật, vai trò của Nhà nước và người lao động. Từ kinh nghiệm
chuyển dịch CCLĐ ở một số quốc gia châu Á, tác giả chỉ ra các nguyên nhân
cản trở quá trình chuyển dịch CCLĐ ở tỉnh là do: mức độ phát triển các khu
công nghiệp, CCN ở tỉnh chậm; tỷ lệ thất nghiệp khu vực thành thị của tỉnh
còn cao; cơ chế chính sách thu hút đầu tư “chưa thật sự cởi mở, hấp dẫn”;
hoạt động thương mại, du lịch, dịch vụ phát triển chưa tương xứng với tiềm
năng thế mạnh của tỉnh; công tác đào tạo nguồn nhân lực còn nhiều yếu kém
đến đề tài Luận văn, tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu vấn đề
chuyển dịch cơ cấu lao động theo ngành của tỉnh Thái Bình dưới góc độ Kinh
tế chính trị.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1.Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn về chuyển dịch cơ
cấu lao động theo ngành, Luận văn đề xuất một số giải pháp thúc đẩy nhanh
quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động theo ngành trên địa bàn tỉnh Thái Bình.
3.2.Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên, luận văn thực hiện các nhiệm vụ sau:
- Luận giải một số vấn đề lý luận cơ bản về chuyển dịch CCLĐ theo
ngành ở địa bàn cấp tỉnh;
- Phân tích thực trạng chuyển dịch CCLĐ theo ngành ở tỉnh Thái Bình;
- Đề xuất quan điểm và giải pháp cơ bản thúc đẩy chuyển dịch CCLĐ
theo ngành phù hợp với chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1.Đối tượng nghiên cứu
Quá trình chuyển dịch CCLĐ theo ngành tại tỉnh Thái Bình.
4.2.Phạm vi nghiên cứu
Đề tài chỉ nghiên cứu và đưa ra những quan điểm giải pháp cơ bản, liên
quan đến chuyển dịch CCLĐ trong phát triển ngành ở tỉnh Thái Bình trong
giai đoạn hiện nay.
10
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1.Phương pháp luận
Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện
chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin; Đường lối, chính sách
và quan điểm của Đảng và Nhà nước Việt Nam
quan hệ giữa các bộ phận đó trong tổng lao động xã hội. Đặc trưng của CCLĐ
là mối quan hệ tỷ lệ về mặt số lượng lao động theo những tiêu chí nhất định.
CCLĐ thường được xem xét ở các khía cạnh sau:
Một là trong bản thân người lao động, gồm:
CCLĐ theo giới tính và độ tuổi: Dưới góc độ này, LLLĐ được chia
thành lao động nam, lao động nữ, lao động trong độ tuổi và ngoài độ tuổi theo
qui định của pháp luật lao động, trong đó, lao động ngoài độ tuổi bao gồm lao
động trên và dưới tuổi lao động có khả năng và thực tế tham gia lao động đã
được qui đổi thành lao động tiêu chuẩn.
CCLĐ theo trình độ chuyên môn kỹ thuật: Là quan hệ tỷ lệ cũng như xu
hướng biến động giữa các loại lao động có trình độ CMKT khác nhau. Đây là
tiêu chí cho biết trình độ phát triển về chất lượng của nguồn lao động và cũng
là chỉ tiêu chất lượng để đánh giá trình độ công nghiệp hóa, hiện đại hóa hoạt
động lao động. Theo đó, có cơ cấu theo trình độ văn hóa và cơ cấu theo trình
độ CMKT.
Hai là theo ngành kinh t ế:
CCLĐ theo nhóm ngành kinh tế: Là CCLĐ biểu hiện quan hệ tỷ lệ cũng
như xu hướng vận động của lao động trong các ngành nghề khác nhau, ở các
lĩnh vực kinh tế. CCLĐ theo ngành kinh tế được xác định trên kết quả của sự
phân công lao động theo ngành trong nền kinh tế. Nếu xác định CCLĐ theo
12
nhóm ngành hay lĩnh vực kinh tế bao gồm LĐNN, lao động CN - XD, lao
động DV. Lĩnh vực kinh tế bao gồm các ngành kinh tế có tính chất tương
đồng nhau được nhóm lại
CCLĐ theo nội bộ ngành: là CCLĐ trong nội bộ từng ngành, từng lĩnh
vực. Lao động được phân chia thành những bộ phận ở những ngành hẹp hơn,
chẳng hạn trong lnh vực nông, lâm, ngư nghiệp bao gồm lao động ngành nông
nghiệp, lao động ngành lâm nghiệp, lao động ngành thủy sản, lao động ngành
CCLĐ theo vùng lại chính là sự thể hiện của CCLĐ theo ngành, nghề trên
vùng lãnh thổ đó.
Năm là CCLĐ theo yếu tố sử dụng nguồn:
Đây là cơ cấu hình thành trên cơ sở căn cứ vào mức độ tham gia lao
động của các bộ phận hợp thành nguồn lao động, theo đó CCLĐ sẽ bao gồm
dân số hoạt động kinh tế thường xuyên LLLĐ và dân số không hoạt động
kinh tế thường xuyên (không có nhu cầu làm việc).
1.1.2. Chuyển dịch cơ cấu lao động và chuyển dịch cơ cấu lao động
theo ngành
* Chuyển dịch cơ cấu lao động
Theo Giáo trình Kinh tế nguồn nhân lực, trường Đại học kinh tế quốc
dân: “Chuyển dịch CCLĐ là quá trình thay đổi tỷ trọng và chất lượng lao
động vào các ngành và các vùng khác nhau. Chuyển dịch CCLĐ theo hướng
tiến bộ là quá trình thay đổi tỷ trọng và chất lượng lao động vào các ngành,
các vùng theo xu hướng hợp lý nhằm sử dụng đầy đủ và có hiệu quả cao các
nguồn nhân lực để tăng trưởng và phát triển kinh tế”[38, tr.73].
Theo PGS.TS Lê Xuân Bá, “Chuyển dịch CCLĐ là quá trình biến đổi,
chuyển hóa khách quan từ CCLD cũ sang CCLĐ mới tiến bộ hơn, phù hợp
với cơ cấu kinh tế trong một thời kỳ nhất định”[2, tr.8].
Theo PGS.TS Nguyễn Tiệp, “Chuyển dịch CCLĐ là sự thay đổi trong
quan hệ tỷ lệ, cũng như xu hướng vận động của các bộ phận cấu thành nên
nguồn nhân lực, được diễn ra trong một trong một không gian, thời gian và
14
theo một chiều hướng nhất định. Đó là quá trình tổ chức và phân công lại lực
lượng lao động, qua đó làm thay đổi quan hệ tỷ lệ giữa các bộ phận của
nguồn nhân lực”[31, tr.332] .
Chuyển dịch CCLĐ bao gồm: Một làChuyển dịch cơ cấu cung lao động
theo hướng thay đổi cơ cấu số lượng và chất lượng lao động đáp ứng yêu cầu
động trong ba ngành hợp thành: ngành nông nghiệp, ngành lâm nghiệp và
ngành nuôi trồng thuỷ sản. Trong mỗi ngành trên, số lao động có thể tăng lên
hay giảm xuống nhưng xét trên cả 3 ngành thì số lao động giảm đi. Như vậy,
ở đây đã có sự thay đổi về lao động của từng ngành hợp thành so với tổng số
lao động của ngành nông nghiệp, đây chính là sự thay đổi về CCLĐ trong nội
bộ ngành nông nghiệp.
Giữa chuyển dịch CCLĐ nội bộ ngành và chuyển dịch CCLĐ ngành có
mối quan hệ mật thiết với nhau. Quá trình chuyển dịch CCLĐ theo ngành gắn
liền với sự thay đổi cấu trúc lao động trong nội bộ mỗi ngành. Hơn nữa, quá
trình chuyển dịch CCLĐ theo ngành còn làm thay đổi chất lượng lao động trong
từng ngành. Mỗi ngành này đều có những đặc tính riêng, do đó đặc điểm sử
dụng lao động của các ngành khác nhau, đặc biệt là trình độ của lao động. Do
vậy, quá trình chuyển dịch CCLĐ dẫn đến sự di chuyển về lao động và sự di
chuyển này kéo theo sự thay đổi về chất lượng lao động của từng ngành.
1.2. Khái niệm, nội dung, chỉ tiêu đánh giá và các nhân tố ảnh hưởng tới
chuyển dịch cơ cấu lao động theo ngành trên địa bàn cấp tỉnh
1.2.1. Khái niệm, nội dung chuyển dịch cơ cấu lao động theo ngành
trên địa bàn cấp tỉnh
Từ những phân tích trên, theo chúng tôi, chuyển dịch cơ cấu lao động
theo ngành trên địa bàn cấp tỉnh là quá trình thay đổi tỷ trọng và chất lượng lao
động vào các ngành khác nhau, diễn ra trên địa bàn tỉnh theo thời gian nhất
định, phù hợp với định hướng, mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của tỉnh.
Như vậy có thể nói: chuyển dịch CCLĐ theo ngành trong tiến trình
CNH, HĐH là quá trình đào tạo, đào tạo lại, điều chỉnh, bố trí, phân công lại
16
lực lượng lao động theo yêu cầu của từng thời kỳ phát triển kinh tế nói chung
và chuyển dịch CCKT nói riêng.
Chuyển dịch cơ cấu lao động theo ngành là quá trình phân bố, điều chỉnh
+ Chuyển dịch cơ cấu lao động theo ngành làm cho trình độ CMKT của
người lao động tăng lên. Chất lượng lao động có sự thay đổi tích cực, tỷ lệ lao
động qua đào tạo, có tay nghề ngày càng tăng lên trong tổng số LLLĐ.
+ Chuyển dịch cơ cấu lao động theo ngành đưa đến một CCLĐ theo
ngành ngày càng phù hợp với cơ cấu ngành kinh tế.
+ Chuyển dịch cơ cấu lao động theo ngành mang đến năng suất lao
động các ngành ngày một tăng lên.
+ Chuyển dịch cơ cấu lao động theo ngành đem lại thu nhập cao hơn
cho người lao động.
1.2.2. Các chỉ tiêu đánh giá và các nhân tố ảnh hưởng đến chuyển
dịch cơ cấu lao động theo ngành
* Các chỉ tiêu đánh giá chuyển dịch CCLĐ theo ngành
Thứ nhất: Tốc độ chuyển dịch cơ cấu lao động theo ngành.
Chuyển dịch CCLĐ theo ngành được biểu hiện thông qua sự thay đổi
về tỷ trọng lao động giữa các ngành của nền kinh tế theo thời gian. Đây là chỉ
tiêu quan trọng nhất nhằm xác định lao động được phân bố vào các ngành,
lĩnh vực kinh tế khác nhau như thế nào, hợp lý hay không hợp lý. Thông qua
sự thay đổi tỷ trọng lao động giữa các ngành xác định được:
+ Số lao động tham gia vào hoạt động của ngành, lĩnh vực kinh tế trong
nền kinh tế quốc dân.
+ Đánh giá mức độ thu hút lao động của các ngành, từ đó thấy được xu
hướng chuyển dịch lao động giữa các ngành hoặc nội bộ ngành có phù hợp
hay không.
Thứ hai: Chuyển dịch cơ cấu lao động theo ngành và nội bộ ngành xét
về trình độ (học vấn phổ thông và chuyên môn kỹ thuật).
Trong quá trình chuyển dịch CCLĐ, một bộ phận lao động đang làm
những công việc quen thuộc nhiều năm với năng suất lao động thấp của người
18
nhanh hay chậm, việc chuyển dịch đã đạt được hiệu quả tối ưu về kinh tế - xã
hội, đã đảm bảo sử dụng hợp lý và phát huy tối đa tiềm năng của các nguồn
lực hay chưa?
Thứ tư: Tương quan giữa GDP bình quân/ người và chuyển dịch
CCLĐ theo ngành.
Theo các nhà kinh tế học, có mối tương quan chặt chẽ giữa GDP bình
quân/người và CCLĐ làm việc trong các ngành kinh tế quốc dân. GDP bình
quân/người càng cao thì CCLĐ càng có sự thay đổi, sự thay đổi này theo
chiều hướng giảm tỷ trọng lao động ngành nông nghiệp, tăng tỷ trọng lao
động ngành công nghiệp và dịch vụ.
Thứ năm: Sự di chuyển lao động trong các ngành gắn với sự thay đổi
năng suất lao động ( năng suất lao động) của ngành.
Quá trình chuyển dịch CCLĐ thường diễn ra theo phương thức, chuyển
lao động làm nông nghiệp ở nông thôn sang các ngành công nghiệp, dịch vụ,
làm việc tại các khu công nghiệp, CCN, khu vực thành thị. năng suất lao động
trong nông nghiệp tăng làm tăng khả năng cung cấp nguyên liệu cho các
ngành công nghiệp chế biến, thu hút nhiều lao động gián tiếp tác động đến
chuyển dịch CCLĐ theo ngành. Ngoài ra, một bộ phận LĐNN tranh thủ lúc
nông nhàn chuyển sang làm các ngành phi nông nghiệp ngay tại địa bàn nông
thôn như công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ...
năng suất lao động theo các ngành tăng hay giảm còn tỷ lệ nghịch với
tỷ lệ tiêu hao trên một đơn vị sản phẩm, điều này có nghĩa là khi năng suất lao
động trong các ngành tăng thì t ỷ lệ tiêu hao trên một đơn vị sản phẩm giảm
và ngược lại, đây cũng là tiêu chí để đánh giá quá trình chuyển dịch CCLĐ
theo ngành có hiệu quả hay không.
* Các nhân tố ảnh hưởng đến chuyển dịch CCLĐ theo ngành
- Chính sách Nhà nước về chuyển dịch CCLĐ theo ngành.
20
cấu kinh tế các địa phương, làm chuyển đổi cơ cấu giữa nông nghiệp và công
21
nghiệp; đồng thời làm cho ngành dịch vụ dần được mở rộng và phát triển đáp
ứng nhu cầu của sản xuất và đời sống. Sự phát triển kinh tế của địa phương
với xu hướng ngành công nghiệp và dịch vụ ngày càng tăng lên và tỷ trọng
ngày càng lớn trong cơ cấu kinh tế thì LĐNN ngày càng giảm đi cả tuyệt đối
và tương đối.
+ Tốc độ đô thị hóa
Đô thị hoá là một quá trình biến đổi về sự phân bố các yếu tố LLSX, bố
trí dân cư những vùng không phải là đô thị thành đô thị. Ngày nay, khi ĐTH
luôn gắn liền với CNH đang diễn ra mạnh mẽ và phổ biến trên thế giới thì
ĐTH được hiểu là quá trình mang tính quy luật gắn liền với sự chuyển dịch
cơ cấu kinh tế theo hướng sản xuất nông nghiệp giảm, sản xuất phi nông
nghiệp tăng; bộ mặt đô thị ngày càng hiện đại; không gian đô thị được mở
rộng. Theo lý thuyết của Torado, quá trình ĐTH gắn liền với quá trình di dân,
thay đổi cơ cấu xã hội từ nông nghiệp, nông dân sang công nghiệp - thị dân đô thị, kéo theo quá trình di chuyển lao động từ khu vực nông nghiệp sang
khu vực phi nông nghiệp. Việc di chuyển này trực tiếp làm giảm tỷ trọng lao
động ngành nông nghiệp, tăng tỷ trọng lao động ngành công nghiệp và dịch
vụ, dẫn đến thay đổi CCLĐ theo ngành.
- Các nguồn lực đầu vào.
+ Nguồn lực khoa học - công nghệ
Dưới tác động của khoa học- công nghệ, các nguồn lực sản xuất được
mở rộng và sự phối kết hợp giữa các nguồn lực hiệu quả hơn, nhờ đó năng
suất lao động tăng lên và giảm một cách tương đối số lượng lao động được
sử dụng trong các ngành sử dụng nhiều lao động, dẫn đến sự thay đổi nhu
cầu số lượng, chất lượng lao động trong các ngành, dẫn đến chuyển dịch
CCLĐ theo ngành.
+ Nguồn lực vốn đầu tư
năng suất lao động, khả năng cạnh tranh của từng doanh nghiệp cũng như của
23
toàn bộ nền kinh tế và đáp ứng được yêu cầu cơ động cao của nền kinh tế thị
trường đầy rủi ro, biến động.
+ Nguồn lực tài nguyên thiên nhiên
Nhân tố này tác động đến chuyển dịch CCLĐ nói chung, CCLĐ theo
ngành nói riêng thông qua việc khai thác và phát triển lợi thế so sánh về điều
kiện tự nhiên, môi trường sinh thái, vị trí địa lý của các vùng ở địa phương.
Đây là một trong những hướng tác động quan trọng có tính chất đột phá trong
chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của mỗi địa phương. Bởi lẽ, mỗi vùng,
địa phương đều có tiềm năng, thế mạnh riêng, nếu biết khai thác và phát huy
sẽ tạo ra một cơ cấu kinh tế phù hợp và thúc đẩy chuyển dịch CCLĐ tại chỗ
trong nông nghiệp, nông thôn, hạn chế được dòng di chuyển lao động từ nông
thôn ra thành thị.
- Các nhân tố khác
+ Di chuyển lao động trong nước và quốc tế
Dòng di chuyển lao động có ảnh hưởng lớn đến quá trình chuyển dịch
CCLĐ cả nơi đi và nơi đến. Bởi lẽ, có dòng di chuyển lao động có quy hoạch,
chiến lược cụ thể nhưng cũng có dòng di chuyển lao động tự phát, thiếu quy
hoạch... gây thiếu hụt lao động ở nơi đi và ảnh hưởng không nhỏ đến mạng
lưới an sinh xã hội của địa phương nơi đến.
+ Tốc độ tăng trưởng và hội nhập kinh tế quốc tế
Tốc độ tăng trưởng kinh tế có tác động đến tốc độ chuyển dịch CCLĐ
theo ngành. Ở những khu vực, ngành kinh tế có tốc độ tăng trưởng cao thì tốc
độ chuyển dịch CCLĐ diễn ra nhanh hơn. Bởi vì, trước hết nó đòi hỏi thu hút
nguồn lao động rất lớn, nguồn lao động này chính là lao động làm việc trong
ngành, khu vực có trình độ phát triển và tốc độ tăng trưởng thấp. Mặt khác,
thúc đẩy hoặc ngăn cản người sản xuất tham gia hoặc không tham gia vào thị
trường. Với cơ chế đó , người sản xuất tự xác định khả năng tham gia cụ thể
của mình vào thị trường những loại sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ với quy mô
và cơ cấu phản ánh ngành kinh tế của từng vùng, từng địa phương. Ngoài ra,
25
doanh nghiệp tạo việc làm và sản xuất ra sản phẩm đáp ứng cho nhu cầu xã
hội, tạo ra GDP và nguồn thu thuế cho Nhà nước, đóng góp phúc lợi cho xã
hội, góp phần nâng cao tiến bộ xã hội. Vì thế càng có nhiều doanh nghiệp mới
xuất hiện và hoạt động có hiệu quả thì càng tốt cho việc hình thành và phát
triển cơ cấu kinh tế ngành và ngược lại, nếu doanh nghiệp không phát triển,
làm ăn không hiệu quả thì không thể có cơ cấu kinh tế ngành tốt.
1.3. Kinh nghiệm chuyển dịch cơ cấu lao động theo ngành ở một số địa
phương và bài học rút ra cho tỉnh Thái Bình
1.3.1. Kinh nghiệm về chuyển dịch cơ cấu lao động theo ngành ở một số tỉnh
* Kinh nghiệm chuyển dịch cơ cấu lao động theo ngành của tỉnh Ninh Bình
Ninh Bình ngoài lợi thế về phát triển một nền nông nghiệp toàn diện,
còn có lợi thế phát triển mạnh mẽ sản xuất vật liệu xây dựng. Ninh Bình có
điều kiện để chuyển đổi nhanh cơ cấu kinh tế, đặc biệt là cơ cấu nội bộ ngành
nông nghiệp cho nhu cầu sản xuất hàng hoá. Ngành du lịch, với nhiều di tích
lịch sử và danh lam thắng cảnh nổi tiếng hiện đang là ngành kinh tế mũi nhọn,
làm thay đổi cơ cấu kinh tế, CCLĐ của Tỉnh. Trong giai đoạn vừa qua, CCLĐ
tỉnh Ninh Bình đã có sự thay đổi đáng kể theo hướng tăng dần tỷ trọng lao
động trong các ngành CN - XD, dịch vụ đồng thời giảm dần tỷ trọng lao động
trong các ngành nông, lâm, thuỷ sản. Cụ thể: từ chỗ năm 2001, lao động làm
việc trong ngành CN - XD chiếm 14,1% tổng LLLĐ có việc làm, đến 2011
tăng lên là 30,5%. Ngành nông, lâm, thuỷ sản giảm từ 74,9% năm 2001 xuống
còn là 52,7 % năm 2011. Tương tự, ngành TM - DV từ 11% lên 16,8%.
Thời gian qua, Tỉnh đã có nhiều nỗ lực trong việc thúc đẩy chuyển dịch