1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Công tác bầu cử (CTBC) của đại hội đảng bộ xã có vai trò đặc biệt
quan trọng, lựa chọn những đảng viên tiêu biểu cho phẩm chất, trí tuệ, năng
lực và uy tín của đảng bộ để đưa vào cơ quan lãnh đạo của đảng bộ và các
chức danh lãnh đạo trong đảng ủy, đồng thời đặt cơ sở cho việc xây dựng,
kiện toàn đội ngũ cán bộ lãnh đạo chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các cơ
quan, đoàn thể trong xã; qua đó góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo và sức
chiến đấu của đảng bộ, thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ địa phương.
Thực tiễn cách mạng nước ta cho thấy, sức mạnh bền vững của Đảng
và cả hệ thống chính trị (HTCT) luôn bắt đầu từ cơ sở, cơ sở mạnh thì toàn
Đảng mạnh. Xã là loại hình cơ sở hoàn chỉnh với đầy đủ các mặt cấu trúc của
đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội; nơi khởi nguồn, kiểm nghiệm và
đích đến của các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của
Nhà nước; nơi rèn luyện, đào tạo, sàng lọc cán bộ, đảng viên; cầu nối mối
quan hệ mật thiết giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân. Đảng bộ xã là nền tảng
của Đảng, đồng thời là hạt nhân chính trị ở cơ sở. Sự lãnh đạo đúng đắn của
đảng bộ xã sẽ tạo tiền đề, động lực cho sự phát triển; ngược lại những hạn
chế, sai lầm trong lãnh đạo cũng kìm hãm sự phát triển và làm nảy sinh nhiều
hệ lụy trong cộng đồng, thậm chí trong cả hệ thống bộ máy. Những thành
công hay thất bại đó phụ thuộc rất lớn vào việc bầu cử cơ quan lãnh đạo của
đảng bộ và từng cá nhân trong cơ quan đó. Điều này càng có ý nghĩa đối với
đảng bộ xã ở các tỉnh đồng bằng sông Hồng (ĐBSH), vùng trọng điểm phát
triển của phía Bắc, địa bàn chiến lược đặc biệt quan trọng, tác động trực tiếp
và to lớn đến quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đến sự ổn định và phát
triển của cả nước.
2
Nhận thức rõ ý nghĩa quan trọng đó, thời gian qua, các cấp ủy đảng ở
những vấn đề đặt ra để thực hiện tốt hơn CTBC của ĐHĐB đảng bộ xã ở các
tỉnh đồng ĐBSH thời gian tới đang là vấn đề quan trọng, cần phải nghiên cứu,
giải quyết thỏa đáng. Vì vậy, việc thực hiện đề tài "Công tác bầu cử của Đại
hội đại biểu đảng bộ xã ở các tỉnh đồng bằng sông Hồng giai đoạn hiện
nay" có ý nghĩa cấp thiết cả về lý luận và thực tiễn.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
2.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở làm rõ những vấn đề cơ bản lý luận và thực tiễn về CTBC
của ĐHĐB đảng bộ xã ở các tỉnh ĐBSH giai đoạn hiện nay; luận án đề xuất
phương hướng, giải pháp thực hiện tốt CTBC của ĐHĐB đảng bộ xã ở các
tỉnh ĐBSH thời gian tới.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài.
- Luận giải khái quát đặc điểm, vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ của
đảng bộ xã; nội dung, nhiệm vụ, vai trò của ĐHĐB đảng bộ xã ở các tỉnh
ĐBSH.
- Làm rõ những vấn đề cơ bản lý luận và thực tiễn về bầu cử trong Đảng
và CTBC của ĐBĐB đảng bộ xã ở các tỉnh ĐBSH.
- Khảo sát, đánh giá thực trạng; rút ra nguyên nhân, kinh nghiệm và
những vấn đề đặt ra trong CTBC của ĐHĐB đảng bộ xã ở các tỉnh ĐBSH giai
đoạn hiện nay.
- Xác định phương hướng, đề xuất những giải pháp chủ yếu để thực
hiện tốt hơn CTBC của ĐHĐB đảng bộ xã ở các tỉnh ĐBSH thời gian tới.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận án
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Luận án nghiên cứu: CTBC của ĐHĐB đảng bộ xã ở các tỉnh ĐBSH giai
đoạn hiện nay.
4
5
hội lựa chọn được những đảng viên tiêu biểu về phẩm chất, năng lực, uy tín để
bầu vào đảng ủy và các chức danh lãnh đạo trong đảng ủy (nếu đại hội trực
tiếp bầu)
- Luận án khẳng định mối quan hệ và vai trò tác động của CTBC với chất
lượng đội ngũ cán bộ đảng bộ, chất lượng công tác lãnh đạo của đảng bộ xã.
- Từ thực trạng của trong CTBC của ĐHĐB đảng bộ xã ở các tỉnh
ĐBSH hiện nay, luận án rút ra sáu kinh nghiệm và đề xuất sáu giải pháp nâng
cao chất lượng, hiệu quả CTBC của ĐHĐB đảng bộ xã ở các tỉnh ĐBSH thời
gian tới, trọng tâm là: tăng cường thực hành dân chủ đi đôi với thực hiện
nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ trong CTBC; chuẩn bị tốt nhân sự; cải
tiến và hoàn thiện nội dung, quy trình, biện pháp bầu cử; xây dựng cơ chế
kiểm soát việc thực hiện chức trách người trúng cử.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
6.1. Ý nghĩa lý luận
Luận án góp phần làm rõ những vấn đề lý luận về CTBC của ĐHĐB
đảng bộ xã ở các tỉnh ĐBSH giai đoạn hiện nay.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Luận án có thể làm tài liệu tham khảo cho đổi mới và hoàn thiện công
tác bầu cử của đại hội Đảng ở cơ sở; làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên
cứu, giảng dạy, học tập môn Xây dựng Đảng.
7. Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,
luận án gồm 4 chương, 9 tiết.
6
Chƣơng 1
TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU
LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
dân chủ, thiếu nó thì các quyền khác đều trở nên vô nghĩa. Nó đem lại cho
người dân với tư cách là những cá nhân có quyền tự quyết định số phận của
mình. Các cuộc bầu cử là công cụ hữu hiệu để phá bỏ những bức tường phi lý
đã ngăn cách người này với người kia. Và quyền bầu cử là tổng thể các quyền
của công dân trong quá trình bầu cử các cơ quan nhà nước ở trung ương và
địa phương bao gồm quyền bầu cử và quyền ứng cử.
Sách Đổi mới công tác xây dựng Đảng ở nông thôn (Trung Quốc) của
học giả Chu Chí Hòa là công trình nghiên cứu lớn về công tác xây dựng đảng
ở nông thôn Trung Quốc, trong đó có việc lựa chọn bí thư tổ chức đảng ở
nông thôn bằng cách bầu cử. Theo tác giả, giới thiệu và bầu cử công khai là
cách làm rất hiệu quả. Để thực hiện phương thức này, cần nắm chắc tiêu
chuẩn giới thiệu, bầu cử; mở rộng quỹ đạo giới thiệu công khai; chuẩn hóa
trình tự lựa chọn công khai; đồng thời thực hiện các quy trình: “xây dựng
phương án tuyên truyền, tuyên truyền phát động; giới thiệu, giới thiệu một
cách dân chủ, thẩm tra tư cách ứng cử viên; đánh giá, bình xét theo ý kiến của
nhân dân, kiểm tra, sát hạch ứng cử viên; tiến hành bầu cử, ký quyết định bổ
nhiệm” [49, tr.407]. Việt Nam có nhiều điểm tương đồng với Trung Quốc,...
những kinh nghiệm, gợi ý của tác giả có giá trị tham khảo tốt với công tác bầu
cử ở vùng nông thôn nước ta.
Trên cơ sở những tương đồng về thể chế, thiết chế chính trị giữa Việt
Nam và Lào, bài “Tổ chức tốt đại hội cơ sở, vấn đề có ý nghĩa quyết định”
của tác giả Văn-Sỷ Bua-Lay-Thoong [104] cũng cho thấy, công tác bầu cử
giữa Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Nhân dân cách mạng Lào có nhiều
điểm chung: Một là, sự sát sao trong công tác chỉ đạo đại hội và bầu cử của
đại hội đảng các cấp tiến tới đại hội Đảng toàn quốc (ở Đảng ta là tiến tới Đại
hội XII, Đảng bạn là tiến tới Đại hội X). Hai là, cách thức tổ chức và nội
dung đại hội các cấp. Ba là, kết quả đạt được và một số khó khăn, tồn tại
8
9
có: hệ thống bầu cử theo đa số, hệ thống bầu cử đại diện tỉ lệ và hệ thống bầu
cử hỗn hợp. Theo các tác giả, mỗi hệ thống đều có những ưu điểm và hạn chế
riêng; việc nghiên cứu, phân tích các hệ thống bầu cử đó có ý nghĩa quan trọng
trong việc tiếp tục xây dựng, hoàn thiện hệ thống bầu cử ở Việt Nam.
Bài “Ph. Ăngghen bàn về chế độ bầu cử trong xã hội tư bản” của Trịnh
Xuân Thắng [103] đã nghiên cứu về những quan điểm, phân tích, đánh giá của
Ph. Ăngghen đối với cơ chế bầu cử của các nước tư bản thế kỷ XIX: Từ việc
phân tích những điều kiện, cơ chế và thực tế hoạt động bầu cử trong các quốc
gia tư sản ở thời đại mình, Ph. Ăngghen chỉ ra việc quy định quyền ứng cử và
bầu cử cho mọi công dân chỉ là hình thức, giả hiệu; họ đã đặt ra những điều
kiện, quy tắc, cơ chế có lợi cho giai cấp mình và hạn chế tối đa, tiến tới loại bỏ
sự tham gia chính trường của các giai tầng khác; nguyên tắc bình đẳng mà pháp
luật đưa ra đã bị xóa bỏ bằng việc bảo đảm những điều kiện tối thiểu và không
giới hạn về tài sản đối với hoạt động bầu cử. Thực chất đó là cuộc chạy đua về
ảnh hưởng của tài sản trong các cuộc bầu cử. Dẫn chiếu những nhận định, phân
tích của Ph. Ăngghen vào chế độ bầu cử ở các quốc gia tư bản hiện nay, tác giả
cho rằng, họ vẫn giữ nguyên “thủ đoạn chính trị” đó.
1.2. CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VỀ BẦU CỬ Ở VIỆT NAM
1.2.1. Nghiên cứu về bầu cử cơ quan quyền lực nhà nƣớc
Luận án Hoàn thiện chế độ bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân ở nước
ta hiện nay của Vũ Thị Loan [64] là một trong số ít công trình chuyên khảo
sớm nghiên cứu về con đường hình thành quyền lực nhà nước thông qua hoạt
động bầu cử ở Việt Nam. Để kiến giải cho những nhận định và giải pháp của
mình, tác giả đã trình bày hệ thống lý luận về chế độ bầu cử cơ quan quyền
lực nhà nước trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng. Trên cơ sở
phân tích thực trạng hoạt động, chất lượng bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân
các cấp nhiệm kỳ 1994-1999, nhiệm kỳ 1999-2004 và nhiệm kỳ 2004-2009,
tác giả đề xuất một số giải pháp đổi mới và hoàn thiện chế độ bầu cử đại biểu
11
chủ thể của Mặt trận tổ quốc Việt Nam đối với việc tổ chức vận động bầu cử”,
Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, (9), tr. 10-13; Nguyễn Thanh Bình (2011), “Mặt
trận tổ quốc Việt Nam thực hiện quyền giám sát đối với bầu cử đại biểu quốc
hội và hội đồng nhân dân các cấp”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, (10), tr. 1417; Đông Quan (2011), “Bầu cử ở Việt Nam dân chủ hình thức hay dân chủ
thực chất”, Tạp chí Quốc phòng toàn dân, (5), tr. 63-65; Vũ Văn Nhiêm (2011)
“Vai trò của bầu cử trong việc xây dựng Nhà nước pháp quyền của dân, do dân,
vì dân”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, (14), tr. 13-21,… cũng có nhiều phản
ánh, phân tích, đánh giá, bình luận và đề xuất về vấn đề bầu cử cơ quan dân cử
ở Việt Nam. Tuy các công trình tập trung bàn về bầu cử của cơ quan dân cử
nhưng cũng gợi mở nhiều vấn đề khi nghiên cứu về bầu cử trong Đảng.
1.2.2. Nghiên cứu về bầu cử và công tác bầu cử trong Đảng
1.2.2.1. Nghiên cứu về đại hội và bầu cử trong Đảng nói chung
* Về những chỉ dẫn từ kinh điển cho đại hội và bầu cử
Trước thềm Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI, tác giả Nguyễn Văn
Giang có bài “Đại hội Đảng - từ những chỉ dẫn kinh điển đến thực tiễn” [42]
và trước thềm Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII, tác giả Trần Đình Huỳnh
có bài “Trước thềm Đại hội XII của Đảng Cộng sản Việt Nam - Nghĩ về
những chỉ dẫn của V.I. Lênin” [53]. Nghiên cứu của hai tác giả đã cung cấp
những chỉ dẫn lý luận quan trọng, còn nguyên giá trị thời sự từ các nhà kinh
điển, qua đó gợi mở, định hướng những vấn đề cơ bản trong tổ chức đại hội
và CTBC của Đảng. Trong đó, nghiên cứu của tác giả Nguyễn Văn Giang đã
khẳng định: đại hội “là cơ quan có thẩm quyền cao nhất để quyết định các
công việc hệ trọng của đảng,... là một dịp để kiện toàn cơ quan lãnh đạo các
cấp của đảng”, đồng thời đề xuất một số giải pháp, kiến nghị góp phần nâng
cao hiệu quả, chất lượng đại hội đảng và CTBC. Còn tác giả Trần Đình
Huỳnh cho rằng, những quan điểm và cách chỉ đạo của V.I. Lênin đối với Đại
hội X và Đại hội XI Đảng Cộng sản (b) Nga, cũng “như đang nói cùng chúng
cử và các văn bản hướng dẫn thực hiện.
13
* Về dân chủ trong đại hội và bầu cử. Đây là vấn đề được nhiều tác giả
nghiên cứu phản ánh, trong đó:
Đề tài khoa học Đổi mới công tác bầu cử trong Đảng trước yêu cầu của
tình hình mới do tác giả Nguyễn Khắc Dịu làm chủ nhiệm [26] đã khái quát
một số vấn đề lý luận về CTBC trong Đảng Cộng sản Việt Nam hiện nay; phân
tích thực trạng “công tác bầu cử của Đại hội Đảng các cấp khóa XI”; đề xuất
một số giải pháp, kiến nghị đổi mới CTBC trong Đảng thời gian tới. Những
khái quát lý luận và thực tiễn về bầu cử, kiến nghị và giải pháp được nêu trong
đề tài phản ánh tinh thần dân chủ về CTBC nhưng ở tầm chiến lược của cấp
Trung ương.
Trên cơ sở phân tích nguyên tắc tập trung dân chủ và tình hình trong
Đảng hiện nay, qua bài “Dân chủ nội bộ Đảng trong thời kỳ mới” [20], tác giả
Lê Đức Bình cho rằng: “đi liền với giữ vững tập trung và kỷ luật, mở rộng
dân chủ nội bộ Đảng là vấn đề đang được đặt ra cấp thiết”. Đối với đại hội và
bầu cử trong Đảng, tác giả kiến nghị: “Hoàn thiện cơ chế bầu cử trong Đảng
theo hướng thực hiện dân chủ đầy đủ hơn nữa” [20, tr.24]. Tiếp tục quan điểm
này, trong bài “Dân chủ bầu cử và định rõ trách nhiệm trong đổi mới công tác
cán bộ” [57], tác giả Bùi Đức Lại nhấn mạnh: “bầu cử cơ quan lãnh đạo là
một tiêu chí hàng đầu, một nguyên tắc quan trọng bậc nhất của thể chế dân
chủ” [57, tr.45]. Theo tác giả, cần đổi mới nhận thức về việc bầu cử, đổi mới
quy chế bầu cử theo hướng mở rộng dân chủ trong các khâu của quá trình bầu
cử. Đồng quan điểm này, tác giả Hải Trà trong bài “Khơi gợi trách nhiệm để
đảng viên thực hiện quyền ứng cử trong đại hội” [107] đặt vấn đề: “đoàn chủ
tịch cần dành thời gian để gợi mở, khích lệ tinh thần trách nhiệm, giúp cho đại
biểu tự tin ứng cử hoặc đề cử những người đủ tài, đủ đức tham gia cấp ủy để
gánh vác công việc của Đảng, của dân mà không nên giới thiệu ngay danh
hệ thống những nguyên tắc, quy chế, quy trình chặt chẽ và thường xuyên
kiểm tra việc tổ chức thực hiện.
15
Bầu cử trong Đảng là hoạt động của đảng viên và các tổ chức đảng.
Song, Đảng ta là đảng duy nhất cầm quyền; Đảng từ nhân dân mà ra, lý tưởng
cao cả của Đảng là phục vụ, bảo vệ, chăm lo lợi ích chính đáng của nhân dân.
Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đã nhiều lần khẳng định, dựa vào dân để
xây dựng Đảng. Vì vậy, việc tham gia xây dựng Đảng, trong đó có hoạt động
bầu cử của Đảng vừa là trách nhiệm, thẩm quyền của nhân dân,… Đây là tinh
thần chung của tác giả Vũ Ngọc Lân trong bài “Hãy để dân lựa chọn, giới
thiệu” [62], tác giả Nguyễn Thế Trung trong bài “Về lòng dân, ý Đảng trong
giai đoạn hiện nay” [109], tác giả Bùi Đức Lại trong bài “Dân chủ bầu cử và
định rõ trách nhiệm trong đổi mới công tác cán bộ” [57],… Theo đó, các tác
giả cho rằng: cần bảo đảm, tăng cường và phát huy vai trò của nhân dân trong
các kỳ đại hội, “các cấp ủy đảng quan tâm, lắng nghe ý kiến góp ý, xây dựng,
giới thiệu của nhân dân để chọn người có đức, có tài cho Đảng” [109, tr.35],
hay tạo điều kiện và “có phương thức thích hợp để người dân tham gia lựa
chọn cán bộ lãnh đạo của Đảng” [57, tr.45].
* Về công tác chuẩn bị nhân sự cho bầu cử
Trong bài “Vấn đề tiêu chuẩn trong lựa chọn nhân sự cấp ủy” [110], tác
giả Hồng Văn khẳng định: việc lựa chọn nhân sự cấp ủy phải trên cơ sở
những tiêu chuẩn xác định, đó là phải vừa “hồng”, vừa “chuyên”. Theo tác
giả, sở dĩ hiện nay còn tồn tại nhiều tiêu cực trong đội ngũ cán bộ như nói dối,
tham nhũng, chạy tuổi, chạy chức là “công tác chuẩn bị nhân sự cấp ủy các
cấp chưa tốt,… chưa lựa chọn được người đủ đức, đủ tài để giới thiệu bầu vào
cấp ủy,… có nơi đảng viên còn vi phạm đạo đức, lối sống, tham ô, tham
nhũng, mắc sai phạm trong quản lý kinh tế, tín nhiệm với nhân dân thấp vẫn
được giới thiệu bầu vào cấp ủy” [110, tr.45]. Để khắc phục tình trạng trên, tác
cách làm tốt để đào tạo, bồi dưỡng cán bộ trưởng thành qua thực tiễn, là một
trong những cơ sở để chuẩn bị nhân sự cho cấp ủy khóa mới có số lượng và
17
cơ cấu hợp lý, bảo đảm tính kế thừa và phát triển, đáp ứng không chỉ cho yêu
cầu trước mắt mà chuẩn bị cho các nhiệm kỳ sau.
Qua nắm bắt tình hình thực tiễn, cập nhật những quy định mới về cán
bộ và công tác cán bộ, tác giả Trần Lưu Hải trong bài “Tiếp tục đổi mới công
tác cán bộ, chuẩn bị tốt công tác nhân sự đại hội đảng bộ các cấp, bảo đảm
thành công Đại hội XII của Đảng” [46] nhấn mạnh: việc chuẩn bị và bầu ra
BCH đảng bộ thực sự tiêu biểu cho phẩm chất, năng lực và trí tuệ của đảng bộ
là nhiệm vụ số một; chú trọng lựa chọn, giới thiệu nhân sự phải đặc biệt coi
trọng về tiêu chuẩn, trên cơ sở đó cần có cơ cấu hợp lý để bảo đảm sự lãnh đạo
toàn diện của cấp ủy; làm tốt công tác tư tưởng và phân công nhiệm vụ cho các
cấp ủy viên; đảm bảo chế độ, chính sách cho cán bộ theo quy định hiện hành.
* Về chủ trương, quy chế bầu cử trong Đảng
Đề tài khoa học Cơ sở lý luận và thực tiễn về chủ trương đại hội trực
tiếp bầu ban thường vụ, bí thư, phó bí thư đảng ủy xã, phường, thị trấn do tác
giả Mai Xuân Long làm chủ nhiệm [65] đã nghiên cứu chất lượng bầu cử
BTV, BT, PBT đảng ủy xã, phường, thị trấn và kết quả hoàn thành nhiệm vụ
chính trị ở các đơn vị, đồng thời luận giải cơ sở lý luận và thực tiễn bước
chuyển từ dân chủ đại diện sang dân chủ trực tiếp,... Từ đó trình bày 4 giải
pháp và 4 đề xuất, kiến nghị thực hiện chủ trương đại hội trực tiếp bầu BTV,
BT, PBT đảng ủy xã, phường, thị trấn nhiệm kỳ 2010-2015. Sách Một số vấn
đề về xây dựng tổ chức cơ sở đảng hiện nay của tác giả Nguyễn Đức Hà [43]
cũng trình bày nhiều quan điểm của Đảng và kinh nghiệm của tác giả trong hoạt
động thực tiễn, qua đó cung cấp những cơ sở lý luận và thực tiễn để ban hành
chủ trương đại hội trực tiếp bầu BTV, BT, PBT đảng ủy xã, phường, thị trấn,
đồng thời xác định một số giải pháp, lộ trình cho việc thực hiện chủ trương này.
bổ sung trong quy chế mới; đồng thời đề nghị, hướng dẫn các cấp ủy những
vấn đề cơ bản khi chuẩn bị và tiến hành đại hội nhất là CTBC của mỗi nhiệm
kỳ. Đối với Quy chế bầu cử trong Đảng hiện nay, tác giả Nguyễn Đức Hà
nhấn mạnh: “Quy chế… lần này là một bước tiến mới trong nhận thức và thực
19
hiện nguyên tắc tập trung dân chủ của Đảng; xác định rõ trách nhiệm của các
cấp ủy viên. Quy chế vừa quy định số dư tối thiểu, vừa quy định số dư tối đa
khi bầu cử; vừa phát huy tính dân chủ, vừa bảo đảm tính tập trung trong Đảng
và khắc phục tình trạng bầu thiếu số lượng so với số lượng cần bầu” [44].
* Về nguyên tắc tập trung dân chủ trong bầu cử
Tác giả Phạm Văn Hiểu trong bài “Suy nghĩ về nguyên tắc tập trung
dân chủ trong bầu cử” [48] cho rằng: “ nguyên tắc tập trung dân chủ thể hiện
trong bầu cử trong Đảng đã từng bước được hoàn thiện, dân chủ trong Đảng
ngày càng được mở rộng, tác động tích cực đến thực thi dân chủ của toàn xã
hội” [48, tr.54]. Tuy nhiên, theo tác giả vẫn còn tồn tại một số biểu hiện vi
phạm nguyên tắc này trong bầu cử của đại hội như, bỏ phiếu trắng hay bầu
thiếu cấp ủy so với cơ cấu, số lượng đã được đại hội thông qua,… Để hạn chế,
khắc phục tình trạng này, đồng thời phát huy nguyên tắc tập trung dân chủ
trong bầu cử, tác giả đã đề xuất một số giải pháp như: Ở những nơi tổ chức cơ
sở đảng yếu kém, nội bộ mất đoàn kết chưa nên thực hiện chủ trương đại hội
đảng bộ trực tiếp bầu BTV, BT, PBT.
Cùng quan điểm này, tác giả Nguyễn Mạnh Toản trong bài “Thực hiện
tốt nguyên tắc tập trung dân chủ trong công tác nhân sự đại hội đảng bộ các
cấp” [97] cũng khẳng định vai trò quan trọng của nguyên tắc tập trung dân
chủ trong công tác cán bộ, “đặc biệt là trong công tác nhân sự đại hội đảng
bộ các cấp ở mỗi nhiệm kỳ” [97, tr.48]. Để thực hiện tốt nguyên tắc này
trong công tác nhân sự đại hội, tác giả đặt vấn đề “phải nâng cao năng lực,
trách nhiệm của từng cấp ủy viên trong bàn bạc và quyết định nhân sự đại
sung, hoàn thiện các đề án nhân sự bảo đảm đúng tiêu chuẩn, cơ cấu, độ tuổi
theo quy định phù hợp với thực trạng hiện có; cần chú ý thực hiện tốt những
điểm mới trong công tác nhân sự”; “khuyến khích việc ứng cử, đề cử tại đại
hội để bảo đảm danh sách bầu cử có số dư hợp lý”... [106, tr.26-27].
Bài “Từ kết quả đại hội điểm và thí điểm Đảng bộ cơ sở nhiệm kỳ
2015-2020” [59] và bài “Đại hội đảng bộ cấp cơ sở nhiệm kỳ 2015-2020 -
21
Những kết quả đạt được và tồn tại, hạn chế cần rút kinh nghiệm” [60] của tác
giả Nguyễn Ngọc Lâm đã khái quát tình hình thực tế trong CTBC của các
đảng bộ cơ sở hiện nay. Trong đó có một số tồn tại như: nhiều nơi việc đổi
mới và tỷ lệ cán bộ trẻ, cán bộ nữ, cán bộ là người dân tộc thiểu số chưa đạt
yêu cầu. Công tác chuẩn bị nhân sự ở một số nơi chưa mở rộng dân chủ, không
nắm chắc tình hình cán bộ, còn gò ép; có nơi còn biểu hiện cục bộ, vận động
không bầu cho cán bộ được cấp trên điều động, luân chuyển về cơ sở. Ở một số
đại hội, công tác điều hành của đoàn chủ tịch chưa được chuẩn bị kỹ, còn lúng
túng,... Từ thực trạng trên, tác giả chỉ ra một số nguyên nhân và bài học kinh
nghiệm cho quá trình tổ chức bầu cử của các đảng bộ khác và đảng bộ cấp trên.
Tác giả Nguyễn Hồng Trương từ thực tiễn trực tiếp chỉ đạo công tác
bầu cử của đại hội đảng bộ xã ở tỉnh Thái Bình, qua bài “Nhớ lại và suy
ngẫm” [24] đã khẳng định vai trò quan trọng của việc chuẩn bị nhân sự là yếu
tố hàng đầu tạo nên thành công của đại hội đảng ở cơ sở; đồng thời tác giả đã
chỉ ra một số bài học và giải pháp quan trọng cho CTBC của đại hội đảng ở
những nơi khó khăn, yếu kém, tồn tại nhiều vấn đề phức tạp. Trong đó: kết
hợp chặt chẽ công tác tổ chức với công tác tư tưởng tạo sự đồng thuận trong
đảng bộ và nhân dân; tăng cường sự chỉ đạo và phối hợp giữa cấp ủy với các
cơ quan, ban ngành; lựa chọn cán bộ phải quan tâm đến sự tín nhiệm, đồng
tình, ủng hộ của nhân dân, có khả năng quy tụ nhân dân, tránh tình trạng
“Đảng cử nhưng nhân dân không bầu”...
bộ các cấp” của tác giả Lê Thị Thu Hằng [47] phản ánh: cơ cấu nữ và trẻ tuổi
trong bầu cử cấp ủy nhiệm kỳ 2015-2020 của đại hội đảng bộ cấp cơ sở đã
vượt tỷ lệ theo quy định, trong đó: cấp ủy trẻ tuổi (từ 35 tuổi trở xuống) đạt
18,3%, cấp ủy nữ đạt 19,69%. Theo các tác giả, đạt được kết quả đó là do: cấp
ủy đã bám sát chỉ đạo, hướng dẫn của cấp trên; làm tốt công tác chuẩn bị
nguồn nhân sự trong quy hoạch, gắn quy hoạch với đào tạo và bồi dưỡng, rèn
luyện cán bộ; sự quan tâm, chỉ đạo quyết liệt của cấp ủy, trực tiếp người đứng
23
đầu trên cơ sở phát huy dân chủ trong đánh giá, lựa chọn cán bộ nữ, cán bộ trẻ
để giới thiệu tham gia cấp ủy trong quá trình tổ chức bầu cử.
1.3. KẾT QUẢ ĐẠT ĐƢỢC VÀ Ý NGHĨA CỦA CÁC CÔNG TRÌNH
NGHIÊN CỨU, NHỮNG VẤN ĐỀ LUẬN ÁN CẦN GIẢI QUYẾT
1.3.1. Kết quả đạt đƣợc và ý nghĩa của các công trình khoa học có
liên quan đến luận án
Qua tổng quan cho thấy, các công trình nghiên cứu đã đạt được những
kết quả quan trọng: Một là, luận giải vai trò, giá trị của bầu cử trong việc
thành lập bộ máy lãnh đạo của các thể chế quyền lực nhà nước; phân tích
đặc tính, ưu điểm và hạn chế của các hệ thống bầu cử trên thế giới. Hai là,
bước đầu nghiên cứu về lý luận bầu cử ở Việt Nam như hình thức, nguyên
tắc bầu cử; các yếu tố các động đến quá trình bầu cử,… nhiều công trình
phản ánh chủ trương, tình hình bầu cử đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân
dân các cấp tại mỗi kỳ bầu cử; qua đó đề xuất phương hướng, giải pháp đổi
mới và hoàn thiện hệ thống bầu cử cơ quan dân cử ở Việt Nam. Ba là, phân
tích các quan điểm, chủ trương, quy chế bầu cử của Đảng; xác định vai trò,
các điều kiện, đề xuất các giải pháp thực hiện tốt việc bầu cử trong Đảng.
Bốn là, nhiều công trình phản ánh khá sâu sắc tình hình, thực trạng, nguyên
nhân, kinh nghiệm bầu cử cấp ủy và các chức danh trong cấp ủy từ Trung
nghiên cứu đề xuất giải pháp để làm tốt CTBC của ĐHĐB đảng bộ xã ở các
tỉnh ĐBSH thời gian tới.
25
Chƣơng 2
CÔNG TÁC BẦU CỬ CỦA ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU ĐẢNG BỘ XÃ
Ở CÁC TỈNH ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG GIAI ĐOẠN HIỆN
NAY - NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
2.1. ĐẢNG BỘ XÃ VÀ ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU ĐẢNG BỘ XÃ Ở CÁC TỈNH
ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG HIỆN NAY
2.1.1. Đảng bộ xã ở các tỉnh đồng bằng sông Hồng
2.1.1.1. Khái quát về xã và đảng bộ xã ở các tỉnh đồng bằng sông Hồng
Theo Quyết định số 228/QĐ-TTg, ngày 10-02-2014 của Thủ tướng
Chính phủ về việc “Ban hành kế hoạch triển khai thực hiện Kết luận số 13KL/TW, ngày 28-10-2011 của Bộ Chính trị tiếp tục thực hiện Nghị quyết số
54-NQ/TW, ngày 14-9-2005 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế - xã hội và
bảo đảm quốc phòng, an ninh Vùng đồng bằng sông Hồng đến năm 2010 và
định hướng đến năm 2020”, vùng ĐBSH có hai thành phố là Hà Nội, Hải
Phòng và chín tỉnh gồm: Hải Dương, Hưng Yên, Bắc Ninh, Vĩnh Phúc, Quảng
Ninh, Thái Bình, Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình. Với diện tích hơn
21.060.000 km2, chiếm hơn 6% diện tích cả nước; dân số 20.925.500 người,
chiếm 22.8% dân số cả nước, “Vùng đồng bằng sông Hồng,... là địa bàn chiến
lược đặc biệt quan trọng về chính trị, kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh; là
vùng kinh tế lớn của đất nước với không gian kinh tế liên hoàn, gắn kết với
nhau, bổ trợ cho nhau nhằm phát huy tiềm năng, lợi thế so sánh của từng tỉnh,
thành phố trong vùng,...Việc phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng,
an ninh Vùng đồng bằng sông Hồng tác động trực tiếp và to lớn đến quá trình
công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đến sự ổn định và phát triển đất nước” [22].