Đề tài hiệu quả của nghề trồng lúa nếp trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp ở huyện phú tân, tỉnh an giang - Pdf 32

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Việt Nam là nước nông nghiệp. Thời gian qua nông
nghiệp Việt Nam không ngừng phát triển, đặc biệt là sản xuất
lương thực đã đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước, đảm bảo an
ninh lương thực quốc gia, cung cấp nguyên liệu cho các ngành công
nghiệp chế biến và xuất khẩu để thu ngoại tệ…
Phú Tân là một trong bốn huyện cù lao của tỉnh An Giang,
hàng năm sau khi nước rút để lại lượng phù sa dồi dào cho đất cùng
với hệ thống đường nước tốt nhất nhì của tỉnh, đã mang lại lợi thế
lớn cho Phú Tân trong sản xuất nông nghiệp. Đặc biệt là lĩnh vực
trồng trọt, trong đó chủ yếu là trồng lúa nếp.
Hiện nay trên địa bàn huyện Phú Tân đa số người dân làm
nông nghiệp (trên 80%), trong đó diện tích trồng lúa nếp là 43.803
ha chiếm 75,56% tổng diện tích trồng trọt (năm 2007), sản lượng
thu được trên 205.000 tấn bằng 50% sản lượng nếp xuất khẩu của
Thái Lan.
Nghề trồng lúa nếp đã góp phần đáng kể vào sự phát triển
kinh tế - xã hội ở địa phương như tăng thu nhập và cải thiện đời sống
cho người nông dân; đóng góp vào ngân sách và chuyển dịch cơ cấu
kinh tế nông nghiệp của huyện Phú Tân, phù hợp với chủ trương,
chính sách của Đảng và Nhà nước, của Đảng bộ tỉnh An Giang về
phát triển công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn.

1


Bên cạnh những kết quả đạt được nghề trồng lúa nếp ở Phú
Tân vẫn còn một số hạn chế như vốn ít, kĩ thuật canh tác lạc hậu,
giống không đồng đều, giá cả và thị trường tiêu thụ không ổn
định… Những hạn chế trên đã ảnh hưởng không nhỏ đến năng suất,

chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp ở huyện Phú Tân, tỉnh An
Giang từ 2001 đến nay.
5. Đóng góp của khóa luận
Khóa luận được thông qua sẽ có ý nghĩa lí luận lẫn thực tiễn:
- Khẳng định tính đúng đắn của các chủ trương, chính sách
của Đảng và Nhà nước ta về sản xuất lương thực trong chuyển dịch cơ
cấu kinh tế nông nghiệp.
- Làm rõ hiệu quả của nghề trồng lúa nếp ở huyện Phú Tân,
tỉnh An Giang.
- Đưa ra một vài kiến nghị nhằm phát huy hơn nữa hiệu quả
của nghề trồng lúa nếp ở huyện Phú Tân, tỉnh An Giang trong thời
gian tới.
- Khóa luận có thể làm tư liệu tham khảo cho chính quyền địa
phương trong quá trình lãnh đạo để phát triển kinh tế nông nghiệp.
6. Phương pháp nghiên cứu
- Khóa luận sử dụng phương pháp duy vật biện chứng,
phương pháp logic kết hợp với lịch sử.
- Phương pháp điều tra, phân tích, tổng hợp, thống kê, mô
hình hóa…
7. Kết cấu khóa luận

3


Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, danh mục tài liệu
tham khảo, khóa luận có 2 chương:
PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG I: VAI TRÒ CỦA SẢN XUẤT LƯƠNG
THỰC VÀ NHỮNG CHỦ TRƯƠNG, CHÍNH SÁCH CỦA
ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC TA TRONG CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU

thêm việc làm cho phần lớn người dân ở nông thôn, thu hút nhiều lao
động ở nông thôn.
Việc sản xuất lương thực còn giúp bảo vệ tài nguyên đất, sử
dụng hiệu quả tài nguyên nước,…
1.1.2 Vai trò của sản xuất lương thực trong chuyển dịch cơ
cấu kinh tế nông nghiệp
Sự phát triển của sản xuất lương thực đã dẫn đến sự chuyển
dịch cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp phù hợp với tình hình phát
triển của các nước có nền kinh tế nông nghiệp phát triển. Sự chuyển
dịch này thúc đẩy ngành công nghiệp phát triển, đặc biệt là công
nghiệp chế biến lương thực, thực phẩm.
1.2 Những chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta
về sản xuất lương thực
1.2.1 Chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta
Những chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước ta và
biện pháp thực hiện để sản xuất lương thực đạt hiệu quả và bền vững
thông qua: các chủ trương chính sách phát triển nông, lâm, ngư

5


nghiệp năm 1998; Trong các văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần
thứ VIII, IX, X.
1.2.2 Chủ trương, chính sách của Đảng bộ tỉnh An Giang
Chủ trương, chính sách của tỉnh được đưa ra trong kế
hoạch 5 năm, 2001 – 2005; 2005- 2010 nhằm khắc phục những
tồn tại và phát huy thế mạnh sản xuất lương thực của tỉnh trong
thời gian tới.
1.3 Sự cần thiết phát triển sản xuất lương thực (lúa nếp) ở
nước ta và ở huyện Phú Tân, tỉnh An Giang

tích không ngừng tăng cho đến nay.
Sản xuất lúa nếp trở thành nét nổi trội trong nền kinh tế nông
nghiệp của huyện. Mỗi năm diện tích và sản lượng lại tăng lên không
chỉ đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước mà còn cho xuất khẩu.
Những thuận lợi và những sự quan tâm chỉ đạo sâu sắc của
Đảng, các cấp chính quyền tỉnh An Giang và chính quyền ở địa
phương về công tác đầu tư và trang bị cơ sở vật chất kĩ thuật phục vụ
cho việc sản xuất lúa nếp của huyện nhà.
2.2.2 Những hạn chế, khó khăn
Những hạn chế và nguyên nhân cản trở sự phát triển của sản
xuất lúa nếp huyện Phú Tân: giá cả, thị trường tiêu thụ, thiết bị sản
xuất, trình độ của nông dân, kinh tế hợp tác, thương hiệu.
2.3 Hiệu quả của nghề trồng lúa nếp ở huyện Phú Tân, tỉnh
An Giang từ năm 2001 đến nay
2.3.1 Góp phần tăng năng suất, chất lượng sản phẩm, hạ
giá thành sản phẩm và nâng cao sức cạnh tranh

7


Chứng minh hiệu quả trồng lúa nếp của huyện Phú Tân
về năng suất, sản lượng và chất lượng, tình hình thị trường tiêu
thụ, giá cả lúa nếp Phú Tân từ năm 2001 đến nay.
2.3.2 Góp phần vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế
nông nghiệp nông thôn.
Trong nông nghiệp huyện Phú Tân có sự chuyển dịch cơ
cấu kinh tế: trồng trọt giữ vị trí hàng đầu theo xu hướng đẩy
mạnh xuất khẩu mặt hàng thiết yếu là lúa nếp, phát huy thế
mạnh của địa phương phù hợp với xu thế chung của cả nước.
Sự phát triển nghề trồng lúa nếp thúc đẩy ngành công

trường chủ yếu là môi trường đất và môi trường nước.
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1. KẾT LUẬN
Khẳng định huyện Phú Tân tỉnh An Giang có nhiều tiềm
năng để phát triển nghề trồng lúa nếp: vị trí tự nhiên thuận lợi, có
nguồn lao động dồi dào, có nhiều thị trường tin cậy. Nông dân có
nhiều kinh nghiệm và có tâm huyết với nghề trồng lúa nếp, với sự
chỉ đạo đúng đắn của Đảng bộ tỉnh An Giang, cơ chế chính sách
phù hợp, sự điều hành và quan tâm, chỉ đạo sâu sắc của chính
quyền địa phương.
Bên cạnh còn những hạn chế: Qui mô sản xuất, hiệu quả
sản xuất. Chất lượng dịch vụ và hiệu quả hoạt động của Hợp tác
xã nông nghiệp. Thương hiệu hàng hóa chậm được triển khai theo
kế hoạch. Khoa học kĩ thuật, trang thiết bị cho quá trình sản xuất
còn yếu.

9


Trước tình hình này chính quyền địa phương đã không
ngừng đầu tư và phát triển để phát huy những tiềm năng vốn có và
khắc phục những hạn chế nên nghề trồng lúa nếp huyện Phú Tân
trong những năm qua đạt được những thành tựu đáng kể.
2. KIẾN NGHỊ
Khẳng định vai trò và sự cần thiết sản xuất lúa nếp ở Việt
Nam, ở huyện Phú Tân. Từ đó đóng góp một vài suy nghĩ của bản
thân nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả sản xuất lúa nếp của huyện
nhà. Cụ thể:
Một là, quy hoạch, khoanh vùng tập trung sản xuất lúa nếp,
lúa tẻ theo từng địa bàn trong huyện. Hướng nông dân tham gia sản

Bảy là, chủ động tìm kiếm thêm nhiều thị trường tin cậy, chú
ý những thị trường thân thiết và thị trường trong nước. Tăng sự liên
kết giữa nông dân với doanh nghiệp, kiểm soát đội ngũ hàng xáo.
Tám là, xây dựng thương hiệu cho hàng hóa và sản phẩm.
Chín là, nêu cao và phổ biến phong trào thi đua yêu nước,
đặc biệt là phong trào “nông dân sản xuất – kinh doanh giỏi”.
Qua đề tài “Hiệu quả của nghề trồng lúa nếp trong
chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp ở huyện Phú Tân, tỉnh
An Giang” em xin đóng góp một số giải pháp mang tính chất kiến
nghị, tham khảo với mong muốn góp phần vào việc nâng cao hiệu
quả sản xuất lúa nếp của huyện nhà.
Tuy nhiên do thời gian, trình độ và năng lực nghiên cứu
còn hạn chế nên đề tài không thể tránh khỏi những thiếu sót, khuyết
điểm. Em rất mong thầy, cô và các cán bộ của huyện Phú Tân đóng
góp, bổ sung ý kiến để đề tài của em được hoàn thiện hơn.
Trân trọng kính chào!

11


Khóa luận tốt nghiệp Đại học sư phạm

Chuyên ngành giáo dục chính trị

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Việt Nam là nước có nền văn minh nông nghiệp lâu đời, được thiên
nhiên ưu đãi và có điều kiện tự nhiên thuận lợi để phát triển sản xuất nông
nghiệp, đặc biệt là sản xuất lương thực, thực phẩm. Sản lượng lương thực xuất
khẩu của Việt Nam đứng thứ hai trên thế giới (sau Thái Lan). Sự phát triển

Trang 1

Niên khóa: 2004 - 2008


Khóa luận tốt nghiệp Đại học sư phạm

Chuyên ngành giáo dục chính trị

2. Mục đích nghiên cứu
- Làm rõ hiệu quả của nghề trồng lúa nếp trong chuyển dịch cơ cấu
kinh tế nông nghiệp ở huyện Phú Tân, tỉnh An Giang từ năm 2001 đến nay.
3. Đối tượng, nhiệm vụ nghiên cứu
a. Đối tượng
- Nghiên cứu nghề trồng lúa nếp trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông
nghiệp ở huyện Phú Tân, tỉnh An Giang dưới góc độ kinh tế chính trị.
b. Nhiệm vụ
- Tìm hiểu vai trò, sự cần thiết của sản xuất lương thực (lúa nếp) trong
chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp. Và chủ trương, chính sách của Đảng
và Nhà nước ta về sản xuất lương thực.
- Đánh giá thực trạng và hiệu quả của nghề trồng lúa nếp. Rút ra kết
luận và đưa ra những kiến nghị nhằm phát huy hiệu quả của nghề trồng lúa
nếp ở huyện Phú Tân, tỉnh An Giang.
4. Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu nghề trồng lúa nếp và hiệu quả của nó trong chuyển dịch cơ
cấu kinh tế nông nghiệp ở huyện Phú Tân, tỉnh An Giang từ 2001 đến nay.
5. Đóng góp của khóa luận
Khóa luận được thông qua sẽ có ý nghĩa lí luận lẫn thực tiễn:
- Khẳng định tính đúng đắn của các chủ trương, chính sách của Đảng
và Nhà nước ta về sản xuất lương thực trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông

nông nghiệp
1.1.1 Vai trò của sản xuất lương thực trong đời sống kinh tế - xã hội
1.1.2 Vai trò của sản xuất lương thực trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế
nông nghiệp
1.2 Những chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta về sản xuất
lương thực
1.2.1 Chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta
1.2.2 Chủ trương, chính sách của Đảng bộ tỉnh An Giang
1.3 Sự cần thiết phát triển sản xuất lương thực (lúa nếp) ở nước ta và ở
huyện Phú Tân, tỉnh An Giang
CHƯƠNG 2: HIỆU QUẢ CỦA NGHỀ TRỒNG LÚA NẾP Ở
HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG TỪ NĂM 2001 ĐẾN NAY
2.1 Đặc điểm tự nhiên, đặc điểm kinh tế - xã hội tác động đến nghề
trồng lúa nếp ở huyện Phú Tân
2.1.1 Đặc điểm tự nhiên
2.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội
2.2 Thực trạng của nghề trồng lúa nếp huyện Phú Tân, tỉnh An Giang
2.2.1 Thực trạng và kết quả đạt được
2.2.2 Những hạn chế, khó khăn
2.3 Hiệu quả của nghề trồng lúa nếp ở huyện Phú Tân, tỉnh An Giang
từ năm 2001 đến nay
2.3.1 Góp phần tăng năng suất, chất lượng, hạ giá thành sản phẩm và
nâng cao sức cạnh tranh

Sv: Nguyễn Thị Mỹ Duyên

Trang 3

Niên khóa: 2004 - 2008



1.1 Vai trò của sản xuất lương thực trong chuyển dịch cơ cấu kinh
tế nông nghiệp
1.1.1 Vai trò của sản xuất lương thực trong đời sống kinh tế - xã hội

* Tầm quan trọng của lương thực trong đời sống kinh tế - xã hội:
Nhu cầu ăn là nhu cầu cơ bản, hàng đầu của con người. Xã hội có thể
thiếu nhiều loại sản phẩm nhưng không thể thiếu lương thực cho xã hội. Sản
phẩm quan trọng hàng đầu mà con người làm ra để nuôi sống mình cũng chính
là lương thực. Do đó, việc thỏa mãn nhu cầu về lương thực trở thành một trong
những điều kiện khá quan trọng để ổn định xã hội, ổn định kinh tế. Các Mác đã
khẳng định, con người trước hết phải có ăn (mặc, ở,…) rồi sau đó mới nói đến
các hoạt động khác. Đảm bảo an ninh lương thực quốc gia cũng quan trọng
như sự ổn định chính trị - xã hội của đất nước.
Con người từ lúc sinh ra và trưởng thành về thể chất lẫn tinh thần nhờ
phần lớn vào thức ăn bằng lương thực và thực phẩm. Trong đó cây lương thực
là nguồn cung cấp chủ yếu tinh bột cho người và gia súc. Người nguyên thủy
sinh sống lúc đầu bằng nghề săn bắt và hái lượm, trải qua một thời gian dài
con người mới biết trồng trọt và chăn nuôi những con vật săn được, khi họ
nhận ra được nguồn thức ăn họ tìm được trong tự nhiên ngày càng khan hiếm
đi. Từ khi con người biết trồng trọt và chăn nuôi, cuộc sống con người được
cải thiện do nguồn thức ăn dự trữ ngày càng nhiều.
Lúa là một trong những cây lương thực được xem là cây trồng cổ xưa
nhất. Sự tiến hóa của cây lúa gắn liền với lịch sử tiến hóa của loài người, đặc
biệt là ở Châu Á. Ở Trung Quốc, cây lúa được trồng khoảng 2800 – 2700 năm
trước Công nguyên. Các tài liệu khảo cổ học ở Ấn Độ cho thấy: các hạt thóc
hóa thạch tìm được có tuổi từ 1000 – 750 năm trước Công nguyên. Ở Thái Lan,
cây lúa được trồng vào 4000 năm trước Công nguyên. Còn ở nước ta, cây lúa
được trồng phổ biến và nghề trồng lúa đã khá phồn thịnh ở thời kì đồ đồng
(4000 – 3000 năm trước Công nguyên). [14;16]

nhân dân nhân ở nhiều nước đang gặp khó khăn. Theo đánh giá của Ngân
hàng thế giới (WB), trong ba năm qua (2005-2008), do giá lương thực và thực
phẩm tăng cao, tỷ lệ người nghèo đói trên thế giới đã tăng từ 3 đến 5% nhất là
các nước ở Châu Phi như Congo, Sudan, Kenya, Zambia, Zimbabwe, Malawi,
,… Tuổi thọ trung bình của người dân ở đây giảm đáng kể vì bệnh tật. Tuổi
thọ trung bình của những người sinh vào những năm 70 là 50 tuổi nhưng đến
thời điểm này con số đó chỉ còn là khoảng 32. Tình trạng trẻ em suy dinh
dưỡng phải đưa vào các cơ sở điều trị đang gia tăng.
Năm 2007, giá lương thực toàn cầu đã tăng gần 40%, khiến đời sống
người nghèo ngày càng khó khăn. Sản lượng ngũ cốc của châu Âu, Mỹ và đặc
biệt là Australia bị giảm mạnh do thiên tai. Các bệnh dịch như cúm gia cầm,
heo tai xanh, dịch bệnh lở mồm long móng ở trâu bò tại nhiều nước Châu Á đã
tác động mạnh đến ngành chăn nuôi.
Trong tháng 3/2008, tại các nước: Ai-cập, Ca-mơ-run, Bờ Biển Ngà,
Xê-nê-gan, Buốc-ki-na Pha-xô, In-đô-nê-xi-a, Phi-líp-pin và Ha-i-ti đã xảy ra
những vụ bạo động vì thiếu lương thực, giá lương thực tăng cao. Tại Ai-cập đã
nổ ra nhiều cuộc bãi công và biểu tình do bất bình với giá lương thực ngày

Sv: Nguyễn Thị Mỹ Duyên

Trang 6

Niên khóa: 2004 - 2008


Khóa luận tốt nghiệp Đại học sư phạm

Chuyên ngành giáo dục chính trị

càng leo thang. Tại Y-ê-men, trẻ em cũng xuống đường biểu tình đòi Chính

lương thực triền miên và phải nhập khẩu, trong thời kỳ đổi mới Việt Nam đã
vươn lên không chỉ đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước, mà còn có sản lượng
lương thực xuất khẩu ngày càng tăng, và là nước đang giữ vị trí thứ hai về xuất
khẩu gạo trên thế giới. Sản lượng lương thực tăng bình quân mỗi năm 1,1 triệu
tấn; từ 34,3 triệu tấn năm 2001, bình quân đầu người đạt 435,5 kg, đã tăng lên

Sv: Nguyễn Thị Mỹ Duyên

Trang 7

Niên khóa: 2004 - 2008


Khóa luận tốt nghiệp Đại học sư phạm

Chuyên ngành giáo dục chính trị

đến 39,9 triệu tấn năm 2005, bình quân đầu người đạt 480 kg. Năm 2005 Việt
Nam đã xuất khẩu được 5,2 triệu tấn gạo, chiếm 30% sản lượng. [15;10]
Tuy nhiên, những năm gần đây, ở một số nước phát triển và
đang phát triển thì công nghiệp lại chiếm ưu thế hơn. Vai trò của nông
nghiệp bị xem nhẹ làm giảm đi sản lượng lương thực cung ứng trong nước
và trên thế giới. Các nhà nghiên cứu đã sử dụng lương thực để chế biến thành
nhiều loại nhiên liệu để thay xăng và dầu diesel trong ngành vận tải như diesel
sinh học (chế biến từ dầu thực vật thay thế dầu diesel trong các loại xe hơi),
ethanol (loại nhiên liệu sinh học được dùng phổ biến nhất hiện nay, làm từ
đường, mía hay củ cải đường, tinh bột ngũ cốc và bắp), butanol và propanol…
đều được chế tạo ra từ lương thực, thực phẩm đã dẫn đến nhiều tình trạng
bất ổn ở nhiều nước hiện nay như khan hiếm lương thực, giá tăng, lạm
phát. Ảnh hưởng tình hình an ninh lương thực chung của thế giới. Đến


Khóa luận tốt nghiệp Đại học sư phạm

Chuyên ngành giáo dục chính trị

giới về lương thực năm 1996 tại Rome cũng đã đánh giá tóm tắt về tình hình
an ninh lương thực trên thế giới một cách khách quan: “Đói và mất an ninh
lương thực là vấn đề mang tính toàn cầu và ngày càng có xu hướng trầm trọng
thêm ở một số khu vực, đòi hỏi phải có ngay hành động khẩn cấp vì theo dự
báo, dân số thế giới sẽ ngày càng tăng và nguồn tài nguyên thiên nhiên ngày
càng cạn kiệt”. [13;100]
Thứ tư, sản xuất lương thực còn góp phần tăng thu nhập, tạo thêm
việc làm cho phần lớn người dân ở nông thôn, thu hút nhiều lao động ở nông
thôn. Ở nhiều nước, cơ cấu dân số tập trung trong khu vực I (nông nghiệp)
nhiều hơn trong các khu vực II, III (công nghiệp và dịch vụ) như Inđônêxia,
Thái Lan, Trung Quốc, Ấn Độ. [12;116,117]
Ở Việt Nam, dân số chủ yếu tập trung trong khu vực I, đặc biệt là ở
đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long. Năm 2006, dân số Việt
Nam ước 86 triệu người. Dân cư nông thôn chiếm khoảng 70% dân số cả
nước. Sản xuất lương thực có vai trò đặc biệt quan trọng trong sự phát triển
của nền kinh tế quốc dân và trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa
đất nước. Tuy hiện nay tỷ trọng nông nghiệp có giảm do sự chuyển dịch cơ
cấu kinh tế theo xu hướng phát triển chung nhưng vẫn còn giữ vị trí trung
tâm trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Bên cạnh đó, việc sản xuất lương thực còn giúp bảo vệ tài nguyên đất
không bị rửa trôi, bạc màu, hoang hóa, tăng độ tơi xốp và giữ nước; sử dụng
hiệu quả nguồn tài nguyên thiên nhiên (đất, nước,…).
Do vậy, việc sản xuất lương thực sẽ đáp ứng nhu cầu chủ yếu về đời
sống cho toàn thể nhân dân. Nên nó cần được quan tâm hàng đầu và đầu tư
đúng mức.

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp là sự thay đổi tỷ trọng và vị trí
trong 3 lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi, dịch vụ nông nghiệp trong một cơ cấu
kinh tế nhất định phù hợp với nhu cầu, tiềm năng của mỗi quốc gia.
Ở nhiều quốc gia, nông nghiệp đã và đang được xem là khu vực kinh tế
đi đầu (trước công nghiệp và dịch vụ), nên sản xuất nông nghiệp có vai trò
quan trọng trong tăng trưởng và phát triển kinh tế ở các nước này.
Trong sản xuất nông nghiệp, sản xuất lương thực giữ vai trò quan trọng
nhất, bảo đảm cung cấp lương thực đầy đủ cho toàn dân, là cơ sở cho ngành
chăn nuôi, cung cấp nguyên liệu cho ngành công nghiệp chế biến lương thực,
thực phẩm, đồ uống như: rượu, bia, bánh, kẹo…và là ngành tạo ra nhiều sản
phẩm xuất khẩu có giá trị cao (gạo, nếp, ngô, lúa mỳ….). Do đó sự phát triển
của sản xuất lương thực có ý nghĩa to lớn cho sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế
nông nghiệp phù hợp với tiềm năng phát triển kinh tế sẵn có trong nước của
nhiều quốc gia trên thế giới. Xem trong bảng 1 [12;242] ta thấy ở nhiều nước
phát triển và đang phát triển hiện nay đều là những nước có tiềm năng lương
thực rất lớn. Trong các nước trên có Việt Nam và Thái Lan là nước có sản
lượng lương thực xuất khẩu cao nhất những năm gần đây.
Do điều kiện tự nhiên và điều kiện kinh tế - xã hội thuận lợi nên trong
cơ cấu kinh tế của Việt Nam nông nghiệp chiếm tỷ trọng cao nhất, nhưng đến
năm 1996 Đảng Cộng Sản Việt Nam đã đề ra mục tiêu đẩy mạnh công nghiệp
hóa, hiện đại hóa đất nước là “xây dựng nước ta thành một nước công nghiệp
có cơ sở vật chất – kỹ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất
tiến bộ, phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất….” [6;18]. Để
thực hiện được mục tiêu này thì phải thực hiện sự chuyển dịch cơ cấu nền kinh
tế theo từng ngành, từng lĩnh vực, theo xu hướng giảm dần tỷ trọng nông
nghiệp, tăng dần tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ nhưng trước hết phải đảm
bảo vấn đề lương thực.

Sv: Nguyễn Thị Mỹ Duyên


sự chuyển dịch cơ cấu cây trồng trong nông nghiệp ngày càng đáp ứng đúng
nhu cầu của thị trường và có hiệu quả hơn.
Tóm lại, qua nghiên cứu chúng ta thấy được vai trò quan trọng của
lương thực và sản xuất lương thực trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế và trong
đời sống kinh tế - xã hội. Do vậy, cần quan tâm và đầu tư hơn nữa để nâng cả
về năng suất lẫn chất lượng, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước ngày càng
cao và mở rộng qui mô xuất khẩu.
1.2 Những chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta về sản
xuất lương thực
1.2.1 Chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta
Việt Nam là nước nông nghiệp, quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa
cũng bắt đầu từ nông nghiệp, lấy nông nghiệp làm trọng tâm. Sự phát triển
mạnh của sản xuất lương thực trong thời gian qua đã đưa nước ta sớm thoát
khỏi tình trạng thiếu lương thực phải nhận viện trợ từ bên ngoài và có dư để
xuất khẩu. Chính điều này đã góp phần rất lớn trong việc tạo nguồn vốn và

Sv: Nguyễn Thị Mỹ Duyên

Trang 11

Niên khóa: 2004 - 2008


Khóa luận tốt nghiệp Đại học sư phạm

Chuyên ngành giáo dục chính trị

xây dựng cơ sở vật chất kĩ thuật để đưa nước ta bước vào thời kỳ đổi mới. Nên
vấn lương thực luôn là vấn đề được quan tâm hàng đầu ở nước ta.
Bác Hồ đã sớm đánh giá cao vai trò của lương thực ở nước ta : “Chúng

đánh giá, nhận định tình hình thực tế để đề ra những chủ trương, chính sách

Sv: Nguyễn Thị Mỹ Duyên

Trang 12

Niên khóa: 2004 - 2008


Khóa luận tốt nghiệp Đại học sư phạm

Chuyên ngành giáo dục chính trị

thiết thực nhằm phát triển tốt lĩnh vực sản xuất lương thực đáp ứng yêu cầu và
tình hình mới của đất nước như:
“Đẩy mạnh thâm canh lúa, từng bước hình thành các vùng tập trung sản
xuất lúa năng suất, chất lượng cao gắn với chế biến, bảo quản sau thu hoạch để
nâng cao hiệu quả sản xuất lúa gạo và đẩy mạnh xuất khẩu.
Hỗ trợ, khuyến khích sản xuất và sử dụng các loại máy móc, thiết bị cơ
khí sản xuất trong nước để phục vụ sản xuất. Có chính sách khuyến khích
mạnh các nguồn vốn của dân cư, các doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp,
nông thôn dành một tỷ lệ quan trọng các nguồn vốn Nhà nước huy động được
để đầu tư cho phát triển nông nghiệp, nông thôn; hình thành các tổ hợp công –
nông nghiệp – dịch vụ ở những địa bàn có điều kiện”. [10;11,12]
“Ưu tiên đầu tư cho nghiên cứu và áp dụng giống mới, nhất là các
giống lúa chất lượng cao phục vụ cho xuất khẩu, lúa cạn. Chú trọng việc chấn
chỉnh tổ chức và nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống các viện nghiên
cứu, các trung tâm, tổ chức sự nghiệp khoa học trong nông nghiệp. Nhà nước
tạo điều kiện và khuyến khích phát triển công nghệ chế biến, bảo quản để
giảm tổn thất sau thu hoạch, nâng cao chất lượng sản phẩm; hỗ trợ và tạo điều

tế nông nghiệp và kinh tế nông thôn, chuyển mạnh sang sản xuất các loại sản
phẩm có thị trường và hiệu quả kinh tế cao; đẩy mạnh thâm canh các loại cây
trồng trên cơ sở áp dụng các quy trình sản xuất đồng bộ và tiên tiến; quy
hoạch diện tích sản xuất lương thực ổn định; bảo đảm vững chắc an ninh
lương thực….”. [8;191]

1.2.2 Chủ trương, chính sách của Đảng bộ tỉnh An Giang
Tỉnh An Giang là một trong 13 tỉnh của đồng bằng sông Cửu Long và
được xem là vựa lúa của đồng bằng sông Cửu Long, nhiều năm trở lại đây,
nông nghiệp An Giang không ngừng phát triển, sản lượng lúa luôn đi đầu so
với các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long đã góp phần không nhỏ trong việc đảm
bảo an ninh lương thực của cả nước và giữ ổn định cho nền kinh tế quốc dân
qua việc xuất khẩu lương thực (chủ yếu là lúa tẻ và lúa nếp). Sản lượng lương
thực đạt trên 3,1 triệu tấn/năm, trong đó lúa hàng hoá phục vụ cho xuất khẩu
chiếm trên 1,2 triệu tấn. Vì sản xuất lương thực ở An Giang có vai trò và vị
thế quan trọng trong nền kinh tế nên vấn đề sản xuất lương thực của tỉnh luôn
được Nhà nước và các cấp chính quyền quan tâm.
Năm 2005 Việt Nam thành công lớn trong việc xuất khẩu lúa gạo có sự
đóng góp rất lớn của tỉnh An Giang. Song sản xuất lương thực cũng đã trải qua
nhiều thăng trầm. Năm 2001 – 2005 là thời kỳ sản xuất lương thực An Giang
đang chuyển mình cùng với rất nhiều thuận lợi và khó khăn.
Về thuận lợi: Trong thời kỳ này ngành trồng trọt đã từng bước chuyển
sang sản xuất hàng hóa, gắn với thị trường, nâng cao chất lượng và giá trị sản
phẩm. Nhờ ứng dụng những công nghệ tiến bộ lai tạo được giống lúa tốt, từng
bước thực hiện cơ giới hóa trong nông nghiệp giúp nâng cao năng suất và chất
lượng sản phẩm.
Về khó khăn: Do tác động của thiên tai, lũ lụt (lũ lụt liên tiếp năm 2000
và 2001 đã gây hậu quả nặng nề cho sản xuất, cơ sở hạ tầng và tài sản nhân
dân), dịch bệnh, sản xuất nặng yếu tố tự phát, chưa đảm bảo tính bền vững,
đồng thời suy thoái kinh tế thế giới và khu vực ảnh hưởng đến sản xuất nông


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status