(TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ CHÍNH TRỊ) NÔNG NGHIỆP TỈNH CÀ MAU PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG - Pdf 40

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH

NGUYỄN MINH LUÂN

n«ng nghiÖp tØnh cµ mau
ph¸t triÓn theo h­íng bÒn v÷ng

Chuyên ngành

: Kinh tế chính trị

Mã số

: 62 31 01 02

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ

HÀ NỘI - 2016


Công trình được hoàn thành tại
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS Phạm Quốc Trung

Phản biện 1:

Phản biện 2:

Phản biện 3:


lưới kênh dẫn và thoát nước) và các điều kiện về vốn, con giống, thức
ăn… chưa được đảm bảo.
Từ những thực tế trên cho thấy, việc nghiên cứu sinh chọn đề tài:
“Nông nghiệp tỉnh Cà Mau phát triển theo hướng bền vững” làm luận
án tiến sĩ kinh tế là có ý nghĩa lý luận, thực tiễn sâu sắc và phù hợp với
chuyên ngành Kinh tế chính trị.
2. Mục đích nghiên cứu
Hệ thống hóa và cụ thể hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về nông nghiệp
phát triển theo hướng bền vững nói chung và ở tỉnh Cà Mau nói riêng. Từ
đó, cho thấy vai trò hết sức to lớn và quan trọng của nông nghiệp trong
việc góp phần phát triển kinh tế, ổn định xã hội, đảm bảo môi trường.
Phân tích quá trình nông nghiệp phát triển theo hướng bền vững ở
tỉnh Cà Mau từ năm 1997 đến năm 2015 để thấy rõ thực trạng, những
thành tựu, hạn chế, yếu kém và nguyên nhân; từ đó, đề xuất quan điểm,
định hướng và những giải pháp nhằm đưa nông nghiệp tỉnh Cà Mau phát
triển theo hướng bền vững.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là tổng thể nền nông nghiệp của
tỉnh Cà Mau trên phương diện phát triển bền vững. Đó là quá trình vận


2

động, phát triển nội tại của nền nông nghiệp hướng đến ba mục tiêu cơ
bản: bền vững kinh tế, bền vững xã hội, và bền vững môi trường. Luận án
không nghiên cứu nền nông nghiệp với các ngành đơn lẻ.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nội dung: nông nghiệp tỉnh Cà Mau phát triển theo hướng
bền vững được nghiên cứu trong phạm vi luận án là nông nghiệp trên địa

nông nghiệp phát triển bền vững.
- Tìm hiểu kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới và một số địa
phương trong nước về nông nghiệp phát triển theo hướng bền vững để rút ra
bài học kinh nghiệm cho tỉnh Cà Mau.


3

- Phân tích, đánh giá đúng thực trạng phát triển nông nghiệp ở tỉnh
Cà Mau, giai đoạn 1997 - 2015.
- Đề xuất có căn cứ khoa học các quan điểm và giải pháp chủ yếu
nhằm thúc đẩy nông nghiệp ở tỉnh Cà Mau phát triển theo hướng bền vững
trong những năm tới.
6. Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, hình
vẽ, bảng biểu minh họa và phụ lục, luận án được kết cấu thành 4
chương.
Chương 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN
ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
Mục tiêu của chương 1, nghiên cứu các công trình liên quan đến đề
tài luận án nhằm xác định những vấn đề lý luận, thực tiễn về phát triển bền
vững, nông nghiệp phát triển bền vững từ đó chỉ ra những vấn đề cần tiếp
tục nghiên cứu đối với nông nghiệp phát triển theo hướng bền vững ở tỉnh
Cà Mau.
Để đảm bảo tính kế thừa và khẳng định những đóng góp của luận án,
luận án chia các công trình nghiên cứu thành hai nhóm: 1) Những công
trình nghiên cứu trong nước liên quan đến đề tài luận án; 2) Những công
trình nghiên cứu ngoài nước liên quan đến đề tài luận án. Những công
trình khoa học trong nước và ngoài nước đã đề cập đến một số khía cạnh

nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến hiện trạng nền nông nghiệp của tỉnh phát
triển theo hướng bền vững.
- Góp phần định hướng, đề xuất những giải pháp để phát triển ngành
nông nghiệp của tỉnh đến năm 2025.
Chương 2
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
VỀ NÔNG NGHIỆP PHÁT TRIỂN THEO HƯỚNG BỀN VỮNG
2.1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG VÀ NÔNG
NGHIỆP PHÁT TRIỂN THEO HƯỚNG BỀN VỮNG

2.1.1. Khái quát chung về phát triển bền vững
Xuất hiện từ những năm cuối của thế kỷ 20, thuật ngữ “phát triển bền
vững” là một khái niệm dần được hình thành từ thực tiễn đời sống xã hội
và mang tính tất yếu. Tư duy về phát triển bền vững manh nha trong cả
quá trình sản xuất xã hội và bắt đầu từ việc nhìn nhận tầm quan trọng của
bảo vệ môi trường và tiếp đó là nhận ra sự cần thiết phải giải quyết những
bất ổn trong xã hội. Chính vì thế, năm 1992, Hội nghị thượng đỉnh về Môi
trường và Phát triển của Liên hợp quốc được tổ chức ở Ri-ô đơ Gia-nê-rô
đề ra Chương trình nghị sự toàn cầu cho thế kỷ XXI, theo đó, phát triển
bền vững được xác định là: “Một sự phát triển thỏa mãn những nhu cầu
của thế hệ hiện tại mà không làm hại đến khả năng đáp ứng những nhu
cầu của thế hệ tương lai”. Theo đó, ba trụ cột phát triển bền vững được
xác định là: Thứ nhất, bền vững về mặt kinh tế, hay phát triển kinh tế bền
vững là phát triển nhanh và an toàn, chất lượng; Thứ hai, bền vững về mặt


5

xã hội là công bằng xã hội và phát triển con người, chỉ số phát triển con
người (HDI) là tiêu chí cao nhất về phát triển xã hội, bao gồm: thu nhập

thu nhập, các chỉ tiêu về giáo dục, y tế, phúc lợi xã hội, hưởng thụ văn hóa.
Thứ ba, bền vững về môi trường. Quá trình công nghiệp hóa, hiện
đại hóa, phát triển nông nghiệp, du lịch; quá trình đô thị hóa, xây dựng
nông thôn mới,... đều tác động đến môi trường và gây ảnh hưởng tiêu cực
đến môi trường, điều kiện tự nhiên. Bền vững về môi trường là khi sử
dụng các yếu tố tự nhiên đó, chất lượng môi trường sống của con người
phải được bảo đảm.


6

2.1.2. Khái quát chung về nông nghiệp phát triển theo hướng
bền vững
Nông nghiệp xuất hiện từ rất sớm trong đời sống xã hội loài người.
Trong suốt một thời gian dài lịch sử nhân loại, ở phương Đông cũng như
phương Tây, nông nghiệp là một ngành cực kỳ quan trọng, không một
ngành nào có thể sánh được. Ngày nay, nông nghiệp không còn có được vị
trí như trước nữa và cũng là ngành có trình độ phát triển thấp kém hơn so
với một số ngành khác trong nền kinh tế, song với mọi quốc gia ở mọi
trình độ phát triển, nông nghiệp và các sản phẩm của nó luôn đóng một vai
trò quan trọng - là yếu tố đầu tiên, có tính chất quyết định sự tồn tại, phát
triển của con người và phát triển kinh tế, xã hội của mỗi quốc gia.
Do tầm quan trọng của nông nghiệp trong phát triển của mỗi quốc
gia, nên phát triển nông nghiệp nói chung, nông nghiệp phát triển theo
hướng bền vững nói riêng luôn nhận được sự quan tâm sâu rộng của cộng
đồng xã hội. Mặc dù vậy, song do phương diện tiếp cận khác nhau, điều
kiện thực tiễn khác nhau mà hiện vẫn chưa có sự đồng thuận cao về khái
niệm nông nghiệp phát triển bền vững.
Chẳng hạn, TAC/CGIARC (Ban cố vấn kỹ thuật thuộc nhóm chuyên
gia quốc tế về nghiên cứu nông nghiệp của Liên hiệp quốc) đã định nghĩa

Trên bình diện vĩ mô, Quyết định số 153/QĐ-TTg ngày 17-8-2014
của Thủ tướng Chính phủ ban hành Định hướng chiến lược phát triển bền
vững ở Việt Nam - Chương trình nghị sự 21 của Việt Nam. Trong 8 nội
dung của chương trình này, có nội dung thứ 4 đề cập đến vấn đề nông
nghiệp phát triển bền vững ở Việt Nam.
Từ những quan niệm phù hợp với thực tiễn Việt Nam, có thể hiểu:
Nông nghiệp phát triển bền vững là quá trình sử dụng hợp lý nguồn tài
nguyên thiên nhiên, phải bảo đảm được mục đích là kiến tạo một hệ thống
bền vững về kinh tế, xã hội, môi trường, nhằm thỏa mãn nhu cầu về phát
triển nông nghiệp hiện tại mà không tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu
cầu của phát triển trong tương lai và được xã hội chấp nhận. Quá trình đó,
phải đảm bảo thỏa mãn các nhu cầu của con người ở thời điểm hiện tại và
tương lai và được xã hội chấp nhận. Bền vững về kinh tế, là sản xuất nông
nghiệp hướng đến chuỗi giá trị, hiệu quả đạt cao, làm ra nhiều sản phẩm có
chất lượng, không những đáp ứng nhu cầu tiêu dùng, thức ăn chăn nuôi, dự
trữ lương thực mà còn xuất khẩu ra thị trường quốc tế. Bền vững về xã hội,
là một nền nông nghiệp phát triển bền vững phải đảm bảo cho người nông
dân có đầy đủ công ăn việc làm, có thu nhập ổn định, đời sống vật chất và
tinh thần ngày càng được nâng lên. Bền vững về môi trường, là mọi hoạt
động sản xuất nông nghiệp không hủy hoại nguồn tài nguyên thiên nhiên
và không gây ô nhiễm môi trường.
Đối với từng địa phương, tùy thuộc vào điều kiện tự nhiên, kinh tế,
xã hội và đặc thù của lĩnh vực nông nghiệp để hướng đến nền nông nghiệp
phát triển bền vững trên cơ sở phát huy hiệu quả tiềm năng, thế mạnh của
địa phương, vừa tuân thủ các yêu cầu ở từng mức độ khác nhau của nền
nông nghiệp xanh, nông nghiệp sạch, thân thiện với môi trường sinh thái.
2.2. NỘI DUNG, TIÊU CHÍ VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN
NÔNG NGHIỆP PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG

2.2.1. Nội dung nông nghiệp phát triển theo hướng bền vững

Nhà nước, hệ thống kết cấu hạ tầng nông thôn, mức độ phát triển các khu
công nghiệp, đô thị, dân số, lao động bao gồm cả số lượng và chất lượng.
- Các nhân tố tổ chức - kỹ thuật gồm các hình thức tổ chức sản xuất trong
nông nghiệp, sự phát triển khoa học và công nghệ và việc áp dụng khoa học
kỹ thuật vào sản xuất.
2.2.3. Tiêu chí đánh giá tính bền vững của nông nghiệp
Các tiêu chí định tính để mô tả tính chất và phân tích các đặc điểm,
đặc trưng cơ bản của sản phẩm nông nghiệp, như: mức độ sạch của sản
phẩm, trình độ chuyên môn hóa, trình độ công nghệ... tiêu chí định tính có
ưu thế là phản ảnh đúng bản chất của vấn đề nhưng thường khó xác định
trên thực tế. Do đó, nó thường làm cơ sở để tham khảo, kiểm chứng mà ít
được sử dụng.
Các tiêu chí định lượng để thu thập dữ liệu bằng số trong nội bộ
ngành nông nghiệp, như: số lao động nông nghiệp, tài sản, vốn, doanh thu,
lợi nhuận...tiêu chí định lượng có thể chứng minh được trong thực tế và
mang tính khách quan.
Với mỗi địa phương, tùy điều kiện phát triển cụ thể và mục tiêu
hướng đến của nông nghiệp phát triển theo hướng bền vững mà xác định
các tiêu chí đánh giá, nhưng cần chú ý trên 2 phương diện sau:


9

Thứ nhất, các tiêu chí trên được đánh giá ở mức độ cao về số tuyệt
đối nếu so với nông nghiệp bền vững nói chung ở cùng thời điểm.
Thứ hai, coi trọng hơn về các tiêu chí phản ánh mức độ tăng trưởng,
tác động của biến đổi khí hậu, chi phí trung gian cao (do chi phí vận
chuyển, điều kiện địa lý, thời tiết, thổ nhưỡng, nhân công…)
2.3. KINH NGHIỆM VỀ NÔNG NGHIỆP PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG VÀ
BÀI HỌC ĐỐI VỚI CÀ MAU VỀ NÔNG NGHIỆP PHÁT TRIỂN THEO

kể đến bao gồm:
Thứ nhất, Áp dụng công nghệ cao trong sử dụng nước tưới nông
nghiệp Ixrael một đất nước không có tài nguyên nước nhưng lại có công


10

nghệ tiết kiệm nước, xử lý nước rất tốt để phục vụ cho phát triển nông
nghiệp xanh. Đó là cách người Do Thái làm giàu từ bàn tay trắng hay nói
nôm na là “tay không bắt tiền”.
Thứ hai, Phát triển nông nghiệp công nghệ cao là ưu tiên hàng đầu:
Những thực tế của Ixrael đã đem lại một bài học khác về sự phối hợp: nhà
khoa học, nhà doanh nghiệp có sự tách biệt khó phân định với nhà nông.
Một trong những lợi thế của sự phối hợp giữa khoa học và nhà nông tại
Israel là tính cộng đồng rất cao. Nhà khoa học rất gần gũi với đồng ruộng
và nhiều trong số họ cũng chính là nông dân hoặc giữ vai trò tư vấn trực
tiếp cho nông dân.
2.3.1.3. Nông nghiệp phát triển bền vững ở Thái Lan
Thái Lan là quốc gia có thế mạnh về nông nghiệp mang lại hiệu quả
trên nhiều mặt, có thể kể đến như sau:
Thứ nhất, Về chính sách trợ giá nông sản: Thái Lan đang thực hiện
trợ giá cho nông dân trên các lĩnh vực nông sản chủ yếu như sau: gạo, cao
su, trái cây, .v..v… Việc trợ giá nông sản không chỉ thực hiện ở việc mua
giá ưu đãi của nông dân mà nông dân trồng lúa còn được hưởng những ưu
đãi khác như mua phân bón với giá thấp, miễn cước vận chuyển phân bón,
được cung cấp giống mới có năng suất cao, được vay vốn lãi s uất thấp từ
ngân hàng nông nghiệp.
Thứ hai, chính sách công nghiệp nông thôn. Chính phủ Thái Lan đã
tập trung vào các công việc sau: cơ cấu lại ngành nghề phục vụ phát triển
công nghiệp nông thôn, xem xét đầy đủ các nguồn tài nguyên, xem xét

suất, chất lượng và giá trị gia tăng; chuyển dịch cơ cấu tổng sản phẩm nội
ngành nông, lâm nghiệp, thủy sản theo hướng duy trì mức tăng trưởng ổn
định và phát triển.
2.3.2.4. Nông nghiệp phát triển theo hướng bền vững ở tỉnh Kiên
Giang
Kinh nghiệm quý trong xây dựng nền nông nghiệp phát triển theo
hướng bền vững của địa phương này như sau:
Một là, khai thác hiệu quả các tiềm năng, lợi thế so sánh, đẩy mạnh
chuyển dịch cơ cấu kinh tế nhằm nâng cao chất lượng tăng trưởng, từng
bước thực hiện tăng trưởng xanh, hướng đến một nền nông nghiệp phát
triển bền vững.
Hai là, phát triển đa dạng các ngành thương mại, dịch vụ phục vụ
khai thác tiềm năng, thế mạnh trong nông nghiệp của tỉnh.
Ba là, Phát triển và đa dạng hóa các dịch vụ ngân hàng hợp lý, an
toàn, hiệu quả.
2.3.3. Bài học đối với Cà Mau về nông nghiệp phát triển theo
hướng bền vững
Thứ nhất: phải coi nông nghiệp phát triển bền vững là yêu cầu, điều
kiện bắt buộc, đáp ứng những đòi hỏi khách quan, có ý nghĩa vô cùng quan
trọng đối với địa phương, nên cần nâng cao nhận thức, trách nhiệm, nghĩa
vụ, quyền lợi của mỗi người dân.
Thứ hai: hỗ trợ tích cực cho nông dân chuyển dịch cơ cấu nông
nghiệp và chuyển đổi hình thức sản xuất ở nông thôn.
Thứ ba: phát triển kinh tế nông nghiệp gắn với phát triển nông thôn
mới.
Thứ tư: cần có biện pháp hỗ trợ có hiệu quả cho nông dân trong sản
xuất, sự rủi ro vì biến động giá cả và thời tiết, việc đầu tư cho nông nghiệp
mang lại lợi nhuận thấp ít hấp dẫn các nhà đầu tư là những rào cản lớn đối



dụng vào nông nghiệp, và đất nuôi trồng thủy hải sản.
Cà Mau có cơ cấu dân số đa dân tộc. Tỉnh hiện có 20 dân tộc khác
nhau cùng sinh sống, trong đó người Kinh chiếm chủ yếu, Chất lượng đào
tạo nghề và cơ cấu nghề đào tạo còn hạn chế nên chưa đáp ứng yêu cầu
tuyển dụng lao động. Lao động của tỉnh chủ yếu làm nông nghiệp, quen
tác phong làm việc tự do, ý thức chấp hành kỷ luật lao động còn thấp, rất
hạn chế về ngoại ngữ nên gặp nhiều khó khăn về khả năng cạnh tranh
trong thị trường lao động xã hội và phân công lao động xã hội. Đây là cản
trở lớn trong tiến trình thực hiện công nghiệp hóa và hội nhập quốc tế về


13

lao động.
3.1.3. Đánh giá về sự tác động của các điều kiện tự nhiên, kinh tế,
xã hội đến nông nghiệp phát triển theo hướng bền vững trên địa bàn
tỉnh Cà Mau
3.1.3.1. Những tác động tích cực
Thứ nhất, Cà Mau có vị trí địa lý thuận lợi cho phát triển giao thông
đa dạng.
Thứ hai, nông nghiệp của tỉnh phát triển trong điều kiện thời tiết thuận
lợi về chế độ nhiệt, chỉ có hai mùa mưa nắng, nhờ có hệ thống sông nối
liền ra biển nên Cà Mau không bị lũ lụt như một số tỉnh vùng Đồng bằng
sông Cửu Long, cũng rất ít hứng chịu những cơn bão dữ.
Thứ ba, Cà Mau có hệ thống hạ tầng nông thôn phát triển khá đồng
đều với tốc độ nhanh chóng trong vài năm gần đây.
Thứ năm, Cà Mau có hệ thống dịch vụ nông nghiệp khá phát triển.
Thứ sáu, cũng như ngành nông nghiệp, nhiều ngành kinh tế của tỉnh
đang phát triển với tốc độ khá đã có tác động tích cực đến nông nghiệp
phát triển theo hướng bền vững của tỉnh.

xuất nông, lâm nghiệp và nuôi trồng thủy sản của Cà Mau từ khi chia tách
tỉnh đến nay là phát triển toàn diện, trong đó trọng tâm là nuôi trồng thủy
sản, chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi và tăng trưởng theo hướng gắn
với xuất khẩu. Một chặng đường khá dài phấn đấu liên tục, vượt qua nhiều
khó khăn, thách thức, nhất là sự tàn phá nặng nề của cơn bão số 5 (năm
1997) và sự biến động thất thường của thị trường thế giới, nhất là thị
trường xuất khẩu thủy sản do tác động của khủng hoảng kinh tế các nước
châu Á (2007-2009) tình hình nông, lâm nghiệp và thủy sản tỉnh Cà Mau
vẫn có nhiều chuyển biến tích cực, tuy khó khăn, yếu kém còn nhiều.
3.2.1. Thực trạng nông nghiệp phát triển theo hướng bền vững ở
tỉnh Cà Mau xét trên phương diện kinh tế
Chủ trương chuyển đổi cơ cấu sản xuất nông - ngư - lâm nghiệp sang
ngư - nông - lâm nghiệp là đúng đắn, kịp thời, phù hợp với điều kiện thực
tế của tỉnh và phù hợp với nguyện vọng của nhân dân được đại bộ phận
nhân dân đồng tình; đáp ứng được đòi hỏi bức xúc của nhân dân muốn
chuyển đổi nuôi tôm mang lại hiệu quả cao hơn trồng lúa.
3.2.2. Thực trạng nông nghiệp phát triển theo hướng bền vững ở
tỉnh Cà Mau xét trên phương diện xã hội
Lao động Cà Mau chủ yếu làm nông nghiệp, quen tác phong làm việc
tự do, chưa có tác phong sản xuất công nghiệp, ý thức chấp hành kỷ luật
lao động thấp, hạn chế về ngoại ngữ nên gặp khó khăn về cạnh tranh trong
thị trường lao động xã hội và phân công lao động xã hội. Cơ cấu lao động
ngành ngư - nông - nghiệp đang có xu hướng giảm tuy nhiên tốc độ giảm
bình quân hàng năm thấp hơn. Xu hướng này phản ánh sự dịch chuyển
theo xu hướng phi nông nghiệp hóa của Cà Mau trong giai đoạn này. Nhờ
những thành quả của phát triển kinh tế xã hội, số hộ nghèo liên tục giảm
mạnh. Chính sách an sinh xã hội, đầu tư phát triển, hỗ trợ người nghèo, gia
đình chính sách, gia đình khó khăn được thực hiện đồng bộ, quyết liệt nên
đời sống nhân dân được cải thiện đáng kể.
3.2.3. Thực trạng nông nghiệp phát triển theo hướng bền vững ở

cấu có hiệu quả, không chỉ góp phần phát triển ngành công nghiệp, dịch
vụ, mà còn tạo thêm công ăn việc làm cho lao động nông nghiệp.
- Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ nông - ngư - lâm nghiệp sang ngư
- nông - lâm nghiệp đã tạo lập mối quan hệ sinh thái giữa nuôi trồng và
khai thác có mối quan hệ ràng buộc vừa là điều kiện vừa là kết quả của quá
trình sản xuất và khai thác. Yếu tố bền vững đầu vào sản xuất sẽ đảm bảo
cho kết quả theo mong đợi và ngược lại nếu xem nhẹ quá trình đầu vào sẽ
có tác động ngoài mong muốn trong quá trình sản xuất.
Tuy nhiên, phần lớn các hình thức sản xuất ngư - nông - lâm nghiệp
còn gặp khó khăn do chưa có quy hoạch đất sản xuất, vốn đầu tư xây dựng
kết cấu hạ tầng ít, quy mô kinh doanh nhỏ hẹp, khoa học và công nghệ
chưa được áp dụng rộng rãi, chưa đảm bảo quy trình canh tác. Cà Mau vẫn
còn nhiều thách thức liên quan đến giáo dục, khoa học - xã hội, nghèo đói,
chăm sóc sức khỏe và văn hóa. Mặc dù tỉnh đã có nhiều nỗ lực trong việc
cụ thể hóa chủ trương, chính sách về bảo vệ môi trường, song trên thực tế,
việc mở rộng các hình thức sản xuất ngư - nông - lâm nghiệp môi trường
tự nhiên đang bị xâm hại khá nghiêm trọng.


16

Chương 4
QUAN ĐIỂM, PHƯƠNG HƯỚNG VÀ CÁC GIẢI PHÁP CHỦ YẾU
XÂY DỰNG NỀN NÔNG NGHIỆP PHÁT TRIỂN THEO HƯỚNG
BỀN VỮNG Ở TỈNH CÀ MAU, GIAI ĐOẠN 2016 - 2025
4.1. DỰ BÁO NHỮNG YẾU TỐ CÓ KHẢ NĂNG ẢNH HƯỞNG ĐẾN
NÔNG NGHIỆP PHÁT TRIỂN THEO HƯỚNG BỀN VỮNG Ở TỈNH CÀ
MAU, GIAI ĐOẠN 2016 - 2025

4.1.1. Dự báo những yếu tố quốc tế có khả năng ảnh hưởng đến Cà



17

điểm đến tốt cho đầu tư trong và ngoài nước, Cà Mau cần phải cạnh tranh
với các tỉnh, thành trong khu vực về môi trường kinh doanh, khả năng tiếp
cận nguồn lực sản xuất chất lượng cao với giá thành hợp lý. Tự do hóa
thương mại, tài chính và các thị trường khác gia tăng, thì việc các nước sử
dụng ngày càng nhiều các chính sách bảo hộ và các rào cản kỹ thuật tinh vi
càng trở nên phổ biến. Hoạt động xuất khẩu hàng hóa của Cà Mau chưa có
được quy mô tương xứng với tiềm năng, chưa tận dụng được các cơ hội và
phát huy lợi thế của mình. Nền kinh tế của tỉnh mà ở đây trực tiếp là các
sản phẩm hàng hóa nông nghiệp, một vài năm tới vẫn phải dựa vào điều
kiện sẵn có chủ yếu dựa trên chi phí đầu vào và không tiếp cận được trực
tiếp người tiêu dùng cuối cùng. Do đó, cũng như cả nước nền kinh tế
thường rất nhạy cảm với chu kỳ kinh tế toàn cầu và khu vực, phụ thuộc giá
cả hàng hóa và biến động tỷ giá.
Ngoài ra, biến đổi khí hậu sẽ làm cho nước biển dâng và thay đổi điều
kiện tự nhiên của Cà Mau. Quá trình phát triển của tỉnh phải đảm bảo thích
nghi với những tai biến của thời tiết được dự báo với nhiều kịch bản khác
nhau có thể xảy ra với những thiệt hại to lớn và khó lường.
4.1.3. Đánh giá những tác động trong và ngoài nước ảnh hưởng
đến phát triển kinh tế, xã hội và nông nghiệp phát triển theo hướng
bền vững ở tỉnh Cà Mau
Thứ nhất, điều kiện tự nhiên của tỉnh là một lợi thế quan trọng cho
phát triển kinh tế, xã hội của địa phương nói riêng, nông nghiệp phát triển
bền vững nói chung. Tỉnh nằm trên bán đảo Cà Mau, miền đất cuối của
vùng Đồng bằng sông Cửu Long và đất nước, cách không xa các nước khu
vực Đông Nam Á (Campuchia, Thái Lan, Malaysia, Singapo) nên là đầu
mối của hai hành lang phát triển kinh tế quan trọng của Đồng bằng sông

phát huy tối đa nội lực, tập trung khai thác tiềm năng và lợi thế so sánh,
tăng cường liên kết phát triển, nhất là liên kết vùng Đồng bằng sông Cửu
Long, đẩy mạnh hội nhập kinh tế quốc tế, đặt nhiệm vụ phát triển nông
nghiệp của tỉnh trong chiến lược phát triển nông nghiệp của cả nước và
vùng Đồng bằng sông Cửu Long.
Thứ hai: Nông nghiệp phát triển theo hướng bền vững là quá trình bảo
đảm gắn kết chặt chẽ với thực hiện chiến lược phát triển kinh tế, xã hội,
hài hòa và đồng bộ với quy hoạch phát triển kinh tế, xã hội, quy hoạch
phát triển kinh tế vùng, nâng cao vị thế cạnh tranh của tỉnh.
Thứ ba: Nông nghiệp phát triển theo hướng bền vững trên cơ sở khai
thác hợp lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên, thực hiện tiết kiệm, chống lãng
phí, làm tổn hại trong sử dụng các nguồn lực tự nhiên có sẵn để phát triển các
ngành tỉnh có lợi thế.
Thứ tư: Nông nghiệp phát triển theo hướng bền vững cần có chính
sách hỗ trợ của trung ương và địa phương đồng bộ, phù hợp với điều kiện
và yêu cầu phát triển của tỉnh.
Thứ năm: Nông nghiệp phát triển theo hướng bền vững trên cơ sở huy
động tối đa các nguồn lực xã hội, các thành phần kinh tế, sự trợ giúp của các
tổ chức trong và ngoài nước và của các ngành các cấp từ tỉnh đến cơ sở.
Thứ sáu: Nông nghiệp phát triển theo hướng bền vững phải gắn chặt
với xây dựng nông thôn mới, cải thiện cuộc sống của người dân.
4.3. PHƯƠNG HƯỚNG, MỤC TIÊU XÂY DỰNG NỀN NÔNG NGHIỆP
PHÁT TRIỂN THEO HƯỚNG BỀN VỮNG Ở TỈNH CÀ MAU GIAI ĐOẠN,
2016 - 2025

4.3.1. Phương hướng xây dựng nền nông nghiệp phát triển theo
hướng bền vững ở tỉnh Cà Mau
4.3.1.1. Những căn cứ xây dựng phương hướng
Để đảm bảo tính khả thi, phương hướng xây dựng nền nông nghiệp


tranh cao hoặc có tiềm năng trong tương lai.
Cà Mau cần phải phát triển mô hình kinh tế thu hút được lao động dư
thừa trong khu vực nông nghiệp, cải thiện môi trường kinh doanh nội tỉnh
để thúc đẩy sự phát triển các nông trại, doanh trại, liên kết, hợp tác và các
doanh nghiệp tư nhân, đặc biệt là các doanh nghiệp siêu nhỏ, nhỏ và vừa.
Tối ưu hóa lợi thế tự nhiên của Cà Mau; xây dựng nền nông nghiệp phát
triển hài hòa cả bề rộng và chiều sâu, nhất là lĩnh vực tỉnh có lợi thế lớn
như khai thác biển, nuôi trồng và chế biến thủy sản.
- Tăng thu nhập cho người sản xuất nông nghiệp trên cơ sở tạo điều
kiện cho tất cả các thành phần kinh tế, nhất là nhóm: người nghèo và cận
nghèo ở nông thôn, người dân vùng sâu, vùng xa không thuận tiện với điều
kiện đất đai, sinh thái, nhóm đồng bào dân tộc và phụ nữ tham gia vào quá


20

trình tăng trưởng nông nghiệp thông qua hỗ trợ giảm nghèo, hỗ trợ duy trì
sản xuất và thu nhập, tăng khả năng tiếp cận thị trường lao động phi nông
nghiệp, đa dạng hóa sinh kế cho cư dân nông thôn, giải quyết tốt vấn đề an
ninh lương thực. Phát triển hướng tới thực hiện các mục tiêu ưu tiên về
phúc lợi cho nông dân và người tiêu dùng.
- Giảm thiểu các hoạt động bất lợi đến môi trường trong khai thác các
nguồn lực cho sản xuất ngư, nông, lâm sản; tăng hiệu quả quản lý và sử
dụng các nguồn tài nguyên; tăng cường các biện pháp giảm phát thải; quản
lý và sử dụng hiệu quả an toàn các loại hóa chất, thuốc trừ sâu, chất thải từ
chăn nuôi, trồng trọt, công nghiệp chế biến và làng nghề; bảo tồn đa dạng
sinh học. Khuyến khích áp dụng các tiêu chuẩn môi trường kèm cơ chế
giám sát chặt chẽ để thúc đẩy phát triển chuỗi giá trị nông nghiệp.
4.3.2. Mục tiêu xây dựng nền nông nghiệp phát triển theo hướng
bền vững ở tỉnh Cà Mau

nguồn nguyên liệu tại chỗ, tạo mặt bằng thông thoáng cho doanh nghiệp
đầu tư, chính sách ưu đãi về vốn, về thuế, về máy móc thiết bị đầu tư cho
sản xuất, kinh doanh trên lĩnh vực nông nghiệp nông thôn; chính sách đầu
tư tàu thuyền đánh bắt xa bờ; đầu tư các trung tâm nghiên cứu, dự báo, các
trung tâm giống, cây trồng, vật nuôi….
- Hỗ trợ các hình thức tổ chức sản xuất nông nghiệp, củng cố và phát
triển kinh tế tập thể, với nòng cốt là hợp tác xã, nhất là ở vùng nuôi trồng,
đánh bắt thủy sản, trồng trọt, chăn nuôi chuyên môn hóa lớn, phát triển các
làng nghề thủ công.
- Phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp, tiêu thụ hàng
hóa nông sản, chống buôn lậu, gian lận thương mại kết hợp với các biện
pháp giảm giá thành và nâng cao chất lượng sản phẩm để tăng sức cạnh
tranh trên thị trường.
- Huy động các nguồn vốn đầu tư cho phát triển nông nghiệp, nâng
cao tỷ trọng nguồn vốn từ ngân sách để đầu tư cho xây dựng kết cấu hạ
tầng kinh tế, xã hội, phát triển nguồn nhân lực, chăm sóc sức khỏe nhân
dân, đảm bảo an sinh xã hội và bảo vệ môi trường.
4.4.2. Nhóm các giải pháp xây dựng nền nông nghiệp phát triển
theo hướng bền vững trên phương diện kinh tế
- Xây dựng các ngành kinh tế nông nghiệp đáp ứng yêu nông nghiệp
phát triển theo hướng bền vững, cần chú trọng phát triển ngành trồng trọt,
hình thành vùng sản xuất hàng hóa tập trung, đầu tư thâm canh, tăng vụ,
giống cây trồng, vật nuôi cho năng suất cao.
- Phát triển nhanh ngành chăn nuôi theo phương thức công nghiệp,
bán công nghiệp, an toàn dịch bệnh, phát huy lợi thế của từng địa phương
trong tỉnh.
- Tập trung phát triển lâm nghiệp toàn diện, bảo vệ rừng hiện có, nhất
là rừng tràm ở Vườn quốc gia U Minh hạ, rừng đước ở Vườn quốc gia Mũi
Cà Mau, ứng dụng công nghệ nuôi cấy mô, hom và những phương pháp
nhân giống tiên tiến khác để rừng Cà Mau ngày càng phát triển đa dạng,

xuyên học hỏi, nâng cao năng lực làm việc của mình. Mở ra cơ chế thu hút
nhân tài, áp dụng hình thức khuyến khích bổ nhiệm và cấp đất, cấp nhà ở
cho các đối tượng có bằng Thạc sĩ, Tiến sĩ từ nơi khác đến phục vụ.
- Tăng cường đào tạo nghề, ưu tiên lao động bị mất đất sản xuất do
Nhà nước thu hồi, chuyển đổi mục đích sử dụng đất; lao động thuộc diện
chính sách, dân tộc thiểu số, lao động nữ và lao động chưa có việc làm.
Rà soát, đánh giá lại thực trạng về số lượng, chất lượng lao động trong
khu vực nông thôn để làm cơ sở xây dựng kế hoạch đào tạo nhằm đáp
ứng nhu cầu sản xuất nông nghiệp và chuyển dịch lao động sang khu vực
phi nông nghiệp.
- Đẩy mạnh việc ứng dụng khoa học công nghệ nhằm thúc đẩy nông
nghiệp phát triển theo hướng bền vững. Quan tâm đúng mức đối với ứng
dụng khoa học và công nghệ vào nuôi trồng, khai thác, chế biến thủy sản,
lâm sản xuất khẩu; lai tạo giống nuôi, chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ
thuật cho nông dân.
- Tiếp tục thực hiện các chính sách hỗ trợ phát triển trực tiếp từ ngân
sách cho các vùng dân tộc thiểu số, vùng khó khăn. Đối với những vùng
kinh tế khó khăn và đặc biệt khó khăn, 13 xã thuộc chương trình 135 và 7
xã bãi ngang cần tập trung đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng như đường
giao thông, trường học, trạm y tế, nhà bưu điện văn hóa xã, chợ, nước sạch
sinh hoạt.


23

4.4.4. Nhóm các giải pháp xây dựng nền nông nghiệp phát triển
theo hướng bền vững xét trên phương diện môi trường
Triển khai nhiệm vụ bảo vệ môi trường và để duy trì chất lượng cuộc
sống của người dân, giám sát việc thực thi các quy định pháp luật về môi
trường, về quy hoạch phát triển bền vững nông nghiệp của tỉnh. Ủy ban

nghiệp theo hướng bền vững. Xây dựng các cụm liên kết ngành với các
ngành có lợi thế ngay tại Cà Mau và kết nối các ngành khác của Cà Mau
với những cụm ngành vùng Đồng bằng sông Cửu Long hoặc Đông Nam
Bộ. Cần quy hoạch lại ngành nuôi trồng và chế biến thủy sản theo mô hình



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status