HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
TRẦN THỊ MINH TRÂM
tÝn dông cho häc sinh, sinh viªn
cña thµnh phè Hµ Néi
LUẬN ÁN TIẾN SĨ
CHUYÊN NGÀNH: KINH TẾ CHÍNH TRỊ
HÀ NỘI - 2016
HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
TRẦN THỊ MINH TRÂM
tÝn dông cho häc sinh, sinh viªn
cña thµnh phè Hµ Néi
LUẬN ÁN TIẾN SĨ
CHUYÊN NGÀNH: KINH TẾ CHÍNH TRỊ
Mã số: 62 31 01 02
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN THỊ NHƯ HÀ
HÀ NỘI - 2016
LỜI CAM ĐOAN
CỦA THÀNH PHỐ HÀ NỘI GIAI ĐOẠN 2011-2015
3.1. Tín dụng cho học sinh, sinh viên tại Ngân hàng Chính sách xã hội
chi nhánh Hà Nội giai đoạn 2011-2015
3.2. Đánh giá chung kết quả tín dụng cho học sinh, sinh viên của
Thành phố Hà Nội
Chương 4: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP NHẰM THÚC ĐẨY TÍN
DỤNG HỌC SINH, SINH VIÊN CỦA THÀNH PHỐ HÀ
NỘI ĐẾN NĂM 2020, TẦM NHÌN ĐẾN NĂM 2030
4.1. Dự báo nhu cầu tài chính của học sinh, sinh viên của Hà Nội đến
năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030
4.2. Quan điểm tín dụng cho học sinh, sinh viên
4.3. Các giải pháp nhằm thúc đẩy tín dụng cho học sinh, sinh viên của
Thành phố Hà Nội trong thời gian tới
KẾT LUẬN
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN
QUAN ĐẾN LUẬN ÁN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
1
7
7
11
22
26
26
40
61
HĐQT
: Hội đồng quản trị
HSSV
: Học sinh sinh viên
KTTT
: Kinh tế thị trường
NHCSXH
: Ngân hàng chính sách xã hội
NHNN
: Ngân hàng nhà nước
NHTM
: Ngân hàng thương mại
NSĐP
: Ngân sách địa phương
NSTW
Bảng 3.6:
Bảng 3.7:
Bảng 3.8:
Nguồn vốn cho vay HSSV tại NHCSXH chi nhánh thành phố
Hà Nội giai đoạn 2011-2015
73
Cơ cấu nguồn vốn của NHCSXH chi nhánh thành phố Hà Nội
giai đoạn 2011-2015 (tính đến 31/12 hàng năm)
74
Phân tích số lượng và dư nợ HSSV theo đối tượng thụ hưởng
tại NHCSXH chi nhánh Hà Nội giai đoạn 2011-2015
Phân tích số lượng và dư nợ HSSV theo đối tượng đào tạo
77
tại chi nhánh NHCSXH chi nhánh thành phố Hà Nội
79
Doanh số thu hồi nợ giai đoạn 2011-2015 tại NHCSXH chi
nhánh thành phố Hà Nội
82
Số HSSV vay vốn đã trả nợ vốn vay qua các năm tại chi nhánh
Tỷ lệ nợ quá hạn cho vay HSSV và nợ quá hạn các chương
trình khác tại NHCSXH chi nhánh thành phố Hà Nội
84
87
Hình 3.3:
Kết quả điều tra về mức độ công bằng của chương trình tín
dụng cho HSSV có HCKK ở thành phố Hà Nội
Kết quả học tập và rèn luyện của HSSV vay vốn tại NHCSXH
Hình 3.4:
chi nhánh thành phố Hà Nội
Quy mô tín dụng HSSV tại NHCSXH chi nhánh thành phố Hà Nội
Hình 3.2:
89
96
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Ngày nay, do sự phát triển nhanh chóng của khoa học, công nghệ và toàn cầu
hoá kinh tế, nên các quốc gia đều rất chú trọng phát triển nguồn nhân lực chất lượng
cao để tiếp cận với tri thức mới, vươn lên trong phát triển kinh tế - xã hội. Giáo dục,
đào tạo đã và đang là con đường có hiệu quả nhất để phát triển mạnh nguồn nhân
Tín dụng cho HSSV có HCKK là một chủ trương của Đảng và chính sách
của Nhà nước được khởi động ở Việt Nam từ ngày 2/3/1998 với Quyết định số
51/1998/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ nay là quyết định 157/2007/QĐ-TTg ra
ngày 27 tháng 9 năm 2007 về các ưu đãi tín dụng cho HSSV. Hoạt động của
chương trình này đã mang lại hiệu quả xã hội thiết thực. Theo NHCSXH, tính đến
hết 31/10/2015, cả nước đã cho trên 3,3 triệu lượt HSSV có HCKK được vay vốn
ưu đãi với hơn 55.000 tỷ đồng; mức dư nợ tín dụng trên 24.000 tỷ đồng (Phụ lục 3).
Nguồn tín dụng này đã góp phần quan trọng vào thực hiện chính sách xã hội của
Đảng và Nhà nước, đã tạo ra nguồn cần thiết về tài chính cho một bộ phận không
nhỏ HSSV để họ có thể theo học trong các cơ sở đào tạo (CSĐT) trong nước, nhằm
nâng cao trình độ chuyên môn kỹ thuật tham gia thị trường lao động và để đóng góp
cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát kinh tế, xã hội của đất nước.
Cùng với thành quả chung của cả nước, thành phố Hà Nội đã giải quyết cho
80 ngàn HSSV được vay ưu đãi với số vốn 1.317 tỷ đồng, tạo điều kiện về tài chính
cho 61.274 hộ gia đình trên địa bàn của Hà Nội vượt khó, cho con em đến các
CSĐT chuyên nghiệp theo học để có được một nghề chuyên môn kỹ thuật để lập
nghiệp [55]. Những thành quả nêu trên là rất đáng khích lệ. Nó không chỉ tạo động
lực cho sự phát triển nhân lực mà còn tạo thêm niềm tin của người dân trong xã hội
đối với đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước.
Tuy nhiên, bên cạnh những thành quả trên, quá trình hoạt động tín dụng cho
HSSV có KCKK của cả nước nói chung, thành phố Hà Nội nói riêng còn không ít
những hạn chế, thách thức. Chủ yếu là quy mô tín dụng chưa tương xứng với nhu
cầu; tỷ lệ nợ quá hạn còn cao, một số HSSV sử dụng vốn vay chưa đúng mục đích;
cơ cấu cho vay còn có sự chênh lệch lớn giữa các hệ đào tạo; mức cho vay còn thấp
chưa đáp ứng được nhu cầu của HSSV; việc sử dụng vốn vay chưa thật hiệu quả, cơ
chế phối hợp giữa các chủ thể nhà trường, ngân hàng, chính quyền và gia đình còn
nhiều bất cập. Thực tiễn đã đặt ra vấn đề, nếu không có những nghiên cứu khoa học
3
Luận án nghiên cứu về tín dụng cho HSSV dưới góc độ kinh tế chính trị, cụ
4
thể là nghiên cứu các quan hệ tín dụng giữa Nhà nước (mà NHCSXH là đại diện)
với HSSV đang theo học tại các CSGD đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp
và dạy nghề.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi khách thể cho vay của tín dụng: Là HSSV có HCKK bao gồm
HSSV thuộc diện mồ côi, hộ nghèo, hộ cận nghèo và thuộc gia đình gặp khó khăn
đột xuất về tài chính do tai nạn, bệnh tật, thiên tai, hoả hoạn, dịch bệnh đang theo
học trong diện được vay vốn tại NHCSXH chi nhánh thành phố Hà Nội. Nói cách
khác phạm vi khách thể cho vay của tín dụng là những HSSV đang gặp khó khăn về
tài chính.
- Phạm vi thời gian nghiên cứu: Thời gian phân tích, đánh giá thực trạng:
giai đoạn 2011-2015; thời gian đề xuất quan điểm, giải pháp đến năm 2020, định
hướng đến năm 2030.
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
4.1. Cơ sở lý luận và phương pháp tiếp cận nghiên cứu
- Cơ sở lý luân: Luận án được thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác
- Lênin để xem xét quan hệ tín dụng trong kinh tế thị trường và vai trò của tín dụng
đối với sự phát triển. Các nghiên cứu thực tiễn còn dựa trên nền tảng tư tưởng Hồ
Chí Minh, quan điểm, đường lối đổi mới của Đảng Cộng sản Việt Nam và chính
sách, pháp luật của Nhà nước. Luận án còn kế thừa những thành quả khoa học mà
nhân loại đã đạt được, nhất là những thành quả về vai trò của Nhà nước trong nền
kinh tế thị trường hiện đại có liên quan đến vấn đề nghiên cứu trong luận án.
- Phương pháp tiếp cận nghiên cứu: Luận án tiếp cận các vấn đề nghiên cứu
từ các góc độ sau:
+ Tiếp cận từ cơ sở lý luận về tín dụng cho HSSV có HCKK theo góc độ của
khoa học kinh tế chính trị.
(2) Điều tra qua mẫu phiếu: Xây dựng mẫu phiếu điều tra các đối tượng có
liên quan đến tín dụng cho HSSV bao gồm: Hộ gia đình HSSV và HSSV một số
trường của Thành phố Hà Nội để lấy số liệu phục vụ nội dung nghiên cứu thực
trạng tín dụng cho HSSV. Để đảm bảo tính chính xác chúng tôi điều tra với số
lượng 500 phiếu hộ gia đình HSSV có HCKK, 500 phiếu cho HSSV có HCKK. Xử
lý số liệu bằng phần mềm excel.
(3) Phương pháp chuyên gia: Để hoàn thiện cơ sở lý luận, thực tiễn của luận
án và khảo nghiệm về mức độ cần thiết, tính khả thi của các giải pháp đề xuất, tác
6
giả lấy ý kiến đóng góp từ các nhà khoa học, cán bộ quản lý NHCSXH có bề dày
kinh nghiệm trong hoạt động tín dụng. Các ý kiến được thống kê, ghi chép, nghiên
cứu, phân tích bổ sung cho luận án để các giải pháp thúc đẩy tín dụng cho HSSV
được đề xuất sát với thực tiễn và có tính khả thi cao.
(4) Phương pháp chuyên khảo: Phương pháp chuyên khảo được sử dụng để
khảo nghiệm các mô hình cho HSSV vay của một số quốc gia như Nhật Bản, Hàn
Quốc và một số tỉnh, thành phố trong nước như Nghệ An, Đà Nẵng để rút ra các bài
học kinh nghiệm cho Hà Nội.
5. Đóng góp mới về khoa học của luận án
- Đóng góp về lý luận: Hệ thống hóa lý luận về tín dụng cho HSSV dưới góc
độ kinh tế chính trị, vận dụng vào nghiên cứu một địa phương có tính đặc thù như
thành phố Hà Nội. Khảo cứu kinh nghiệm một số địa phương trong và ngoài nước
về tín dụng cho HSSV. Qua khảo cứu, luận án khái quát hóa thành các bài học kinh
nghiệm có thể áp dụng cho thành phố Hà Nội về tín dụng cho HSSV.
- Đóng góp về thực tiễn: Thông qua các dữ liệu thu thập trên thông tin chính
thức và điều tra, khảo sát của tác giả để tổng kết, đánh giá thực trạng tín dụng cho
HSSV của thành phố Hà Nội giai đoạn 2011-2015, đề xuất quan điểm và giải pháp
nhằm thúc đẩy tín dụng cho HSSV của thành phố Hà Nội đến năm 2020, định
hướng đến năm 2030.
cho tất cả các SV có nhu cầu vay cho giáo dục của họ. Một số lượng lớn của các tổ
chức và quốc gia đã giới thiệu chương trình cho vay được hoàn trả từ thu nhập sau
khi tốt nghiệp.
- Maureen Woodhall, "Student loans: prospects issues and lessons from
international experience" [122], (Về cho SV vay: các vấn đề triển vọng và những
bài học từ kinh nghiệm quốc tế). Đây là bài viết nhằm chuẩn bị cho Hội nghị tài trợ
giáo dục đại học: ''Đa dạng hóa doanh thu và mở rộng tiếp cận'' tổ chức tại Tanzania
tháng 3/2001. Tác giả dựa trên một loạt kinh nghiệm ở các nước đang phát triển để
khẳng định cố gắng của chính phủ trong việc tạo ra các chương trình cho vay học
sinh ở châu Phi. Vạch ra những kinh nghiệm chung về các chương trình cho SV vay
(hầu hết trong số đó, ở châu Phi, đã không thành công), từ nguồn vốn đủ để trợ cấp
quá mức nên không có khả năng vượt qua chỉ trích chính trị với các khoản vay này.
8
Có một số quyết định chính sách quan trọng, mà phần lớn câu trả lời là hy vọng có
thể làm tăng tỷ lệ thu hồi vốn. Từ đó, tác giả kết luận rằng điều quan trọng là làm
thế nào để thiết kế và quản lý các khoản vay SV một cách hiệu quả.
- Trong cuốn: "Student Loans Repayment and Recovery: International
Comparisons" [120], (Cho SV vay trả nợ và phục hồi: So sánh quốc tế) của Hua
shen và Adrian Ziderman, bằng nghiên cứu thực nghiệm tại các chương trình cho
SV vay đang hoạt động tại hơn 70 quốc gia trên thế giới đã khẳng định rằng, hầu hết
các chương trình này được hưởng lợi từ các khoản trợ cấp của chính phủ. Các tác
giả đã quan tâm đến hai vấn đề là cho khoản vay ban đầu cho một SV là bao nhiêu
và tỷ lệ phục hồi khi khảo sát 44 đề án vay vốn tại 39 quốc gia và cho thấy sự thay
đổi đáng kể về tỷ lệ trả nợ và phục hồi qua các đề án. Tuy có nhiều khoản cho
khách hàng SV vay là khá lớn, nhưng tỷ lệ trả nợ lại khá thấp: khoảng 40% và thấp
hơn. Điều này ảnh hưởng đến khả năng phục hồi của vốn cho vay. Vì vậy, cần phải
xem xét các bước thực hiện để cải thiện kết quả tài chính của các chương trình cho
vay này.
năm 2012. Nếu trường đại học thu trên 6.000 bảng sẽ phải nộp thuế thu nhập của
nhà trường cho Bộ Tài chính Anh. Số tiền này được Bộ Tài chính tài trợ cho
trường đại học theo tỷ lệ nói trên. Tuy Chính phủ phải chi ra một khoản tiền nói
trên, nhưng đổi lại tấm bằng đại học sẽ giúp người vay đóng góp nhiều hơn cho xã
hội và có thu nhập cao hơn đồng thời mang lại lợi ích quốc gia thông qua giúp
tăng trưởng kinh tế cao hơn và cải thiện môi trường xã hội tốt hơn. Logic của lập
luận có vẻ đơn giản: nếu nhà nước và SV - cùng có lợi thì cả hai bên sẽ cùng gánh
chịu chi phí trong việc mưu cầu lợi ích đó.
- Hee Kyung Hong & Jae-Eun Chae, "Student loan policy in Korea:
Evolution, Opportunities and Challenges" [119], (Chính sách cho SV vay vốn tại
Hàn Quốc: Sự phát triển, cơ hội và thách thức), bài viết đánh giá vai trò của những
cải cách chính sách cho SV vay vốn ở Hàn Quốc tiếp cận từ lịch sử kể từ khi kết
thúc chiến tranh Triều Tiên vào năm 1950. Sự phát triển của hệ thống cho vay đã
tạo ra hiệu ứng tích cực với sự mở rộng nhanh chóng của giáo dục đại học tại Hàn
Quốc. Các tính năng chính của cải cách như sau: (1) những năm 1950 đến đầu
những năm 1980: SV vay vốn không lấy lãi; (2) 1985-2005: lãi suất trợ cấp các
khoản vay chương trình; (3) 2005-nay: chứng khoán SV vay vốn hậu thuẫn chương
trình; và (4) Năm 2010, thu nhập các khoản vay góp phần bổ sung để làm tăng
10
chứng khoán SV vay vốn. Các tác động đằng sau cải cách này là áp lực xã hội về
tăng khả năng của giáo dục đại học cho tất cả và sự cần thiết để bảo đảm một cơ chế
tài chính bền vững tương ứng với sự gia tăng các khoản vay SV. Mặc dù chính sách
cho vay là công cụ trong việc mở rộng giáo dục đại học ở Hàn Quốc, nhưng nó đã
ảnh hưởng làm phá vỡ cấu trúc các tổ chức giáo dục đại học tư nhân, các quy định
về thành lập trường và bãi bỏ quy định hạn ngạch SV, sốt giáo dục bất chấp điều
kiện kinh tế, gây mâu thuẫn giữa tính năng động phức tạp của cải cách trong hệ
thống hỗ trợ SV vay vốn với mở rộng giáo dục đại học ở Hàn Quốc.
- Tim Leunig and Gill Wyness, "Early repayment of student loans: should
ủy thác huy động vốn đối với người nghèo và cộng đồng dân cư, đến từng thôn,
bản, làng, xã và những vùng II, II và những vùng đặc biệt khó khăn; (4) Cần điều
chỉnh một số điểm trong quy trình cho vay của NHCSXH; (5) Tăng cường huy
động vốn và thanh toán của NHCSXH nhằm phát huy vị trí, vai trò của tín dụng
trong công tác xóa đói giảm nghèo; (6) Cải tiến quy trình kiểm tra, kiểm soát hướng
dẫn người vay sử dụng vốn đúng mục đích.
- "Tín dụng ưu đãi hộ nghèo tại ngân hàng chính sách xã hội Nghệ An những kinh nghiệm cho thời kì mới" của Trần Đại Nghĩa [76]. Tác giả tổng kết
những thành công của chính sách tín dụng cho hộ nghèo như: Các hộ nghèo đã làm
quen với hạch toán kinh doanh trong cơ chế thị trường, sử dụng vốn vay có hiệu
quả; Giúp nhau kinh nghiệm và cách triển khai các dự án khuyến nông khuyến ngư;
Nâng cao thu nhập; Thu hút lao động dư thừa trong nông thôn vào các ngành nghề
khác; Bà con nghèo gắn bó với tổ chức quần chúng. Từ đó bài viết đã đưa ra các
giải pháp: Nâng cao năng lực hoạt động của ban xóa đói giảm nghèo, hội đoàn thể
chính trị - xã hội; Các đoàn thể nên triển khai tốt các văn bản chế độ, nghiệp vụ đến
hội viên để các nghiệp vụ ngân hàng thực hiện trôi chảy; Cần phải phối hợp chặt
chẽ giữa ba nhà, NHCSXH, trung tâm khuyến nông khuyên ngư, các hội đoàn thể
giúp hộ nghèo nắm vững kỹ thuật của ngành nghề mà họ bỏ vốn đầu tư.
- Nguyễn Trọng Tài, "Nâng cao chất lượng tín dụng của ngân hàng chính
sách xã hội - Nhìn từ góc độ kinh nghiệm các nước" [87]. Tác giả cho rằng: Tìm các
biện pháp hỗ trợ có hiệu quả các hộ nghèo đã và đang là vấn đề được Đảng và Nhà
nước quan tâm, một trong những biện pháp hiện nay đang được thực hiện thông qua
tín dụng ưu đãi của NHCSXH. Vấn đề đặt ra hiện nay là làm thế nào để nâng cao
chất lượng tín dụng của NHCSXH. Bởi vì, chất lượng tín dụng của ngân hàng này
được nâng cao thì hiệu quả của công tác xóa đói giảm nghèo mới đạt được. Trên cơ
sở đề cập đến những nhân tố tác động đến chất lượng tín dụng đối với hộ nghèo, bài
viết này đã tập trung nghiên cứu một cách toàn diện và sâu sắc những kinh nghiệm
nâng cao chất lượng tín dụng đối với hộ nghèo của một số nước, kể cả phát triển và
13
14
rút ra nhận xét: Giá cả tác động lớn đến đời sống của tất cả người dân nhưng tác
động sâu sắc nhất đối với hộ nghèo cả thành thị và nông thôn. Nhưng các hộ nghèo
chưa được tiếp cận nhiều đến nguồn vốn vay ưu đãi để họ chống chọi tốt hơn với
tình trạng giá cả leo thang. Nguyên nhân có từ hai phía: Từ bản thân hộ nghèo
không muốn vay, không dám vay vì sợ không trả được nợ và về phía đoàn thể các
cán bộ cơ sở chưa mạnh dạn tín chấp cũng như động viên hướng dẫn hộ nghèo vay
vốn và sử dụng vốn đúng mục đích. Cần có các biện pháp tác động từ hai phía để
chính sách tín dụng cho hộ nghèo hoạt động có hiệu quả.
- Trần Hữu Ý, Xây dựng chiến lược phát triển bền vững của NHCSXH Việt
Nam [116]. Sau khi khái quát về NHCSXH và hoạt động của ngân hàng từ khi
thành lập đến nay, luận án đưa ra những đánh giá khách quan cả trên hai mặt: thành
tựu và hạn chế. Theo tác giả, hạn chế lớn nhất của NHCSXH hiện nay là sự phát
triển và hoạt động của nó còn kém tính bền vững, theo đó tác động của ngân hàng
này đến các đối tượng có HCKK nói riêng, đến nền kinh tế - xã hội nói chung bị
hạn chế. Từ đó, luận án đề xuất một số giải pháp nhằm giúp NHCSXH xây dựng
được chiến lược phát triển bền vững hơn trong thời gian tiếp theo.
- Nguyễn Văn Đức, "Các chỉ tiêu đánh giá hoạt động cho vay của NHCSXH"
[22]. Từ việc đưa ra khái niệm thế nào là hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội phân tích
sự giống và khác nhau giữa hiệu quả cho vay của NHTM và NHCSXH. Tác giả đã
đưa ra các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả cho vay của NHCSXH trên hai phương diện:
(1) Hiệu quả xã hội đây là kết quả đạt được trên thực tế từ hoạt động cho vay của
NHCSXH đối với cuộc sống vật chất, tinh thần, đối với vấn đề an sinh xã hội của
cộng đồng nơi đối tượng vay vốn; (2) Hiệu quả kinh tế là hiệu quả trong hoạt động
cho vay của ngân hàng này. Hoạt động của NHCSXH không vì mục tiêu lợi nhuận
nên cần xét từ góc độ như tiết kiệm chi phí cho ngân sách nhà nước, hạn chế tổn
thất dẫn đến mất vốn, sử dụng hiệu quả nguồn vốn do ngân sách nhà nước cấp và
vốn tự huy động được do các mục tiêu an sinh xã hội.
cao chất lượng nguồn nhân lực thúc đẩy sự phát triển chung của xã hội.
- Chu Văn Thành, Dịch vụ công đổi mới quản lý và tổ chức cung ứng ở Việt
Nam hiện nay [89]. Trong phần đổi mới quản lý đối với dịch vụ giáo dục và đào tạo.
Tác giả đề cập đến vấn đề đổi mới và mở rộng chế độ tín dụng cho SV. Kinh phí
cho giáo dục đào tạo hiện nay mới đáp ứng khoảng 70% nhu cầu chi thường xuyên
chứ chưa nói đến nhu cầu đổi mới, phát triển và nâng cao chất lượng đào tạo. Hàng
16
năm có khoảng 15% thí sinh được tuyển vào các trường đại học cao đẳng. Như vậy
kinh phí nhà nước mới đâu tư một số ít người học, rõ ràng là không công bằng với
đa số người chưa được học; và giải pháp tăng sự đóng góp cho người học là học
phí. Người học phải đóng góp cho giáo dục tối thiểu phải theo tỷ lệ ngược lại là
70%, còn lại 30% là do nhà nước đầu tư. Tuy nhiên có bộ phận khá lớn người học
có khó khăn về kinh tế. Vì vậy, để giúp họ có tiền đóng góp khi học phí tăng thì chỉ
có giải pháp cho họ vay tiền. Trong thực tế, Nhà nước đã xây dựng quĩ tín dụng cho
người nghèo vay tiền để học, nhưng hiệu quả chưa cao vì thủ tục còn rờm rà và
thông tin chưa đến người cần vay. Cần thay đổi cơ chế chuyển tiền cho các cơ sở
đào tạo đại học bằng cách chuyển tiền qua người học theo hình thức tín dụng. Cơ
chế này tạo nên chất lượng và hiệu quả cho giáo dục và đào tạo.
- Liên hiệp Các hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam, Những vấn đề giáo dục
hiện nay. Quan điểm và giải pháp [42]. Tác giả phân thành năm nhóm mục tiêu của
chương trình tín dụng HSSV: Thứ nhất, tạo nguồn thu nhập cho đại học công lập do
học phí tăng lên, ngân sách nhà nước giảm. Thứ hai, tạo điều kiện để mở rộng hệ
thống giáo dục đại học. Thứ ba, tăng cơ hội tiếp cận giáo dục cho người nghèo, đảm
bảo công bằng trong giáo dục đại học, đồng thời nhà trường cũng có điều kiện hơn
để trợ cấp cho HSSV có HCKK từ nguồn kinh phí thu được qua mức học phí gần
hơn so với chi phí. Thứ tư, đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực nằm trong ưu tiên quốc
gia (như ngành nghề ưu tiên, bác sĩ giáo viên phục vụ ở miền núi hoặc nông thôn
hẻo lánh). Thứ năm, giảm bớt gánh nặng tài chính lên tất cả các nhóm SV và mang
trình, nhà trường gia đình cần định hướng ngay cho HSSV vay vốn ý thức được
trách nhiệm của mình trong việc học tập để đạt kết quả tốt, mở ra cơ hội cho bản
thân, gia đình cũng như cống hiến cho xã hội. Đây cũng chính là nền tảng cho việc
thực hiện trả nợ sau này.
- Nguyễn Thị Hường, "Đầu tư cho giáo dục đào tạo thông qua chính sách tín
dụng dịch vụ cho HSSV" [40, tr.60-63]. Tác giả cho rằng việc đầu tư cho giáo dục
như miễn giảm học phí gặp rất nhiều khó khăn do ngân sách hạn hẹp. Vì vậy, chính
sách tín dụng cho HSSV theo Chỉ thị 157/2007 của Chính phủ có ý nghĩa kinh tế xã
hội rất lớn. Các con em gia đình nghèo, gia đình neo đơn, gia đình có HCKK đã
trúng tuyển vào đại học, cao đẳng… không phải ở nhà, bỏ học mà vẫn có điều kiện
đến trường nhờ được vay vốn cho học tập. Đất nước không bỏ phí nhiều tài năng
học giỏi, thông minh, có chí tiến thủ nhưng vì HCKK không theo học được. Tuy
18
nhiên, nhu cầu về vốn rất lớn, mỗi năm cần khoảng 5000 đến 6000 tỷ đổng, mức
vay như hiện nay không đáp ứng yêu cầu. Đặc biệt hai thành phố Hà Nội và thành
phố Hồ Chí Minh. Khả năng huy động vốn khó khăn vì vậy tác giả đề xuất cần điều
chỉnh mức cho vay vốn cho HSSV mà trước hết là HSSV Hà Nội và Hồ Chí Minh,
nguồn vốn nên sử dụng từ nguồn cho vay tái cấp vốn của NHNN.
- Bình An, "Một chương trình tín dụng đầy tính nhân văn" [1, tr.16, 22-23].
Tác giả tổng kết một cách có hệ thống các chương trình tín dụng cho HSSV từ năm
1998 đến năm 2006, từ 2007 đến 2009. Sau hai năm thực hiện chỉ thị 157/2007 của
Thủ Tướng Chính phủ kết quả đạt được gấp 9 lần so với 9 năm trước đó giúp cho
hàng nghìn HSSV yên tâm học tập, HSSV có nguy cơ bỏ học lại được đến trường
học tập dồi mài kinh sử. Tác giả đánh giá cao một số địa phương nhờ có những
chính sách, lộ trình thực hiện nâng cao chất lượng tín dụng cho HSSV như Nghệ
An, Bình Phước, Thái Bình… các NHCSXH của các tỉnh đã có văn bản chỉ đạo các
PGD các cấp huyện phối hợp với các tổ chức chính trị xã hội để tập huấn nghiệp vụ
cho các tổ TK&VV, tổ chức bình xét cho các đối tượng vay vốn kịp thời đảm bảo
với NHCSXH; (3) các tổ chức chính trị xã hội thường xuyên tuyên truyền chủ
trương của Chính phủ về việc giảm lãi khi trả nợ trước hạn đối với chương trình tín
dụng cho HSSV; (4) Tăng cường công tác kiểm tra của các cấp ngành, cấp trên
thường xuyên kiểm tra cấp dưới đặc biệt sau mỗi đợt giải ngân. Kiên quyết xử lý
trường hợp sử dụng vốn sai mục đích; (5) Tuyên truyền sâu rộng trong HSSV về
mục đích và ý nghĩa của chương trình. Nhà trường yêu cầu HSSV làm giấy cam kết
trả nợ, có trách nhiệm báo với nhà trường về địa chỉ đơn vị công tác khi có việc
làm; (6) Các cơ sở tuyển dụng lao động nên vào trang website http:vayvondihoc để
năm bắt thông tin về người lao động. Nếu người lao động còn dư nợ tại NHCSXH
thì cùng người lao động thỏa thuận số tiền trả nợ NHCSXH từ tiền lương hàng
tháng, tương tự như trách nhiệm đóng thuế thu nhập cá nhân.
- Nguyễn Minh Phương, Đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục, y tế ở Việt Nam
[83]. Đây là cuốn sách đánh giá về vấn đề đảm bảo công bằng xã hội trong việc
hưởng thụ các dich vụ giáo dục. Tác giả cho rằng chính sách học phí bất hợp lý đối
với HSSV khiến tăng thêm khoảng cách bất công: 35% phần tài trợ của ngân sách
nhà nước chảy vào lớp con em của 20% dân cư giàu nhất nhưng chỉ có 15% ngân
sách chảy vào 20% dân cư nghèo nhất. Chính sách miễn giảm học phí cho HSSV
nghèo ngày càng giảm so với trước. Số người được miễn giảm từ 44% xuống còn