LỜI CẢM ƠN
Em xin bày tỏ sự biết ơn chân thành đối với các thầy cô giáo khoa
Kế hoạch& Phát triển trường Đại học Kinh Tế Quốc Dân Hà Nội, đặc
biệt là sự hướng dẫn nhiệt tình của cô giáo TS. Nguyến Thị Hoa – Người
dã trực tiếp hướng dẫn em để em có thể hoàn thành chuyên đề thực tập
này. Em cũng xin cám ơn anh Đức cùng các đội ngũ cán bộ nhân viên
thuộc Uỷ ban nhân dân huyện Nam Đàn đã tận tình giúp đỡ em về kiến
thức chuyên môn và tài liệu cần thiết cho đề tài.
Sinh viên:
Nguyễn Thị Hương Sen
1
LỜI MỞ ĐẦU
Chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp và kinh tế nông thôn cho phép mỗi
địa phương cũng như quốc gia khai thác mọi hiệu quả, tiềm năng để thúc
đẩy tăng trưởng kinh tế.
Trong những năm gần đây huyện Nam Đàn - Nghệ An đã có những
biện pháp để thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở địa
phương. Nhờ vậy cơ cấu kinh tế nông thôn bước đầu đã có sự chuyển
dịch theo hướng tiến bộ, ngành nghề tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ
phát triển, đời sống nông thôn từng bước khởi sắc.
Tuy nhiên là một huyện nông nghiệp truyền thống, điều kiện tự
nhiên khắc nghiệt, lại phải chịu nhiều hậu quả do chiến tranh để lại. Kinh
tế nông thôn ở Nam Đàn vẫn nặng nề về tự cấp tự túc, sản xuất hàng hoá
chưa phát triển, tiềm năng, lợi thế của địa phương chưa được khai thác
hết. Chính vì vậy một trong những chủ trương lớn để phát triển kinh tế
của địa phương trong thời gian tới đã được huyện xác định là đẩy mạnh
chuyến dịch cơ cấu nông thông theo hướng CNH – HĐH. Đây là một
mục tiêu lớn đòi hỏi có sự phối hợp đồng bộ của chính quyền địa
phương.Vì vậy tôi quyết định chọn đề tài “Một giải pháp chủ yếu thực
hiện kế hoạch chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn ở huyện Nam Đàn
tỉnh Nghệ An từ năm 2008-2010”
Theo C.Mac: “ Cơ cấu kinh tế xã hội là toàn bộ những sản xuất phù
hợp với một quá trình phát triển nhất định của lực lượng sản xuất vật
chất”. C.Mác còn nhấn mạnh rằng, khi phân tích đánh giá một cơ cấu
kinh tế thì phải chú ý tói cả mặt số lượng và chất lượng của nó.Theo ông,
cơ cấu kinh tế là “ Một sự phân chia về vật chất và một tỷ lệ về số lượng
của quá trình sản xuất xã hội”. Cơ cấu kinh tế là sự phản ánh trình độ
phát triển của phân công lao động xã hội, không chỉ là mối quan hệ giữa
các bộ phận cấu thành hệ thống mà bao hàm sự phát triển của từng bộ
phận trong cơ cấu đó.Mặt khác, cơ cấu kinh tế có tính ổn định tương đối,
nó luôn vận động và phát triển theo xu hướng tiến bộ hơn. C.Mác cho
rằng: “ Do tổ chức quá trình lao động và phát triển kỹ thuật một cách
mạnh mẽ, đã làm đảo lộn toàn bộ cơ cấu kinh tế của xã hội”.
4
Từ điển bách khoa Việt Nam viết “ Cơ cấu kinh tế là tổng thể các
ngành, lĩnh vực, bộ phận kinh tế có quan hệ hữu cơ tương đối hợp thành”
và liệt kê các loại cơ cấu khác nhau: Cơ cấu nền kinh tế quốc dân, cơ cấu
theo ngành kinh tế - kỹ thuật, cơ cấu theo vùng, cơ cấu theo đơn vị hành
chính – lãnh thổ, cơ cấu thành phần kinh tế. Trong đó, cơ cấu theo ngành
kinh tế - kỹ thuật mà trước hết là cơ cấu công – nông nghiệp – dịch vụ là
quan trọng nhất.
Từ những quan niệm trên, chúng ta có thể hiểu có thể hiểu cơ cấu
kinh tế như sau:
Cơ cấu kinh tế quốc dân hay còn gọi là kết cấu kinh tế vĩ mô, là
tổng thể các mối liên hệ tất yếu, phổ biến bên trong giữa các mặt, các bộ
phận, các lĩnh vực của nền kinh tế quốc dân, trong mối tác động qua lại
giữa lực lượng sản xuất, được biểu hiện trong những điều kiện không
gian và thời gian nhất định. Dưới giác độ khác nhau, cơ cấu kinh tế
đuwocj phân thành nhiều loại :
- Cơ cấu ngành xét dưới giác độ phân công sản xuất;
- Cơ cấu vùng xét dưới giác độ hoạt động kinh tế xã hội theo lãnh thổ;
thù, những thế mạnh riêng.
Khác với cơ cấu ngành kinh tế và cơ cấu lãnh thổ, cơ cấu thành
phần kinh tế được hình thành trên cơ sở chế độ sở hữu về tư liệu sản
xuất. Cùng với quá trình phát triển của lịch sử, chế độ sở hữu cũng xuất
hiện những hình thành mới .Trong xã hội cộng sản nguyên thủy, lao
động thủ công theo kiểu hái lượm và săn bắt thì mọi tài sản đều thuộc sở
hữu công cộng. Sau đó cùng sự phát triển sản xuất, chế độ chiếm hữu tư
6
nhân tư bản về tư liệu sản xuất ra đời. Hai chế độ này cùng tồn tại và có
lúc đan xen với nhau tạo ra hình thức sở hữu mới.
Như vậy cơ cấu ngành, cơ cấu lãnh thổ, cở cấu thành phần kinh tế là
ba bộ phận hợp thành cơ cấu của tổng thể nền kinh tế.
1.1.1.2. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế là quá trình tác động có hướng của chủ
thể quản lý kinh tế, nhằm biến đổi từ một cơ cấu kinh tế lạc hậu, kém
hiệu quả sang một cơ cấu kinh tế mới hợp lý hơn, hiệu quả hơn. Đó là
quá trình tác động liên tục, tổng hợp trên nhiều phương diện ở cả cấp vĩ
mô và vi mô.
Qúa trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế hướng đến sự hình thành cơ
cấu kinh tế hợp lý. Một cơ cấu kinh tế hợp lý hơn phải đạt được 5 yêu
cầu cơ bản:
Phát huy tốt nhất lợi thế so sánh của quốc gia, vùng, ngành và
doanh nghiệp.
Phải khai thác tổng hợp mọi nguồn lực.
Phải góp phần vào ổn định kinh tế, chính trị và môi trường.
Phải kết hợp kinh tế trong nước và ngoài nước.
Phải gắn tăng trưởng kinh tế với giải quyết những vấn đề bức xúc
về xã hội như: tạo thêm việc làm, phân phối công bằng hợp lý.
Những yêu cầu trên đồng thời cũng là tiêu chí định tính để đánh giá
cơ cấu kinh tế.
chịu ảnh hưởng bởi yếu tố tự nhiên. Thiên nhiên vừa cung cấp các yếu tố
thuận lợi, nhưng cũng gây không ít khó khăn cho quá trình phát triển
8
kinh tế. Qúa nhấn mạnh và lệ thuộc vào tự nhiên hoặc việc coi thường
bất chấp tự nhiên đều dẫn đến kém hiệu quả. Bởi vậy phải chung sống
với tự nhiên, tôn trọng tự nhiên, dựa vào sự phát triển khoa học công
nghệ để lợi dụng tự nhiên và bảo vệ tự nhiên.
Cơ cấu kinh tế nông thôn có một tồn tại là nông nghiệp còn chiếm
tỷ trọng lớn vì thế nên nhóm nhân tố tự nhiên có tác động rất lớn. Quy
mô và cơ cấu sản xuất nông nghiệp phụ thuộc vào quỹ đất nông nghiệp
trong tổng quỹ đất tự nhiên cũng như độ phì nhiêu và cấu tạo thổ
nhưỡng. Theo kết quả điều tra những năm gần đây cho thấy ở Việt Nam
đất thích hợp cho sản xuất nông nghiệp là 3,7 triệu ha, ngoài ra đất có
thể đưa vào sản xuất nông nghiệp nhưng cần đầu tư cải tạo và sản xuất
theo phương thức nông lâm kết hợp.
Mặt khác khí hậu thời tiết khác nhau cũng là điều kiện quan trọng
trong việc bố trí cơ cấu nông nghiệp.
Tóm lại nhóm nhân tố tự nhiên đòi hỏi con người phải có điều tra,
khảo sát, nghiên cứu để hiểu được tự nhiên, tôn trọng tự nhiên, chung
sống, lợi dụng tự nhiên hoặc phòng tránh đối với tự nhiên trong việc xây
dựng và phát triển cơ cấu kinh tế cũng như các nhiệm vụ kinh tế xã hội
khác.
• Nhóm các nhân tố kinh tế xã hội bên trong đất nước:
Thứ nhất: Các nhân tố thị trường và nhu cầu nội địa.
Trong kinh tế hàng hóa thì thị trường và nhu cầu xã hội là người đặt
hàng cho tất cả các lĩnh vực, ngành nghề cả về quy mô, cơ cấu sản lượng,
chất lượng, giá cả, thời gian và không gian đối với tất cả các hàng hóa.
Nhu cầu với tư cách là “động cơ tư tưởng, động cơ thúc đẩy bên
trong của sản xuất”. Trong nền kinh tế thị trường, nhu cầu phản ánh
thông qua thị trường, nó trở thành khách quan đối với nền sản xuất.
lệ nhất định; C.Mác viết “Trong sự phân công lao động xã hội thì con số
tỷ lệ là một tất yếu không sao tránh khỏi. Một tất yếu thầm kín, yên
lặng”. Vì vậy, một cơ cấu kinh tế cụ thể trong nông thôn như thế xu
hướng chuyển dịch của nó ra sao là phụ thuộc và chịu sự chi phối của
những điều kiện kinh tế - xã hội, những điều kiện và hoàn cảnh tự nhiên
nhất định. Do đó, để mang lại hiệu quả thiết thực, đúng mục tiêu, quá
trình tác động của con người phải tôn trọng tính khách quan của cơ cấu
kinh tế.
Thứ hai: Cơ cấu kinh tế nông thôn mang tính lịch sử xã hội nhất
định. Cơ cấu kinh tế nông thôn phản ánh tính quy luật chung của quá
trình phát triển kinh tế - xã hội nông thôn và nó được biểu hiện cụ thể
trong không gian và thời gian hoàn toàn không giống nhau. Mỗi vùng có
điều kiện kinh tế xã hội cụ thể, do vậy cơ cấu kinh tế nông thôn với
những đặc trưng nhất định. Không thể có cơ cấu kinh tế mẫu làm chuẩn
mực cho mọi vùng nông thôn. Do vậy, tùy từng điều kiện kinh tế xã hội
cụ thể và ở từng giai đoạn nhất định mà lựa chọn cơ cấu kinh tế hợp lý,
hiệu quả.
Thứ ba: Cơ cấu kinh tế nông thôn luôn vận động, biến đổi và
phát triển theo hướng ngày càng hợp lý, hoàn thiện và có hiệu quả. Qúa
trình phát triển và biến đổi cơ cấu kinh tế nông thôn luôn luôn gắn bó
chặt chẽ với sự phát triển các yếu tố của lực lượng sản xuất và phân công
lao dộng xã hội. Do đó, để thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông
thôn đúng hướng, có hiệu quả thì phải chú ý đến đầu tư phát triển lực
lượng sản xuất và thúc đẩy sự phân công lao động xã hội.
Thứ tư: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn là một quá trình và
phải qua những bậc thang của sự phát triển. Qúa trình đó diễn ra nhanh
11
hay chậm phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó sự tác động của con
người có ý nghĩa quan trọng. Đặc biệt là tác động bằng các giải pháp
chính sách và cơ chế quản lý để thúc đẩy nhanh quá trình chuyển dịch
ngành công nghiệp và dịch vụ. Tuy nhiên, sự phát triển công nghiệp và
dịch vụ ở nước ta hiện nay không thể thu hút toàn bộ lao động dôi dư
trong nông nghiệp. Qúa trình đô thị hóa không diễn ra đồng thời với quá
trình công nghiệp hóa đã dẫn đến tình trạng nông dân mất đất sản xuất,
thiếu việc làm. Vì vậy, việc giải quyết việc làm cho người lao động phải
được thực hiện ngay trên địa bàn nông thôn thông qua quá trình chuyển
dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Bên cạnh đó, việc thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn
cho phép chúng ta khai thác có hiệu quả mọi nguồn lực tiềm ẩn, phát huy
lợi thế của mỗi vùng nông thôn, xây dựng nông thôn mới văn minh, tiến
bộ, thực hiện chủ trương tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội mà
Đảng ta đã đề ra, qua đó rút ngắn khoảng cách giữa thành thị và nông
thôn.
Những ý nghĩa trên đây đã chứng minh rằng, chuyển dịch cơ cấu
kinh tế nông thôn là rất cần thiết.
1.2.2. Sự cần thiết phải CDCC kinh tế nông thôn ở Nam Đàn
Cơ cấu và chuyển dịch cơ cấu kinh tế là vấn đề có tính chiến lược
phát triển kinh tế của Đảng và nhà nước ta. Một cơ cấu kinh tế hợp lý sẽ
cho phép mỗi quốc gia mỗi địa phương khai thác tốt nguồn lực, phát huy
lợi thế so sánh để đẩy nhanh tốc độ cũng như nâng cao chất lượng tăng
trưởng kinh tế. Vì vậy việc thú đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế trên cơ sở
nhận thức vận động khách quan của nó có vai trò hết sức quan trọng.
13
Chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp và kinh tế nông thôn cho phép mỗi
địa phương cũng như quốc gia khai thác mọi hiệu quả, tiềm năng để thúc
đẩy tăng trưởng kinh tế. Đó cũng là quá trình hiện đại hoá nông nghiệp
và kinh tế nông thôn, mở rộng ngành nghề ngay tại địa phương, giải
quyết việc làm tăng thu nhập cho người lao động gắn tăng trưởng kinh tế
với tiến bộ và công bằng xã hội và xây dựng nông thôn văn minh.
Với ý nghĩa quan trọng đó, Đảng và nhà nước ta đã có những chủ
xây dựng, cát, đất sét cho phép có thể phát triển công nghiệp sản xuất vật
liệu xây dựng(một nhu cầu lớn của nhân dân trong huyện và trong tỉnh).
Với việc giảm tỷ lệ dân số hàng năm từ 0,1% đến 0,15% đã đưa tỷ
lệ tăng dân số xuông 0,7% vào năm 2005.Điều đó cho phép từng hộ gia
đình nông dân có khả năng tích luỹ để tái sản xuất. Đồng thời với tỷ lệ
đó và trong điều kiện hiện tại cho phép mỗi năm Nam Đàn tăng lên từ
1500-2000 lao động bổ sung cho nguồn nhân lực, và với trình độ dân trí
ngày cang được tăng lên cho phép thúc đẩy nhanh sự phân công lao động
xã hội đi vào chuyên môn hoá.
Thu nhập và đời sống dân cư ngày càng được nâng lên. Điều đó cho
thấy nhu cầu ngày càng được nâng lên và sẽ kéo theo cung cầu tăng lên.
Tuy nhiên là một huyện nông nghiệp truyền thống, điều kiện tự
nhiên khắc nghiệt, lại phải chịu nhiều hậu quả do chiến tranh để lại.
Kinh tế nông thôn ở Nam Đàn vẫn nặng nề về tự cấp tự túc, sản xuất
hàng hoá chưa phát triển, tiềm năng, lợi thế của địa phương chưa được
khai thác hết.
15
Trong sản xuất nông nghiệp, tuy đã đạt được những thành tựu quan
trọng, song vẫn chưa thực sự vững chắc. Một số diện tích lớn phụ thuộc
nhiều vào thiên nhiên như các vùng dọc kênh Lam Trà, vùng Hữu Ngạn
sông Lam, vùng đồi như Nam Hưng,..chưa hoàn toàn chủ động tưới tiêu
cho toàn bộ diện tích, do vậy vẫn còn nhiều vùng bị hạn cục bộ và úng
lụt. Nguyên nhân chủ yếu là do hệ thống công trình thuỷ lợi tuy khá dầy
đặc nhưng không đồng bộ và bị xuống cấp chỉ phát huy được xấp xỉ 50%
công suất thiết kế.
Hệ thống đê kè phòng chống lũ lụt tuy được tu bổ hàng năm nhưng
vẫn không đảm bảo tiêu chuẩn thiết kế an toàn. Hệ thống công trình tiêu
thiếu đồng bộ, hệ thống đê kè phòng chống lũ lụt tuy được tu bổ hàng
năm nhưng vẫn không đảm bảo tiêu chuẩn thiết kế an toàn trong trường
hợp chế độ thủy văn sông Lam có diễn biến phức tạp, bất thường.
đó hạn chế hiệu quả kinh tế. Bên cạnh đó, tư duy kinh tế phá thế nghèo,
vươn lên làm giàu còn hạn chế. Cho nên, đầu tư vào ngành nghề, dịch vụ
chưa có sự chuyển biến mạnh, còn manh mún, nhỏ giọt, mang tính “vóc
ngắn, cắn dài” đã hạn chế lớn tới chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn.
Đời sống nhân dân tuy đã được cải thiện, song nguồn thu nhập chủ
yếu của người dân vẫn là từ nông nghiệp mà chủ yếu là lương thực. Các
nguồn thu khác không ổn định, dẫn đến mức thu nhập bình quân đầu
người còn thấp, cho nên khả năng tích lũy để đầu tư vừa thấp lại vừa
không ổn định.
Nguồn lao động dồi dào, song lao động nông nghiệp vẫn chiếm tỷ lệ
cao trong khi sự phát triển ngành công nghiệp, dịch vụ vẫn còn hạn chế,
chưa tạo ra sức hút lớn để chuyển mạnh cơ cấu lao động. Do vậy vào
17
thời kỳ nông nhàn lao động còn lãng phí, tình trạng không có việc làm
còn khá phổ biến, thu nhập của người lao động không ổn định.
Ở Nam Đàn, hầu như không có ngành nghề tiểu thủ công nghiệp
truyền thống có thế mạnh trên thị trường. Các nghề tiểu thủ công nghiệp
truyền thống chủ yếu mang tính tự cấp tự túc, tiêu thu nội bộ. Trong khi
đó, việc du nhập phát triển ngành nghề mới lại bị động và phụ thuộc
nhiều vào các yếu tố như: Trình độ tay nghề, khả năng tiếp thu nghề của
người lao động, khả năng tổ chức sản xuất, khả năng cạnh tranh trên thị
trường. Vì vậy, ngoài các ngành sản xuất vật liệu xây dựng, xay xát, chế
biến lương thực…phát triển được trong những năm gần đây, còn các
ngành nghề khác mới chỉ là bước khởi đầu. Điều đó hạn chế nhiều tới
việc đẩy nhanh quá trình phân công lại lao động trong nông thôn.
Chính vì vậy một trong những chủ trương lớn để phát triển kinh tế
của địa phương trong thời gian tới đã được huyện xác định là đẩy mạnh
chuyến dịch cơ cấu nông thông theo hướng CNH – HĐH.
1.3. Kế hoạch CDCC kinh tế nông thôn huyện Nam Đàn giai
đoạn 2006-2010
- Ngành Nông – Lâm nghiệp – Thủy sản:
Thực hiện có hiệu quả chuyển dịch cơ cấu nội bộ ngành nông
nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa.Tăng dần tỷ lệ giống lúa đặc sản
chất lượng cao, giá trị hàng hóa lớn: cải tạo đất, thâm canh trên đồng
ruộng, mở rộng diện tích cây vụ đông.
Khuyến khích phát triển cây ăn quả và cây lâu năm ở vùng đồi và
đất vườn, ứng dụng nhanh tiến bộ sinh học đưa các giống cây thích hợp
cho từng loại đất vào tứng vùng nhằm đẩy nhanh việc cải tạo, xóa bỏ
19
vườn tạp. Tạo ra các vườn và trang trại có hiệu quả kinh tế cao. Chuyển
các vùng đất trồng lúa không chủ động tuới tiêu sang trồng cây ăn quả
theo phương châm xây dựng “vườn đồng”.
Phát triển mạnh chăn nuôi theo hướng nạc hóa đàn lợn, sind hóa
đàn bò, phát triển gia cầm với các loại giống có sản lượng cao về thịt và
trứng. Khai thác triệt để diện tích ao hồ, mặt nước để chăn nuôi cá và đặc
sản có giá trị.
- Ngành Công nghiệp và Tiểu thủ công nghiệp:
Đẩy mạnh phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp trên cơ
sở khai thác có hiệu quả thế mạnh về tài nguyên thiên nhiên.
Mở rộng và phát huy các ngành nghề truyền thống nhằm giải
quyết việc làm cho lực lượng lao động nông nhàn và tận dụng những
nguyên liệu sẵn có ở địa phương như: tre, mây, nứa.
Phát triển mạnh việc khai thác vật liệu xây dựng như: Cát, đá, sỏi
cung cấp cho thị trường trong và ngoài huyện.
Phát triển tiểu thủ công nghiệp sản xuất tư liệu sản xuất nhằm đáp
ứng nhu cầu của nhân dân trong huyện.
Phát triển công nghiệp chế biến để nâng cao giá trị hàng hóa nông
sản, đáp ứng nhu cầu thị trường, tạo thêm hàng hóa cho tiêu dùng và
xuất khẩu.
- Ngành Dịch vụ:
Phát triển nuôi bò sinh sản theo hướng sind hóa.
Thực hiện các chương trình trồng rừng, khai thác và sản xuất vật
liệu xây dựng như: Gạch ngói Nam Thái, Vân Diên: Đá ở Nam Giang,
Nam Thanh. Xây dựng điểm du lịch hồ Nam Hưng.
21
- Tiểu vùng Hữu Ngạn sông Lam:
Gồm 8 xã: Nam Thượng, Nam Tân, Nam Lộc, Khánh Sơn, Nam
Trung, Nam Cường, Nam Phúc, Nam Kim. Là vùng có nhiều khó khăn
do hay bị ngập lụt hàng năm. Vùng này tập trung chủ yếu sản xuất cây
lương thực, cây công nghiệp ngắn ngày, phát triển nuôi bò vỗ béo và bò
sinh sản, phát triển cây ăn quả như: chanh, cam bù, hồng xiêm, phát triển
trồng rừng theo dự án phát triển nuôi tằm và ươm tơ.
- Phương hướng CDCC thành phần kinh tế:
- Khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho các loại hình kinh tế
tư nhân đầu tư phát triển theo quy định của pháp luật. Xóa bỏ
mọi sự phân biệt đối xử, đảm bảo sự bình đẳng cho các thành
phần kinh tế.
- Phát triển các loại hình kinh tế hợp tac, đổi mới các hợp tác xã
kiểu cũ, khuyến khích việc liên kết kinh tế trong nông thôn, đặc
biệt chú trọng các hình thức hợp tác xã dịch vụ.
- Khuyến khích mọi hình thức đầu tư trong và ngoài nước, ở mọi
lĩnh vực đầu tư phát triển kinh doanh trên địa bàn huyện.
1.3.3. Mục tiêu tổng quát
Đại hội XXIV huyện Đảng bộ Nam Đàn đã xác định mục tiêu tổng
quát trong kế hoạch phát triển kinh tế xã hội cũng như quá trình chuyển
dịch cơ cấu kinh tế nông thôn của huyện trong giai đoạn 2006-2010 với
những nội dung sau đây:
- Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân giai đoạn 2006-2010 đạt
16 - 17%.
- Chuyển dịch mạnh mẽ cơ cấu kinh tế để đến 2010 có cơ cấu:
thị trấn đạt vững mạnh toàn diện trong xây dựng ATLC SSCĐ.
23
- Nõng cao t l che ph rng v cht lng che ph t 45
50% vo nm 2010.
- m bo mụi trng sch; 100% c s sn xut kinh doanh t
tiờu chun mụi trng; 89 90% rỏc thi c thu gom v i
vo x lý theo tiờu chun thụng l.
CHNG II
NH GI THC HIN KH CDCC KINH T NễNG THễN
NAM N TRONG 2 NM 2006-2007
2.1. Thc trng v CDCC kinh t nụng thụn Nam n trong
2 nm 2006-2010
2.1.1. C cu ngnh kinh t
Kinh tế tăng trởng khá, cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hớng, tăng tỷ
trọng CNXD và dịch vụ.
Bng 1: C cu kinh t huyn Nam n nm 2 nm 2006 v 2007:
n v: %
2006 2007
Nụng nghip 62,05 56,15
Cụng nghip Xõy dng 19,36 21,91
Dch v 18,59 21,94
Tng s 100 100
Ngun: S liu Phũng thng kờ huyn Nam n
Sn xut nụng nghip:
t ai sn xut nụng nghip c khai thỏc khỏ tt. C cu mựa
v, cõy, con, ging cú bc chuyn i tớch cc theo hng sn xut
hng húa v nõng giỏ tr trờn n v din tớch.
- V trng trt:
24
Diện tích rau màu thực phẩm tăng nhanh trên cả ba vụ sản xuất. Vụ