VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
----------------------
TRẦN ĐÌNH BÍCH
MÂU THUẪN XÃ HỘI
TRONG CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ NÔNG NGHIỆP
Ở CÁC TỈNH ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG HIỆN NAY
LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC
Hà Nội, năm 2018
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
----------------------
TRẦN ĐÌNH BÍCH
MÂU THUẪN XÃ HỘI
TRONG CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ NÔNG NGHIỆP
Ở CÁC TỈNH ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG HIỆN NAY
Chuyên ngành : CNDVBC VÀ CNDVLS
Mã số
: 62.22.03.02
Học viện Khoa học xã hội thuộc Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam. Trong
quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận án, tôi đã nhận được sự giúp đỡ quý
báu của các cơ quan, các cấp lãnh đạo và các cá nhân. Tôi xin được bày tỏ lòng
biết ơn tới tất cả các tập thể và cá nhân đã tạo điều kiện, giúp đỡ tôi trong suốt
quá trình nghiên cứu và hoàn thành Luận án.
Trước tiên, tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến GS.TS. Nguyễn
Hữu Khiển, nhà khoa học đã luôn nhiệt tình, ân cần hướng dẫn cho tôi ngay từ
bước đầu cụ thể hóa hướng nghiên cứu đến nhận xét góp ý trong nghiên cứu và
hoàn thành luận án.
Tôi xin gửi lời cảm ơn trân trọng tới Học viện Khoa học xã hội, đã luôn
tạo điều kiện tốt nhất cho tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu tại Học viện
thông qua những khóa học và trao đổi về phương pháp nghiên cứu, các buổi hội
thảo khoa học, những buổi chia sẻ kinh nghiệm nghiên cứu và những dịp sinh
hoạt khoa học có liên quan khác.
Tôi xin dành lời cảm ơn chân thành tới lãnh đạo Trường Đại học Kinh
doanh & Công nghệ Hà Nội, Khoa Triết học & KHXH và bạn bè, đồng nghiệp
đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và
hoàn thành Luận án.
Tôi cũng khắc ghi tình cảm và sự biết ơn sâu sắc tới gia đình thân yêu đã
luôn là nguồn động viên lớn lao để tôi có thể tập trung nghiên cứu và quyết tâm
hoàn thành luận án một cách tốt nhất.
Mặc dù đã có nhiều cố gắng, nhưng không thể tránh khỏi những hạn chế
và thiếu sót nhất định khi thực hiện Luận án. Rất mong nhận được sự đóng góp ý
kiến của các nhà khoa học, quý Thầy, Cô giáo và bạn đọc.
Một lần nữa, tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 10 tháng 10 năm 2017
Tác giả luận án
Trần Đình Bích
2.2.3. Sự cần thiết của việc giải quyết mâu thuẫn xã hội trong chuyển dịch cơ
cấu kinh tế nông nghiệp ở Việt Nam hiện nay .................................................... 65
Kết luận chương 2 ..................................................................................................... 67
iv
Chương 3: MÂU THUẪN XÃ HỘI NẢY SINH TRONG QUÁ TRÌNH
CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ NÔNG NGHIỆP Ở CÁC TỈNH ĐỒNG
BẰNG SÔNG HỒNG HIỆN NAY: THỰC TRẠNG VÀ NGUYÊN NHÂN ....... 69
3.1. Thực trạng của mâu thuẫn xã hội nảy sinh trong chuyển cơ cấu kinh tế
nông nghiệp ở vùng đồng bằng sông Hồng hiện nay .......................................... 69
3.1.1. Mâu thuẫn giữa chuyển dịch cơ cấu nội bộ ngành nông nghiệp với nhu
cầu ổn định và nâng cao đời sống người nông dân ............................................. 70
3.1.2. Mâu thuẫn giữa yêu cầu phát triển kinh tế nông nghiệp với sự hạn chế
của các nguồn lực (vốn, đất đai, lao động, khoa học- kỹ thuật) .......................... 77
3.1.3. Mâu thuẫn giữa quá trình CDCCKT nông nghiệp theo hướng CNH,
HĐH với vấn đề bảo đảm an toàn xã hội và phát huy các giá trị văn hóa truyền
thống .................................................................................................................... 86
3.1.4. Mâu thuẫn giữa quá trình CDCCKT nông nghiệp, nông thôn với sự bất
cập của các cấp chính quyền trong triển khai thực hiện ...................................... 99
3.1.5. Mâu thuẫn giữa quá trình CNH, ĐTH với phát triển KT-XH nông
nghiệp, nông thôn .............................................................................................. 104
3.2. Nguyên nhân của mâu thuẫn xã hội nảy sinh trong chuyển dịch cơ cấu
kinh tế nông nghiệp ở đồng bằng sông Hồng .................................................... 111
3.2.1. Nguyên nhân do quá trình CDCCKT nông nghiệp còn thiếu bền vững . 111
3.2.2. Nguyên nhân do sự bất cập của một số chính sách trong phát triển nông
nghiệp, nông thôn .............................................................................................. 113
3.2.3. Nguyên nhân do yếu kém trong quản lý và điều hành của các cấp chính
quyền .................................................................................................................. 114
vi
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt
Nội dung chữ viết tắt
CHH
Công nghiệp hóa
CDCCKT
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế
ĐTH
Đô thị hóa
ĐBSH
Đồng bằng sông Hồng
HTKT-XH
Hình thái kinh tế - xã hội
HĐH
QHSX
Quan hệ sản xuất
UBND
Ủy ban nhân dân
XHCN
Xã hội chủ nghĩa
vii
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Danh mục bảng
Bảng 3.1. Cơ cấu GDP theo ngành kinh tế ................................................................... 69
Bảng 3.2. Tỷ lệ thất nghiệp và thiếu việc làm của lực lượng lao động vùng ĐBSH .... 89
Bảng 3.3. Tỷ lệ thất nghiệp và thiếu việc làm ở nông thôn vùng ĐBSH...................... 89
Danh mục biểu
Biểu đồ 3.1. Cơ cấu giá trị sản xuất nông nghiệp vùng ĐBSH giai đoạn 2000-2014 .. 71
Biểu đồ 3.2. Cơ cấu lao động theo ngành kinh tế vùng ĐBSH .................................... 80
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Sau 30 năm tiến hành đổi mới trên tất cả các mặt chính trị, kinh tế, văn hóa và
văn hóa truyền thống; mâu thuẫn giữa xu hướng CNH, ĐTH với phát triển kinh tế
nông nghiệp…Biểu hiện tiêu cực của những mâu thuẫn này là: khoảng cách giàu
nghèo ngày càng rộng, các tệ nạn xã hội gia tăng, sự xuống cấp về đạo đức của một
bộ phận xã hội... Vùng ĐBSH đang trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nhanh,
các khu công nghiệp, đô thị xuất hiện ngày càng nhiều và đi kèm với đó là một loạt
các vấn đề xã hội nảy sinh như: thất nghiệp, thiếu việc làm, đói nghèo, ô nhiễm môi
trường, xung đột lợi ích dẫn đến xuất hiện tình trạng bất mãn của một bộ phận dân
cư, tình trạng khiếu kiện đông người, kéo dài, vượt cấp xuất hiện ngày càng nhiều,
một bộ phận nhân dân chống đối với chính quyền sở tại, tệ nạn xã hội gia tăng...nhiều
vấn đề xã hội đã trở nên gay gắt đẩy lên thành những MTXH phức tạp và khó giải
quyết, đang có nguy cơ bùng phát những bất ổn trong đảm bảo an ninh trật tự an toàn
xã hội và kìm hãm sự phát triển KT-XH của khu vực nông nghiệp, nông thôn vùng
ĐBSH. Tuy nhiên, việc giải quyết những MTXH nảy sinh trong quá trình trên là vấn
đề không đơn giản.
Ổn định là điều kiện của sự phát triển và ngược lại, phát triển là điều kiện cho
sự ổn định bền vững. Để ổn định và phát triển cần phải có sự đồng thuận trong đời
sống xã hội; phải giải quyết những MTXH phù hợp với yêu cầu của quy luật khách
quan; đảm bảo đầy đủ bản chất nhân văn và tiến bộ của một nền chính trị trọng
pháp, trọng dân; và phải được thực hiện bằng hệ thống các giải pháp khoa học, gải
quyết từ gốc của vấn đề làm nảy sinh mâu thuẫn.
Việc đi sâu nghiên cứu vấn đề MTXH trong CDCCKT nông nghiệp ở Việt
Nam nói chung và ở ĐBSH nói riêng dưới góc độ triết học mang tính cấp thiết
nhằm góp phần thực hiện tốt chủ trương của Đảng và Nhà nước trong việc tạo tiền
đề chính trị, xã hội bền vững cho hội nhập và phát triển. Kết quả nghiên cứu đó sẽ
góp phần giải quyết có hiệu quả những vấn đề xã hội bức xúc nảy sinh từ quá trình
CDCCKT nông nghiệp thực hiện CNH, HĐH; góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh
tế gắn với tiến bộ, công bằng xã hội, phát triển bền vững và giữ vững sự ổn định
chính trị, trật tự an toàn xã hội khu vực nông nghiệp, nông thôn. Với ý nghĩa đó, tác
giả lựa chọn nghiên cứu đề tài: “Mâu thuẫn xã hội trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Đảng Cộng sản Việt Nam về đường lối phát triển thực hiện mối quan hệ giữa tăng
trưởng kinh tế và phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; chủ
trương lớn của Đảng và Nhà nước Việt Nam về phát triển nông nghiệp, nông thôn
và nông dân.
Phương pháp nghiên cứu là các nguyên tắc, quan điểm của Chủ nghĩa duy vật
biện chứng và Chủ nghĩa duy vật lịch sử và cách tiếp cận hệ thống - cấu trúc kết
hợp với phương pháp so sánh - loại hình; Trong đó, đặc biệt nhấn mạnh là cùng với
cách tiếp cận toàn diện, hệ thống, thực tiễn và phát triển, luận án còn sử dụng
4
phương phương pháp lịch sử cụ thể và phương pháp phân tích - tổng hợp như là một
trong những phương pháp nghiên cứu chính để thực hiện đề tài.
5. Những đóng góp mới về mặt khoa học của luận án
Thứ nhất, bổ sung thêm một số ý kiến ở góc độ lý luận về MTXH trong
CDCCKT nông nghiệp. Chỉ ra tính tất yếu khách quan của MTXH giữa các chủ thể
xã hội trong quá trình CDCCKT nông nghiệp.
Thứ hai, chỉ ra thực trạng và nguyên nhân của MTXH nảy sinh trong quá trình
CDCCKT nông nghiệp ở vùng ĐBSH giai đoạn 2000 – 2015.
Thứ ba, đề xuất những nguyên tắc và giải pháp giải quyết những vấn đề
MTXH bức xúc nảy sinh từ quá trình CDCCKT nông nghiệp ở vùng ĐBSH hiện
nay, góp phần thúc đẩy sự phát triển của khu vực kinh tế nông nghiệp, nông thôn
nói riêng và phát triển KT-XH vùng ĐBSH nói chung.
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án
Kết quả nghiên cứu của luận án có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn.
Về lý luận: Góp phần hệ thống, luận giải và làm rõ cơ sở lý thuyết về MTXH
trong CDCCKT nông nghiệp và nhận diện MTXH trong CDCCKT nông nghiệp;
Khái quát hóa những yếu tố tác động làm nảy sinh MTXH trong CDCCKT nông
nghiệp ở vùng ĐBSH; Chỉ ra những nguyên nhân và tác động của nó vào quá trình
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
MTXH là một hiện tượng xã hội khách quan, tồn tại cùng với lịch sử hình
thành xã hội loài người từ trước đến nay. Đây là lĩnh vực phức tạp cả về mặt lý luận
lẫn thực tiễn, thu hút sự chú ý của các nhà nghiên cứu khoa học qua nhiều thời kỳ.
Trong quá trình vận động, phát triển KT-XH, nảy sinh nhiều mối quan hệ xã
hội đa dạng, phức tạp với nhiều hình thức và đi liền với nó là mức độ MTXH khác
nhau như các mối quan hệ giữa những chủ thể sản xuất kinh tế với nhau, với chính
quyền địa phương, với doanh nghiệp… Các mối quan hệ này vừa là yếu tố của sự
phát triển, đồng thời cũng tạo ra những vấn đề mâu thuẫn và những bức xúc xã hội
nảy sinh cần phải được quan tâm giải quyết. Trong thực tế nhiều nơi, vấn đề giải
quyết các MTXH diễn ra không mang lại hiệu quả tích cực như chủ thể mong muốn
vì: (i) việc giải quyết MTXH không xuất phát từ cơ sở nghiên cứu khoa học đúng
đắn, dẫn đến giải quyết tùy tiện gây nên tác dụng yếu, thậm chí phản tác dụng; (ii)
việc giải quyết mâu thuẫn có tính chất né tránh, đối phó với hoàn cảnh càng khiến
cho MTXH tích tụ, bùng phát thành những xung đột gay gắt, tạo nên điểm nóng về
an ninh chính trị - xã hội, gây nên hậu quả nghiêm trọng. Những hạn chế trên làm
bộc lộ điểm yếu chung là chưa nhận thức được tính tất yếu của sự vận động phát
triển của MTXH, chưa tích cực chủ động giải quyết chúng.
Để hiểu được bản chất và xu hướng biến đổi của các MTXH, đồng thời có
những tác động tích cực nhằm hạn chế những xung đột xã hội, tạo điều kiện thúc
đẩy các động lực cho phát triển KT-XH thì việc nghiên cứu về MTXH đã trở thành
đối tượng nghiên cứu của nhiều tác giả qua nhiều thời kỳ, tiêu biểu cho nhóm
nghiên cứu này là các tác giả với những công trình tiêu biểu sau:
1.1. Tổng quan những công trình nghiên cứu về mâu thuẫn xã hội, xung đột xã
hội
Vấn đề MTXH đã được đặt ra từ rất sớm. Có những tác giả giai đoạn trước
Mác bàn đến một số khía cạnh nhất định của MTXH như Nicolo Machiavelli (nhà
triết học Ý, 1469-1527), Thomas Hobbs (nhà triết học Anh, 1588-1679), Charles
Darwin (nhà sinh học Anh, 1809-1882)... Tuy nhiên, phải cho đến khi các nhà sáng
lập chủ nghĩa Mác xuất hiện thì vấn đề MTXH mới thực sự được đặt ra một cách cơ
mình. Cũng theo ông, xung đột xã hội chính là sự căng thẳng giữa cái đang có và
cái cần phải có, tương ứng với sự cảm nhận của những nhóm và cá nhân nhất định.
Georg Simmel (Đức) [31] trong tác phẩm Philosophie der Geldes (Triết học
về Tiền bạc), cho rằng, về nguyên tắc, xung đột xã hội là vấn đề hiển nhiên, tồn tại
khách quan trong bất cứ một cơ cấu xã hội bất kỳ nào. Xung đột chính là những quan
hệ, hành vi biểu hiện các mâu thuẫn xã hội, thông qua xung đột để giải quyết các mâu
thuẫn khác nhau trong cơ cấu xã hội. Theo ông, nhờ xung đột xã hội diễn ra mà quá
8
trình tương tác giữa các bên đạt được thống nhất thông qua sự biến đổi hoặc phá hủy
một trong các bên xung đột.
Ralf Gustav Dahrendrof (Đức năm 1988)[102] trong tác phẩm Cuộc xung đột
xã hội hiện đại, đã phân tích tính công nhiên của tồn tại những xung đột xã hội và sự
cần thiết phải quản lý, giải tỏa xung đột. Ông thừa nhận xung đột xã hội tồn tại khách
quan, nhấn mạnh vai trò của xung đột dưới mọi cấp độ, nhất là xung đột giữa các cá
nhân, các nhóm xã hội, các giai cấp; cho rằng xung đột xã hội có chức năng tăng
cường tính thích ứng của tổ chức xã hội, bảo đảm tính liên tục của của xã hội; thừa
nhận vai trò lịch sử của mâu thuẫn; đời sống xã hội dựa trên cơ sở các quyền lợi, do
đó thường nảy sinh sự mâu thuẫn, đối lập vì lợi ích, từ đó dẫn tới xung đột giữa các
nhóm. Mâu thuẫn và xung đột xã hội cũng làm cho các hệ thống xã hội bị phân hóa
và hướng tới sự thay đổi. Theo Dahrendorf, chính cơ cấu của xã hội tạo ra các xung
đột xã hội, rằng nguồn gốc của xung đột chính là sự phân phối không đồng đều quyền
lực và uy tín, nghĩa là cội nguồn của xung đột nằm trong mối quan hệ giữa những vai
trò mà một xã hội cụ thể nào đó chấp nhận. Theo ông, cần phải điều khiển chứ không
phải là đàn áp xung đột. Bởi thứ nhất, điều khiển cho phép kiểm soát ngay cả những
xung đột nhạy cảm nhất và thứ hai, chuyển lực lượng phá hoại của xung đột thành
lực lượng sáng tạo, biến xung đột thành lực lượng phục vụ xã hội.
Các nhà khoa học mácxit khi nghiên cứu xung đột xã hội, đặc biệt nhấn mạnh
vai trò và tầm quan trọng của giáo dục trong việc thúc đẩy giải quyết xung đột xã hội.
Về cơ bản, tác phẩm mô tả bối cảnh và quá trình xung đột cũng như phương pháp
giải quyết xung đột ở mức độ lý thuyết chung.
Nhóm tác giả Christopher Mitchell và Michael R. Banks (1996), Handbook of
Conflict Resolution: the Analytical Problem - Solving Approach (Sổ tay giải quyết
xung đột: Vấn đề Phân tích - Phương pháp Giải quyết) [6]. Các tác giả giới thiệu các
quan điểm lý thuyết và các chiến lược thực tiễn về phân tích xung đột và phương
pháp giải quyết. Tác phẩm phác thảo cơ sở lý thuyết của cách tiếp cận xung đột,
khẳng định bạo lực chính là vấn đề chứ không phải là những khía cạnh của cuộc
sống góp phần vào nó, rằng bạo lực là kết quả của mâu thuẫn lợi ích và mục tiêu
của các bên khác nhau. Vấn đề là làm thế nào để xác định khi một tình huống xung
đột đã chín muồi để khởi sự một nỗ lực giải quyết. Tác phẩm đã tập hợp nhiều kinh
nghiệm thực tiễn về cách tiếp cận và giải quyết những mâu thuẫn, xung đột xã hội,
cũng từ những vấn đề mâu thuẫn, xung đột cụ thể, điển hình trong thực tiễn đó, các
tác giả đã đưa ra những phương sách giải quyết tình huống thực tế thích hợp.
Nhìn chung, những công trình nghiên cứu của các tác giả nói trên đã phân tích
sâu sắc và lý giải nhiều khía cạnh của MTXH. Theo các tác giả, xung đột chính là
sự căng thẳng giữa cái đang có và cái cần phải có, tương ứng với sự cảm nhận của
những nhóm và cá nhân nhất định; xung đột xã hội phát sinh từ tâm trạng căng
10
thẳng giữa các cá nhân (Lewis Coser); xung đột là những quan hệ, hành vi biểu hiện
các mâu thuẫn, vừa thông qua đó để giải quyết các mâu thuẫn khác nhau (Georg
Simmel); đời sống xã hội dựa trên cơ sở các quyền lợi, do đó thường nảy sinh sự
mâu thuẫn, đối lập vì lợi ích, từ đó dẫn tới xung đột giữa các nhóm; mâu thuẫn và
xung đột cũng làm cho các hệ thống xã hội bị phân hóa và luôn có xu hướng hướng
tới sự thay đổi tiến bộ, có thể đem lại những kết quả có lợi cho xã hội; xung đột bị
nén lại không giải tỏa là khối u ác tính nguy hiểm trong cơ thể xã hội (Ralph Gustav
thống kiến trúc thượng tầng chính trị, sự thiếu hụt của hệ thống chính sách, luật pháp.
Từ đó tác giả chỉ ra động lực giải quyết mâu thuẫn trong thời kỳ quá độ ở nước ta.
Phạm Ngọc Quang (2001), trong tác phẩm “Về mâu thuẫn cơ bản, mâu thuẫn
chủ yếu và cách giải quyết trên con đường phát triển đất nước theo định hướng xã hội
chủ nghĩa” [94]. Tác giả quan niệm mâu thuẫn vừa là nguồn gốc, nguyên nhân, vừa là
động lực cho mọi quá trình phát triển. Sự tồn tại của mâu thuẫn là cái khách quan
hiển nhiên không thể bỏ qua, tuy nhiên chúng ta chủ quan thường muốn loại bỏ mâu
thuẫn càng nhanh càng tốt, bất kể tình trạng chín muồi của mâu thuẫn như thế nào,
bất kể điều kiện khách quan và chủ quan cho việc giải quyết mâu thuẫn đó ra sao.
Đây đó người ta che dấu mâu thuẫn hoặc điều hòa các mặt đối lập hoặc họ hy vọng
bằng cách đó các mâu thuẫn sẽ mất đi. Tuy nhiên, thực tế hoàn toàn ngược lại, các
mâu thuẫn càng trở nên gay gắt, làm cho tình hình thực tế càng thêm phức tạp. Ở tác
phẩm này, tác giả đã làm rõ MTXH là sự thống nhất và đấu tranh giữa những con
người với các cấp độ khác nhau, giữa những khuynh hướng, các lực lượng và các
thực thể xã hội - những thiết chế xã hội tương ứng có lợi ích cơ bản đối lập nhau tạo
thành nguồn gốc phát triển của xã hội.
Lê Hữu Tầng (1997) trong cuốn “Về động lực của sự phát triển kinh tế-xã hội”
[117] khẳng định, để tìm nguồn gốc và động lực phát triển của sự vật, thì phải tiến
hành phân tích các mâu thuẫn hiện đang tồn tại và tác động trong sự vật. Nhưng
ngoài những mâu thuẫn này còn phải tìm các yếu tố khác đóng vai trò là động lực
của sự phát triển đó nữa. Công trình đã xem xét mối quan hệ giữa phát triển kinh tế
và giải quyết các vấn đề xã hội trên cơ sở lấy lợi ích con người làm động lực trung
tâm của mọi sự phát triển.
Nguyễn Ngọc Hà (1998), trong cuốn “Một số vấn đề về nhận thức quy luật và
mâu thuẫn” [35] cho rằng MTXH trước hết nó là mâu thuẫn, do đó nó phải tồn tại
các đặc trưng của mâu thuẫn nói chung. MTXH là mối quan hệ tác động qua lại
giữa các mặt đối lập tồn tại trong chỉnh thể xã hội, nó là nguồn gốc, động lực của sự
vận động xã hội. Theo tác giả, suy cho cùng mâu thuẫn trong xã hội là cuộc đấu
tranh của con người với con người và giữa con người với giới tự nhiên vì những
nhu cầu, lợi ích vật chất và tinh thần của họ. Trong số các mâu thuẫn của xã hội
tác giả có thể phân loại thành 5 dạng trong MTXH: thứ nhất, phân chia theo mối quan
hệ chủ thể - khách thể, trong đó MTXH chia thành mâu thuẫn giữa xã hội với tự
nhiên và mâu thuẫn giữa người với người trong xã hội; thứ hai, phân chia căn cứ vào
từng mặt của đời sống xã hội, trong đó MTXH chia thành các mâu thuẫn kinh tế, mâu
thuẫn chính trị, mâu thuẫn tư tưởng và mâu thuẫn giữa các mặt đó; thứ ba, phân chia
căn cứ theo lợi ích căn bản hay không căn bản của mâu thuẫn, trong đó MTXH chia
thành mâu thuẫn đối kháng và mâu thuẫn không đối kháng; thứ tư, phân chia căn cứ
13
tùy theo tính phổ biến của mâu thuẫn trong lịch sử, trong đó MTXH chia thành mâu
thuẫn phổ biến của xã hội loài người, mâu thuẫn chung của một số HTKT-XH, mâu
thuẫn của từng thời kỳ cụ thể; thứ năm, phân chia căn cứ vào vai trò và quan hệ của
mâu thuẫn trong một HTKT-XH nhất định, MTXH chia thành mâu thuẫn vốn có của
HTKT-XH đó, mâu thuẫn tàn dư của HTKT-XH cũ.
Hồ Bá Thâm (2011) với công trình “Mâu thuẫn xung đột lợi ích nhóm, thực
trạng, xu hướng và giải pháp” [120] đã nghiên cứu về những mâu thuẫn, những xung
đột lợi ích trong điều kiện phát triển mới của thời kỳ chuyển đổi từ kinh tế kế hoạch
hóa tập trung quan liêu bao cấp sang kinh tế thị trường trong xã hội Việt Nam hiện
nay. Công trình đã khái quát rõ hơn về mâu thuẫn, xung đột lợi ích nhóm xã hội, cư
dân trên một số lĩnh vực KT-XH hiện nay ở TP. Hồ Chí Minh nói riêng và ở nước ta
nói chung. Theo nhóm nghiên cứu thì xung đột xã hội trong lịch sử không chỉ xung
đột giai tầng xã hội mà còn tồn tại xung đột cấp độ nhóm. Xung đột thường gắn liền
với đấu tranh giai cấp, dân tộc – tôn giáo, với hình thức vũ trang, chiến tranh, cách
mạng, cải cách...Có bốn dạng của mối quan hệ mật thiết và tác động lẫn nhau: tranh
đua, xung đột, thích nghi, đồng hóa, trong đó xung đột xã hội giữ vị trí trung tâm. Tác
giả cho rằng, xung đột vừa có vai trò tích cực và tiêu cực, tùy theo tính chất, thời
điểm của nó, nhưng là tất yếu với các mức độ khác nhau bên cạnh hiện tượng đồng
thuận xã hội, như là hai mặt của xã hội, nhưng tùy thời kỳ lịch sử mà mặt nào ưu trội
nhằm xây dựng một cách vững chắc mô hình nhân cách nhân bản trong điều kiện
kinh tế thị trường.
GS.Franc Ellis (1995), với cuốn “Chính sách nông nghiệp trong các nước đang
phát triển” [106], tác giả đã phân tích thực trạng phân hóa trong sản xuất nông
nghiệp và tính tất yếu hình thành nền kinh tế hộ, trang trại nông dân trong tiến trình
hội nhập kinh tế thế giới của các nước đang phát triển, đánh giá cao vai trò của hệ
thống chính sách nông nghiệp hướng đến xây dựng cơ chế chính sách hỗ trợ nông
nghiệp chuyển đổi về quy mô sản xuất, phát triển thị trường, HĐH sản xuất nông
nghiệp. Tất cả hệ thống chính sách nông nghiệp nhằm hỗ trợ cho doanh nghiệp
nông nghiệp và kinh tế trang trại nông thôn Việt Nam phát triển, đáp ứng yêu cầu
của sản xuất, chế biến và thị trường để họ đóng góp xứng đáng vào CNH, HĐH
nông nghiệp, nông thôn và xây dựng đất nước.
Trần Đắc Hiến (2008) trong công trình “Vấn đề mâu thuẫn xã hội ở nông thôn
Việt Nam hiện nay” [46] đã tập trung phân tích thực trạng một số MTXH điển hình
ở nông thôn Việt Nam từ khi đổi mới thực hiện kinh tế thị trường, đẩy mạnh CNH,
(HĐH) và hội nhập quốc tế. Tác giả cho rằng MTXH ở nông thôn nước ta có nhiều
hình thức và đan xen lẫn nhau, diễn biến mâu thuẫn phức tạp, cụ thể như: Mâu
thuẫn giữa người nông dân với nhà đầu tư (doanh nghiệp) trong thực hiện chính
sách bồi thường giải phóng mặt bằng khi thu hồi đất nông nghiệp nhằm xây dựng
15
các khu công nghiệp; mâu thuẫn giữa người nông dân với các doanh nghiệp trong
vấn đề ô nhiễm và bảo vệ môi trường; mâu thuẫn giữa người nông dân với một bộ
phận cán bộ các cấp chính quyền cơ sở có biểu hiện tiêu cực, tham nhũng; mâu
thuẫn giữa các nhóm dân cư có sự khác biệt về mức sống, thu nhập; mâu thuẫn giữa
các cá nhân, gia đình, dòng họ, thôn xã; mâu thuẫn giữa các dân cư làng nghề với
cộng đồng lân cận; mâu thuẫn giữa cộng đồng dân cư bản địa và dân nhập cư...
Theo tác giả, có một số nguyên nhân cơ bản gây nên tình trạng MTXH ở nông thôn
xem xét các MTXH phát sinh giữa các nhóm xã hội nông thôn và hệ thống hóa các
giải pháp cơ bản nhằm bảo đảm sự ổn định nhất định lợi ích kinh tế của nông dân,
phát triển nền sản xuất nông nghiệp Việt Nam trong hội nhập kinh tế thế giới.
Lê Quốc Lý (chủ biên), (2014), trong cuốn “Lợi ích nhóm, thực trạng và giải
pháp” [70] đã nhìn nhận lợi ích nhóm dưới nhiều giác độ khác nhau, có nhóm lợi
ích tác động tích cực, nhưng cũng có nhóm tác động tiêu cực. Ở Việt Nam, lợi ích
nhóm tác động tiêu cực biểu hiện trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội.
Nhóm tác giả đã nhận diện những quan hệ lợi ích nhóm tác động tiêu cực, biểu hiện
trong quan hệ không bình thường giữa những người có chức quyền với doanh
nghiệp như: quan hệ nhóm thân hữu; quan hệ nhóm chung lợi ích; quan hệ lợi ích
cục bộ; quan hệ vụ lợi cá nhân hoặc các tổ chức của người có chức quyền với doanh
nghiệp. Những người có chức quyền nhũng nhiễu, gây phiền hà cho doanh nghiệp
hòng đòi tiền hối lộ; bảo kê các hoạt động phi pháp; hưởng hoa hồng vượt mức quy
định trong hợp đồng; cấu kết gian lận trong thực hiện giao dịch, dịch vụ của cơ
quan nhà nước; quan chức sử dụng doanh nghiệp nhà nước để thu lợi, lợi dụng
thông tin có được nhờ công vụ để thu lợi…Trên cơ sở các biểu hiện của lợi ích
nhóm, nhóm tác giả đã đề xuất giải pháp trong việc giáo dục đạo đức, công tác quản
lý cán bộ, công chức trong thời kỳ đổi mới.
Trong công trình “Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn –
Vấn đề và giải pháp” (2012) [69], tác giả Lê Quốc Lý khẳng định, bên cạnh những
thành tựu đã đạt được, tiến trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn cũng phát sinh
nhiều vấn đề phức tạp. Tác giả liệt kê sự bất cập trong các chính sách phát triển
nông nghiệp, nông thôn: giữa quá trình ĐTH với quá trình phát triển nông thôn, xây
dựng nông thôn mới; mâu thuẫn giữa lợi ích công nghiệp với nông nghiệp; khoảng
cách giữa thành thị với nông thôn; mâu thuẫn giữa nền nông nghiệp dựa trên tri
thức khoa học với sự bảo tồn giá trị và tri thức nông nghiệp truyền thống; giữa hàng
hóa nông nghiệp hiện đại được sản xuất bởi tiến bộ khoa học kỹ thuật và cơ giới
hóa với những sản phẩm nông nghiệp mang sắc thái vùng, miền tự nhiên có giá trị
chênh lệch cao. Tác giả đã phần nào đánh giá thực trạng những tác động của tiến
trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn Việt Nam