Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Lời nói đầu
Trong thời đại ngày nay khoa học công nghệ đang tiến bộ vợt bậc, kinh tế tri
thức, xã hội thông tin đang hình thành và phát triển, không phải tài nguyên thiên
nhiên mà tri thức sáng tạo của con ngời là yếu tố quyết định đến tốc độ phát triển của
mỗi Quốc gia. Do vậy phát triển nguồn nhân lực mà trớc hết là nguồn nhân lực có
trình độ chuyên môn cao là yêu cầu tất yếu trong quá trình phát triển kinh tế ở hầu
hết các nớc, đặt biệt là các nớc đang phát triển. Phát triển giáo dục đào tạo trong đó
có giáo dục Đại học là sự lựa chọn cần thiết để đáp ứng yêu cầu trên.
Để đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội của đất nớc phù hợp với môi trờng
quốc tế đang biến đổi sâu sắc, những năm qua ngành Đại học nớc ta đã có những bớc
phát triển đáng ghi nhận: Qui mô giáo dục tăng; trình độ dân trí và chất lợng nguồn
nhân lực đợc nâng lên rõ rệt; đa dạng hoá các hình thức đào tạo; gắn kết hoạt động
đào tạo, nghiên cứu khoa học với lao động sản xuất; xây dựng các mô hình đại học
kiểu mới... Mặc dù vậy giáo dục đại học Việt Nam vẫn còn nhiều hạn chế: Mất cân
đối giữa qui mô và chất lợng đào tạo; cơ cấu đào tạo vẫn cha hợp lý; đội ngũ giảng
viên còn thiếu về số lợng, yếu về chất lợng; nội dung chơng trình đào tạo cha phù hợp
với yêu cầu phát triển kinh tế...
Muốn khắc phục những yếu kém trên cần phải có chiến lợc, kế hoạch và bớc đi
cụ thể. Kế hoạch phát triển giáo dục đại học 2001 - 2005 là để góp phần làm đợc điều
đó. Nhng để kế hoạch 5 năm đầu tiên trong thế kỷ 21 của ngành đào tạo đại học
thành công thì việc lựa chọn những giải pháp là rất quan trọng. Do vậy em lựa chọn
đề tài "Các giải pháp chủ yếu thực hiện kế hoạch phát triển giáo dục đại học 2001
- 2005 ở Việt Nam". Chuyên đề của em ngoài lời nói đầu, mục lục và danh mục tài
liệu tham khảo thì kết cấu gồm có 3 chơng:
C h ơng I: Kế hoạch phát triển giáo dục đại học trong quá trình phát triển kinh tế
xã hội ở Việt Nam.
Ch ơng II: Đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch phát triển giáo dục đại học giai
đoạn 2001 - 2005 (cho 2 năm đầu).
Ch ơng III: Các giải pháp thực hiện kế hoạch phát triển giáo dục đại học ở Việt
Nam 2001 - 2005 (cho 3 năm cuối).
Theo Luật Giáo dục Việt Nam, hệ thống giáo dục Quốc dân bao gồm:
Giáo dục mần non: Có Nhà trẻ và Mẫu giáo.
Giáo dục phổ thông: Có hai bậc học là Tiểu học và bậc Trung học; bậc Trung
học có 2 cấp là giáo dục Phổ thông cơ sở và Trung học phổ thông.
Giáo dục nghề nghiệp: Có Trung học chuyên nghiệp và Trung học dạy nghề.
Giáo dục Đại học: Đào tạo 2 trình độ là trình độ Cao đẳng và Đại học.
Giáo dục sau đại học: Đào tạo 2 trình độ là Thạc sỹ và Tiến sỹ.
Vậy giáo dục đại học là loại hình cao nhất trong hệ thống giáo dục nhà trờng.
Và theo Luật Giáo dục Việt Nam (1998) thì giáo dục Đại học đợc hiểu là đào tạo hai
trình độ Đại học và Cao đẳng; theo loại hình đào tạo chính quy và không chính quy;
theo phơng thức đạo tạo truyền thống và đào tạo từ xa; ...
Bùi Thị Thanh Huyền 2 Lớp KTPT41A
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Đào tạo trình độ Cao đẳng đợc thực hiện trong 3 năm đối với ngời có bằng tốt
nghiệp Trung học phổ thông và Trung học chuyên nghiệp
Đào tạo trình độ Đại học đợc thực hiện từ 4- 6 năm tuỳ theo từng ngành nghề
đào tạo đối với ngời có bằng tốt nghiệp trung học phổ thông hoặc bằng tốt nghiệp
Trung học chuyên nghiệp; từ 1-2 năm đối với ngời có bằng tốt nghiệp Cao đẳng cùng
chuyên ngành.
Theo tinh thần Hội nghị Thế giới về giáo dục Đại học ở Pháp năm 1998, giáo
dục Đại học là giáo dục sau Trung học, là những hệ thống phức tạp tác động qua lại
với các cơ quan thể chế liên quan, có nghĩa là với các hệ thống chính trị, kinh tế, văn
hoá, xã hội. Các trờng Đại học đều chịu ảnh hởng của môi trờng Địa phơng và Quốc
gia, các môi trờng này lại chịu tác động của những môi trờng khu vực và Quốc tế.
Nh vậy so với quan niệm về giáo dục đại học của Việt Nam, tại Hôi nghị Thế
giới về giáo dục đại học quan niệm về giáo dục đại học có rộng hơn, giáo dục đại
học không chỉ đào tạo 2 trình độ Cao đẳng và Đại học mà là ở tất cả các trình độ trên
Trung học tức là ở trình độ Trung học chuyên nghiệp, các lớp chuyên đề, sau Đại
học...
Đề tài em nghiên cứu về giải pháp thực hiện kế hoạch phát triển giáo dục đại
Kết quả của giáo dục Đại học (đầu ra) với đặc trng sản phẩm là con ngời lao
động đợc thể hiện cụ thể ở các phẩm chất: Giá trị nhân cách và giá trị sức lao động
hay năng lực hành nghề của ngời tốt nghiệp tơng ứng với mục tiêu đào tạo. Kết quả
này không chỉ dừng ở kết quả đào tạo trong nhà trờng với những điều kiện đảm bảo
nhất định nh cơ sở vật chất, đội ngũ giảng viên..., mà còn tính mức độ phù hợp và
thích ứng của ngời tốt nghiệp với thị trờng lao động nh tỷ lệ có việc làm sau khi tốt
nghiệp, năng lực hành nghề tại các vị trí công việc cụ thể trong doanh nghiệp. Do vậy
để đánh giá kết quả hoạt động của giáo dục Đại học cần thời gian tơng đối dài (thờng
là 5 năm). Tuy nhiên cần nhấn mạnh rằng, mức độ thích ứng với thị trờng lao động
không chỉ phụ thuộc vào chất lợng đào tạo mà còn phụ thuộc vào các yếu tố khác của
thị trờng nh quan hệ cung cầu, giá cả sức lao động, chính sách sử dụng và bố trí công
việc của Nhà nớc và ngời sử dụng lao động,...Do vậy, khả năng thích ứng còn phản
ánh cả hiệu quả đào tạo ngoài xã hội và thị trờng lao động
Từ những đặc điểm trên giáo dục Đại học có thể đợc khái quát theo mô hình:
Mô hình tổng thể quá trình đào tạo Đại học
Bùi Thị Thanh Huyền 4 Lớp KTPT41A
Đầu vào
Tham gia thị trường LĐ
- Sinh viên và học viên
- Giảng viên
- Trang thiết bị và tài
liệu
- Cơ sở vật chất
- Hiện trạng việc
làm
- Thích ứng
nghề nghiệp
- Thu nhập
- Phát triển nghề
nghiệp
Nh vậy tăng trởng kinh tế có quan hệ hàm số với các yếu tố đầu vào là vốn (K),
lao động (L), tài nguyên (R) và tiến bộ khoa học công nghệ (T). Do tính chất kinh tế
các yếu tố này không phải là các tham số rời rạc mà là một hệ thống các quan hệ phụ
thuộc lẫn nhau theo những tỷ lệ hết sức chặt chẽ.
2.1.2. Mối quan hệ giữa giáo dục đại học và tăng trởng kinh tế.
Trong nền kinh tế tri thức hiện nay, với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ
thuật thì lao động đặc biệt là lao động có trình độ cao là yếu tố quan trọng, là động
lực cho tăng trởng kinh tế. Để có đợc đội ngũ lao động có chất lợng cao đòi hỏi phải
đầu t cao trong lĩnh vực giáo dục nói chung và giáo dục đại học nói riêng. Nhng hoạt
động giáo dục Đại học lại không trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất và vì vậy
không trực tiếp tạo ra các sản phẩm hàng hoá dịch vụ và tiêu dùng. Tuy nhiên, thực
hiện chức năng do phân công lao động xã hội, giáo dục Đại học là nơi duy nhất có đủ
điều kiện và đủ khả năng cung cấp nguồn nhân lực có chất lợng cao cho nền kinh tế.
Vì vậy giáo dục Đại học có vai trò hết sức quan trọng trong quá trình phát triển sản
xuất, đặc biệt trong thời đại hiện nay khi nền sản xuất xã hội đang trở thành đối tác
chính yếu để tiếp nhận và tiêu thụ các sản phẩm nghiên cứu đang từng ngày từng giờ
đợc đổi mới, sáng chế, phát minh nhờ kết quả đa lại của tiến bộ khoa học kỹ thuật và
công nghệ.
Tăng chất lợng ngời lao động cũng là nhân tố giúp tăng trởng kinh tế, vì vậy
giáo dục Đại học với vai trò làm tăng chất lợng nguồn nhân lực đặc biệt là tăng trí lực
cũng góp phần vào tăng trởng kinh tế. Những thuyết tăng trởng kinh tế mới cho rằng,
Bùi Thị Thanh Huyền 5 Lớp KTPT41A
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
công nghệ thay đổi càng nhanh thì càng thúc đẩy tăng trởng kinh tế trong dài hạn. Về
phần mình, công nghệ tăng trởng nhanh hơn khi lực lợng lao động có trình độ cao
hơn. Do vậy tích luỹ vốn con ngời đặc biệt là kiến thức sẽ tạo điều kiện phát triển các
công nghệ mới và là nguồn duy trì tăng trởng.
Ngoài ra giáo dục Đại học còn góp phần vào tăng trởng kinh tế thông qua tăng
năng suất lao động của mỗi cá nhân nhờ nâng cao trình độ và quan điểm của họ lẫn
kiến thức. Có thể chứng minh giáo dục Đại học tác động trực tiếp đối với việc tăng
Bùi Thị Thanh Huyền 6 Lớp KTPT41A
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
L= l
1
+ l
2
=
22
21
)(
l
XC
K
l
Xcc
K
+
+
=+
++
Trong đó :
L: Tỷ suất lợi nhuận của giáo dục.
l
1
: Tỷ suất lợi nhuận trực tiếp.
l
2
: Tỷ suất lợi nhuận thu đợc thông qua giáo dục.
c
2
%5,12100
12000
1500
1
== xl
Nh vậy khi đầu t vào giáo dục Đại học 10.000 USD sẽ thu đợc lợi nhuận hàng
năm là 1.250 USD trong suốt quá trình của ngời đã qua đào tạo, đây là mức thu mà
ngời đó có thể kiếm đợc bằng hoặc cao hơn mà không cần đầu t thêm. Có nghĩa là
những ngời học Đại học sẽ thu đợc lợi ích lớn hơn những ngời học phổ thông.
Số liệu thực tế đã chứng minh rằng tỷ lệ sinh viên tốt nghiệp có việc làm là rất
cao. Năm 1999 có 72,47 % sinh viên có việc làm, 23,8% thất nghiệp và 3,69% sinh
viên tiếp tục học thêm (Báo cáo tại Diễn đàn Giáo dục Việt Nam năm 2000). Mặt
khác thành tích học tập của sinh viên cũng ảnh hởng đến thu nhập: Những sinh viên
đoạt loại xuất sắc trong quá trình học tập có thu nhập cao hơn 30% (sinh viên đạt loại
khá cao hơn 4%) so với sinh viên có học lực trung bình. Những sinh viên tốt nghiệp
đòi hỏi phải thông thạo tiếng Anh có thu nhập cao hơn những ngời khác, tơng tự nh
vậy đối với các sinh viên có công việc đòi hỏi những kỹ năng về máy vi tính đặc biệt
Bùi Thị Thanh Huyền 7 Lớp KTPT41A
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
là bảng tính điện tử. Những ngời vừa học vừa làm có thu nhập cao hơn 10% so với
những ngựời không làm gì khi đi học.
Nh vậy là cơ hội việc làm và khả năng có thu nhập cao sẽ đến với bất kỳ cá nhân
nào có trình độ kiến thức và chuyên môn cao, đáp ứng đợc yều cầu của thị trờng lao
động và thích nghi nhanh với điều kiện thực tế. Qua đó ta cũng đợc vai trò quan trọng
của tri thức đối với sự phát triển kinh tế hiện nay.
II. giáo dục Đại học theo kế hoạch.
1. ý nghĩa của kế hoạch phát triển giáo dục Đại học.
Kế hoạch hoá phát triển giáo dục đại học là hớng giáo dục theo các mục tiêu xác
định trớc, cân đối, phối hợp nhịp nhàng các hoạt động giáo dục, đảm bảo các hoạt
nghề khác nhau và đánh giá chất lợng về nó do thị trờng lao động quyết định rộng
hơn là do nền kinh tế. Vì vậy các trờng Đại học phải nắm bắt đợc nhu cầu của xã hội
để thiết kế các chơng trình, nội dung và ngành đào tạo.
Nh vậy những nhu cầu của thị trờng và xã hội tác động trực tiếp đến nguồn
nhân lực của ngành giáo dục Đại học. Hay nói cách khác điều kiện kinh tế - xã hội
của từng thời kỳ tác động đến quá trình đào tạo nguồn nhân lực đại học. Chẳng hạn
hiện nay đất nớc đang trong quá trình CNH - HĐH đòi hỏi phải đào tạo đội ngũ lao
động có trình độ cao với cơ cấu đào tạo lĩnh vực hợp lý cũng nh phơng thức đào tạo
phù hợp với quá trình cách mạng khoa học công nghệ và quản lý kinh tế hiện đại. Với
định hớng chung đó, với vai trò đặc biệt trong hệ thống giáo dục đào tạo, giáo dục
Đại học cần xây dựng những phơng hớng thích hợp.
- Là cơ sở để xây dựng các nhu cầu của yếu tố ban đầu, cơ sở tổ chức các liên
kết đào tạo, mô hình đào tạo.
Thật vậy căn cứ vào kế hoạch giáo dục đào tạo ta xác định đợc nhu cầu về các
yếu tố nguồn lực cho giáo dục đại học( giảng viên, vốn đầu t, cơ sở vật chất,...) từ đó
có các biện pháp cần thiết để huy động kịp thời sao cho phù hợp với tốc độ phát triển
giáo dục đại học. Không những thế kế hoạch phát triển giáo dục đại học cũng là cơ sở
để ta tổ chức các mô hình đào tạo, liên kết đào tạo cho phù hợp với chỉ tiêu tuyển sinh
và xu hớng phát triển qui mố giáo dục đại học.
- Tác động tích cực đối với lao động.
- Là căn cứ để đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch.
Nh vậy kế hoạch phát triển giáo dục Đại học không chỉ là những mục tiêu cần
phải đạt đợc trong thời gian triển khai các biện pháp thực hiện, nó còn là cơ sở để
đánh giá quá trình thực hiện kế hoạch. Từ đó so sánh đi đến kết luận và đa ra những
mục tiêu, giải pháp mới để phát triển giáo dục Đại học trong giai đoạn tiếp theo.
2. Nguyên tắc đối với việc xây dựng kế hoạch phát triển giáo dục Đại
học.
Xây dựng kế hoạch phát triển giáo dục đào tạo nói chung và giáo dục Đại học
nói riêng đều phải đảm bảo những nguyên tắc sau đây:
- Đảm bảo tính mục tiêu: Kế hoạch phát triển giáo dục Đại học phải phản ánh
3.1.1. Chỉ tiêu về mặt số lợng:
Về mặt số lợng, sự phát triển của Đại học có thể đợc phân tích gồm các chỉ tiêu
về quy mô (quy mô đào tạo, quy mô thực hiện đào tạo) và chỉ tiêu mạng lới trờng các
trờng Đại học
Chỉ tiêu quy mô:
Quy mô sinh viên: Chỉ tiêu này cho biết số lợng sinh viên đang theo học ở tất
cả các trờng Đại học bao gồm tất cả mọi loại hình đào tạo.
Theo luật Giáo dục Việt Nam, sinh viên Việt Nam có thể đợc đào tạo dới hình
thức đào tạo chính quy và đào tạo không chính quy. Giáo dục Đại học không chính
Bùi Thị Thanh Huyền 10 Lớp KTPT41A
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
quy là phơng thức giáo dục giúp cho sinh viên có thể vừa học vừa làm, học liên tục
suốt đời nhằm hoàn thiện các nhân cách, mở rộng hiểu biết, nâng cao trình độ học
vấn, chuyên môn nghiệp vụ để cải hiện chất lợng cuộc sống, tìm việc làm và thích
nghi với đời sống xã hội.
Xét theo cách thức học gồm sinh viên học dài hạn (chính quy), sinh viên học
ngắn hạn và sinh viên học tập trung theo các lớp chuyên đề.
Chỉ tiêu số lợng sinh viên tuyển sinh hàng năm:
Chỉ tiêu này cho biết số sinh viên đợc tuyển mới hàng năm. Số lợng này căn cứ
vào nhu cầu bổ sung lực lợng lao động mới, mục tiêu quốc gia về tỷ lệ lao động qua
đào tạo.
Chỉ tiêu tuyển sinh theo ngành:
Chỉ tiêu này cho biết số sinh viên đợc tuyển theo ngành hàng năm. Đây là con
số cho biết cơ cấu đào tạo theo ngành đồng thời cho biết xu thế điều chỉnh cơ cấu
kinh tế cả nớc.
Chỉ tiêu số lợng sinh viên tốt nghiệp:
Cho biết số sinh viên đã học xong, thực tế đã tốt nghiệp trong năm học, không
bao gồm số sinh viên đang học. Nó phản ánh kết quả của sự nghiệp giáo dục Đại học.
Do mỗi năm đều có những sinh viên rời trờng vì những lí do khác nhau, vì vậy số
sinh viên tốt nghiệp không nhất thiết phải bằng số lợng sinh viên tuyển sinh.
của cả nước
trong năm
Số SV đang
học ở trường i
n
i
i
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Giáo dục đơng đại và tơng lai tập trung vào việc học, coi việc học là trung tâm
nhng đó không phải là sự chuyển đổi vị trí của ngời giảng viên từ vai trò của chủ thể
thành khách thể của giáo dục và ngợc lại học trò thành chủ thể. Giáo s Pierre
Franciois Morecue cho rằng: Đó là hai chủ thể của giáo dục. Xét từ khoa học quản lý
thì trong hoạt động giáo dục, ngời thầy luôn luôn là chủ thể (quản lý) còn học trò là
khách thể của họ.
Mặc dù gần đây có những thay đổi lớn về phơng diện và công nghệ thông giáo
dục, song ngời thầy vẫn là nhân tố quyết định đến chất lợng giáo dục. UNESCO đã
nhấn mạnh rằng: vai trò của ngời thầy vẫn là chủ yếu mặc dù cải cách kinh tế đang
xảy ra. Tuy nhiên chỉ riêng giảng viên không thể quyết định đợc chất lợng giáo dục.
Đây là một mục tiêu và đầu ra của một hệ thống gồm nhiều yếu tố và nguồn lực khác
nhau. Việc học tập theo Ngân hàng Thế giới đòi hỏi phải có 5 loại đầu vào: 1) Là khả
năng và động cơ học tập của học sinh; 2) Môn học; 3) Giảng viên nắm vững chuyên
môn và có khả năng thực hiện môn học đó; 4) Thời gian học tập; 5) Các giáo trình và
học cụ cần thiết. Nh vậy chất lợng của giảng viên vẫn là yếu tố cơ bản quyết định đến
chất lợng giáo dục Đại học. Nên yếu tố cơ bản đối với giảng viên là phải hiểu biết đối
tợng, mục tiêu đào tạo và làm chủ nội dung phơng pháp giáo dục. Do vậy giáo dục
Đại học đòi hỏi giảng viên phải đợc đào tạo tốt hơn để có kiến thức vững vàng, có
khả năng lao động sáng tạo kết hợp giảng dạy với nghiên cứu khoa học. Lao động s
phạm đòi hỏi phải kết hợp giữa trí tuệ và đạo đức; khoa học và kinh nghiệm; kỹ năng
và phong cách... Lao động của giảng viên Đại học là lao động bậc cao, phức tạp, do
vậy cần phải chọn lọc, đào tạo chu đáo và có chế độ đãi ngộ tơng xứng và thỏa đáng.
Trờng đầu t bằng 100% vốn nớc ngoài: Là loại hình t thục do cá nhân, nhóm cá
nhân hoặc tổ chức nớc ngoài xin phép thành lập.
Từ đó ta có thể chia mạng lới các trờng Đại học theo loại hình này thành 2 loại:
Trờng Đại học công lập và trờng Đại học ngoài công lập (gồm có dân lập, t thục ...).
3.1.2. Chỉ tiêu đánh giá chất lợng.
Chất lợng và chất lợng đào tạo.
Hiện nay có rất nhiều những quan niệm khác nhau:
Theo tiêu chuẩn Pháp - NFX50 - 109: Chất lựợng là tiềm năng của một sản
phẩm hay dịch vụ nhằm thoả mãn nhu cầu của ngời sử dụng.
Theo tiêu chuẩn Việt Nam ISO 8402: Chất lợng là tập hợp các đặc tính của
một thực thể (đối tợng) tạo cho thực thể đó có khả năng thoả mãn những nhu cầu đã
nêu ra hoặc nhu cầu tiềm ẩn.
Theo Harvey & Green - 1993: Chất lợng đợc thể hiện 1) Sự xuất chúng, tuyệt
vời, u tú, xuất sắc; 2) Sự hoàn hảo; 3) Sự thích hợp 4) Sự thể hiện giá trị; 5) Sự biến
đổi về chất.
Trên cơ sở đó chất lợng đào tạo cũng có rất nhiều định nghĩa:
Chất lợng đào tạo đợc đánh giá qua mức độ đạt đợc trớc mục tiêu đào tạo đã
đề ra đối với một chơng trình đào tạo (Lê Đức Ngọc, Lâm Quang Thiệp - Đại học
Quốc Gia Hà Nội).
Bùi Thị Thanh Huyền 13 Lớp KTPT41A
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Chất lợng đào tạo là kết quả của quá trình đào tạo đợc phản ánh ở các đặc tr-
ng về phẩm chất, về giá trị nhân cách và giá trị sức lao động hay năng lực hành nghề
của ngời tốt nghiệp tơng ứng với mục tiêu, chơng trình đào tạo theo các ngành nghề
cụ thể (Trần Khánh Đức - Viện Nghiên cứu Phát triển Giáo dục).
Chất lợng giáo dục là chất lợng thực hiện các mục tiêu giáo dục (Lê Đức
Phúc - Viện Khoa học Giáo dục).
Các chỉ tiêu phản ánh chất lợng giáo dục Đại học.
Xuất phát từ quan điểm về chất lợng đào tạo đợc nêu trên thì đối với mỗi trờng
Đại học, mỗi ngành đào tạo có thể có những tiêu chí sau:
- Cân đối giữa lực lợng giảng viên đại học và số sinh viên đang theo học ở trờng.
Tỷ lệ giảng viên và sinh viên đang học ở trờng phản ánh hiệu quả và lợi ích của
sự nghiệp giáo dục đại học. Tỷ lệ giữa giảng viên và sinh viên khác nhau trong những
hình thức giáo dục khác nhau nhng phải đảm bảo một mức độ hợp lý nhất định, nếu
vợt qua mức độ hợp lý đó ví dụ nh: Tỷ lệ sinh viên/giảng viên quá cao lúc đó trách
nhiệm của giảng viên quá nặng và sẽ khó đảm bảo chất lợng giáo dục. Ngợc lại tỷ lệ
này quá thấp, năng lực của giảng viên không đợc phát huy đầy đủ, điều này lại gây ra
sự lãng phí đối với sự nghiệp giáo dục đại học.
Do vậy khi xây dựng kế hoạch phát triển giáo dục đại học cần phải tính đến tỷ lệ
này và căn cứ vào đó để xây dựng các chỉ tiêu tuyển sinh cho phù hợp với nguồn lực
giảng viên hiện có. Nhng không nên phụ thuộc lớn vào nguồn lực giảng viên hiện có
mà làm chậm quá trình phát triển qui mô giáo dục đại học, nghĩa là chúng ta cũng
phải đồng thời tăng nguồn lực giảng viên phù hợp với tốc độ tăng sinh viên tuyển
mới.
- Cân đối giữa các hớng đầu t khác nhau.
Đầu t vốn cho giáo dục nói chung và giáo dục Đại học nói riêng là toàn bộ số
vốn xã hội giành cho sự nghiệp giáo dục trong một thời kỳ nhất định . Nó phản ánh
quy mô nhân lực và vật lực mà xã hội dùng để khai thác phát triển tài nguyên trí lực
của đất nớc. Và theo quan điểm của Đảng và Nhà nớc đầu t cho giáo dục đào tạo là
đầu t cho phát triển. Tài chính là một điều kiện quan trọng để đảm bảo thực hiện các
mục tiêu giáo dục đào tạo nh mở rộng quy mô và nâng cao chất lợng, đáp ứng yêu
cầu phát triển trong từng thời kỳ.
Từ trớc đến nay nguồn tài chính cho giáo dục đào tạo chủ yếu là từ ngân sách
Nhà nớc. Tuy nhiên trong điều kiện kinh tế còn kém phát triển, thu nhập quốc dân
tính trên đầu ngời còn thấp và nguồn thu ngân sách hạn hẹp, đầu t từ ngân sách cho
giáo dục đào tạo đã tăng lên song vẫn cha đáp ứng đợc nhu cầu tài chính để duy trì và
phát triển các hoạt động giáo dục đào tạo. Với chủ trơng xã hội hoá giáo dục đào tạo
của Đảng và Nhà nớc nguồn tài chính đầu t cho giáo dục đào tạo đã có thay đổi về cơ
cấu. Theo mục 2 chơng VII Luật Giáo dục Việt Nam, các nguồn đầu t cho giáo dục
Bùi Thị Thanh Huyền 15 Lớp KTPT41A
Trung học, Tiểu học.
Việc đào tạo nói chung phải trải qua mấy giai đoạn: Tiểu học, Trung học, Đại
học. Đây là hoạt động đặc thù của ngành giáo dục, giáo dục Tiểu học và Trung học là
cơ sở của đào tạo nhân tài, có ý nghĩa phổ cập vô cùng quan trọng. Giáo dục Đại học
là giai đoạn cao của đào tạo nhân tài, là giai đoạn cung cấp những tri thức kĩ thuật
chuyên nghiệp và bồi dỡng kĩ năng, kĩ thuật chuyên nghiệp. Trong điều kiện hiện nay
giáo dục Đại học còn cha phổ biến rộng rãi, giáo dục trung học cũng đang trong giai
đoạn phổ cập. Điều này khiến cho các giai đoạn khác nhau của giáo dục có hình dạng
Bùi Thị Thanh Huyền 16 Lớp KTPT41A
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
kim tự tháp. Xử lý hợp lý mối quan hệ giáo dục sẽ đáp ứng yêu cầu đào tạo về các
loại nguồn lực cho nền kinh tế - xã hội.
Cân đối giữa các loại hình đào tạo chuyên ngành và nghề nghiệp sao cho đáp
ứng đợc nhu cầu nền kinh tế - xã hội:
Để làm ra những sản phẩm đợc thị trờng chấp nhận, có sức cạnh tranh ngày
càng cao thì phải có những kỹ s công nghệ giỏi, những công nhân có tay nghề cao,
nắm bắt đợc bí quyết công nghệ, đồng thời phải có một bộ máy quản lý năng động có
trách nhiệm cao, đủ sức nắm bắt nhu cầu biến động của thị trờng, có khả năng nhanh
chóng tổ chức lại dây chuyền sản xuất linh hoạt, phù hợp với yêu cầu chế tạo ra sản
phẩm mới. Do đó chúng ta phải phấn đấu đạt đợc tỷ lệ cân đối để đảm bảo tính đồng
bộ của lực lợng lao động nớc ta.
Nhng trên thực tế tình trạng mất cân đối trong cơ cấu và sự phân bổ lực lợng
sinh viên còn cha hợp lý giữa các vùng, miền; số sinh viên đợc đào tạo về các ngành
kỹ thuật, công nghệ còn chiếm tỷ lệ thấp (22%) trong tổng số những ngời đợc đào
tạo; ngành khoa học xã hội chiếm tỷ lệ (58%) thấp nhất vẫn là ngành nông nghiệp
(8%) quân sự (3%). Không chỉ mất cân đối giữa các ngành mà ngay trong một ngành
cũng có tình trạng nh vậy. Đơn cử ngành khoa học xã hội thì ngành kinh tế là ngành
có quy mô đào tạo tăng trởng nhanh nhất trong mấy năm trở lại đây. Mức tăng quy
mô đào tạo Đại học mạnh nhất trong giai đoạn đổi mới này là nhóm ngành kinh tế -
kinh doanh và luật. Hiện tợng này xuất phát từ nhu cầu của ngựời học nhng nếu cứ để
nói chung và giáo dục Đại học nói riêng. Thật vậy hoạt động giáo dục Đại học muốn
sản xuất ra các dịch vụ của mình đòi hỏi xã hội phải cung ứng một lợng nguồn lực
nhất định để đảm bảo điều kiện vật chất (trụ sở hoạt động, các trang thiết bị...) và
hàng loạt các chi phí khác (trả lơng cho giảng viên, mua tài liệu sách báo...). Trong
điều kiện kinh tế thị trờng các nguồn lực đợc lợng hoá bằng tiền, đó là phần trong
tổng GDP hàng năm của mỗi quốc gia.
Hàng năm do yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, do sự tăng lên của dân số... làm
cho số ngời đợc đào tạo tăng lên, đòi hỏi mức đầu t cho đào tạo cũng tăng theo. Nếu
mức tăng đầu t thấp hơn mức tăng đào tạo thì cha đảm bảo Tái sản xuất giản đơn.
Cần phải có mức tăng đầu t đủ lớn để các lợi ích của đầu t cho đào tạo lớn hơn mức
Tái sản xuất giản đơn nói trên, tức là lợi ích cận biên (MB) của đầu t phải vợt lên
trên chi phí biên (MC) của đào tạo. Song trong thực tế, giữa mức đầu t và hiệu quả
của đào tạo không phải hoàn toàn tỷ lệ thuận với nhau. Kinh nghiệm cho thấy, tuỳ
vào điều kiện hoàn thành cụ thể của từng quốc gia trong từng thời kỳ mà sẽ có mức
đầu t tối u. Mức đầu t đó phải đảm bảo đáp ứng tốt các điều kiện về cơ sở vật chất,
yêu cầu về giảng dạy, học tập, nghiên cứu, thí nghiệm, thực tập gắn với mục tiêu ch-
ơng trình đào tạo cụ thể. Vì vậy mức đầu t tốt nhất là thoả mãn đầy đủ các điều kiện
cho đào tạo. Tuy nhiên khi thoả mãn các điều kiện việc tăng đầu t không mang lại lợi
ích gì cho đào tạo Đại học.
Tơng quan hàm số giữa đầu t và đào tạo:
Bùi Thị Thanh Huyền 18 Lớp KTPT41A
F
E
X
x
m
x*
x
1
x
Nếu mức đầu t x > x
*
thì MB < MC lúc này tăng đầu t không mang lại hiệu quả.
Căn cứ vào tơng quan hàm số giữa đầu t và đào tạo Đại học ta thấy đối với nớc
ta hiện nay, lợi ích cận biên của đào tạo Đại học (MB) tăng nhanh hơn mức tăng chi
phí của đào tạo (trong giai đoạn x<x
m
). Đây là giai đoạn tăng đầu t sẽ làm tăng nhanh
lợi ích của đào tạo. Do đó cần phải tìm mọi biện pháp (trong đó chủ yếu thông qua xã
hội hoá giáo dục) để tăng nhanh mức đầu t cho giáo dục Đại học là hết sức cần thiết.
Điều này cũng có nghĩa là muốn thực hiện tốt kế hoạch phát triển giáo dục nói chung
và giáo dục Đại học nói riêng thì vấn đề đầu t là nhân tố hết sức quan trọng. Nó tác
động rất lớn đến tình hình thực hiện kế hoạch giáo dục. Vì vậy trong khi lập kế hoạch
giáo dục Đại học các nhà lập kế hoạch phải tính toán cân đối giữa mức đầu t và quy
mô giáo dục Đại học cho hợp lý.
4.2. Nhu cầu về đào tạo.
Có thể nói nhu cầu về đào tạo Đại học phụ thuộc lớn vào số lợng học sinh trung
học tốt nghiệp hàng năm. Những năm qua quy mô giáo dục Đại học không ngừng
tăng lên, mạng lới trờng lớp đợc mở rộng. Đầu năm học 2001 - 2002, tổng số học
Bùi Thị Thanh Huyền 19 Lớp KTPT41A
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
sinh phổ thông trung học là 2.834.000 tăng so với năm học 1995 -1996 là 1.314.000
(gấp 2, 288 lần). Tính bình quân số học sinh trung học phổ thông 18,4 %/năm. Trong
khi đó hiệu suất đào tạo (tỷ lệ giữa số học sinh tốt nghiệp so với số học sinh đầu khoá
học) tăng lên rất nhanh từ 74,97% lên 83,16%. Tức là nhu cầu của các học sinh phổ
thông Trung học vào Đại học là rất lớn.
Nhu cầu vào Đại học lớn là do hiện nay vẫn còn quan niệm phi Đại học bất
thành nhân và vào Đại học là con đờng tốt nhất để lập nghiệp và có tơng lai vững
chắc vì vậy học sinh sau năm đầu thi không đỗ năm sau vẫn tiếp tục đăng ký thi Đại
học. Điều này cũng tăng sức ép đối với các cơ sở đào tạo Đại học.
Nhng trên thực tế ở Việt Nam hiện nay số lợng giảng viên/sinh viên còn khá
khiêm tốn, có 32.205 giảng viên trong năm học 2000 - 2001 (40 - 50 sinh viên/giảng
viên) trong khi đó cơ cấu trình độ học vị của giảng viên còn thấp có 1.454 Giáo s và
Phó giáo s, 4.500 Tiến sĩ và Tiến sĩ khoa học (13,9%); 9.543 Thạc sĩ và 618 Chuyên
khoa cấp I+II. Điều này cho thấy cha tơng xứng với quy mô và tốc độ tăng của sinh
viên.
Tóm lại để thực hiên tốt kế hoạch phát triển giáo dục Đại học thì chúng ta phải
chấn chỉnh cung giáo dục tức là mở rộng mạng lới các trờng Đại học và cao đẳng; đa
dạng hoá các loại hình đào tạo, tăng cờng bồi dỡng và tuyển mới đội ngũ giảng viên
và chỉ tiêu không kém phần quan trọng là tăng chỉ tiêu tuyển mới hàng năm cho phù
hợp với nhu cầu đào tạo.
4.4. Các chính sách.
Các chính sách tài khoá và kinh tế vĩ mô xác định tỷ lệ, mức độ bảo đảm và việc
sử dụng nguồn lao động trong tăng trởng kinh tế ở mỗi quốc gia. Vì thế chúng có tác
động sâu sắc đến hệ thống giáo dục. Thứ nhất, mức độ chi tiêu chung cho giáo dục ở
hầu hết các quốc gia thờng đợc xác định bởi các chi tiêu công cộng - số thu tổng quát
của Chính phủ đã huy động đợc và mức độ u tiên xác định cho lĩnh vực giáo dục. Thứ
hai, tỷ lệ tăng trởng và mô hình tăng trởng kinh tế ảnh hởng tới mức độ hoàn vốn của
lĩnh vực giáo dục - thu nhập mà cá nhân mong đợi tăng lên, năng suất lao động và
tăng trởng mỗi quốc gia mong đợi từ khoản đầu t cho giáo dục. Một lợng lớn các
nghiên cứu cho thấy các lựa chọn về giáo dục của cha mẹ và học sinh là tơng đối
nhạy cảm với mức độ hoàn vốn các cấp và các loại giáo dục khác nhau.
Nhiều quốc gia đang phải gánh chịu những kết hợp không ăn khớp giữa nền
kinh tế và hệ thống giáo dục. Nếu hệ thống giáo dục đi trớc nền kinh tế sẽ quan sát đ-
ợc số lợng sinh viên Đại học bị thất nghiệp toàn phần hay bán phần và điều này phản
ánh khoản chi phí khổng lồ đối với xã hội phát sinh từ các khoản đầu t không có hiệu
quả cho giáo dục. Nếu thấy hệ thống giáo dục không theo kịp sự phát triển của nền
kinh tế sẽ nảy sinh ra những thiếu hụt các kĩ năng quan trọng cho ngành kinh tế chủ
chốt. Nếu sự gắn kết giữa thứ đợc học trong xã hội và cái mà xã hội đòi hỏi là tồi thì
sinh viên sẽ bỏ học chứ không lãng phí thời gian để theo đuổi những thứ có mức hoàn
Các ngành học Sinh viên tuyển mới %
Tổng số 2.921.079 100,0
Kỹ thuật 1.212.554 40,1
Khoa học tự nhiên 315.357 10,4
Nông nghiệp 106.428 3,5
Y dợc 262.665 8,7
Sự phạm 21.770 4,0
Kinh tế và pháp lý 565.710 18,8
Văn hoá lịchsử,triết học 436.595 14,5
Nguồn: Bộ giáo dục và đào tạo
Bùi Thị Thanh Huyền 22 Lớp KTPT41A
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Xét theo cơ cấu đào tạo trong tổng số sinh viên tuyển mới năm học 1996 thì cơ
cấu đào tạo của Trung Quốc đã có những thay đổi theo chiều hớng tích cực để phù
hợp với quá trình phát triển kinh tế của đất nớc. Trung Quốc đã chú ý đào tạo những
sinh viên thuộc chuyên ngành kỹ thuật hơn (40,1%) để tạo ra đội ngũ nhân lực có
trình độ công nghệ cao, nắm bắt tốt xu hớng phát triển khoa học công nghệ nhằm
thực hiện đi tắt đón đầu trong nền kinh tế tri thức hiện nay. Tiếp đến là ngành Kinh tế
và Pháp lý 18,8 % ; Văn hoá lịch sử, Thiên văn học 14,5% ...
Ngoài ra đội ngũ cán bộ công nhân viên và giảng viên cũng đợc củng cố và phát
triển. Năm 1996 tổng số giảng viên là 402.469 ngời tăng 25,1 lần so năm 1949, trong
đó có 32.276 Giáo s; 110.640 Phó giáo s; 161.863 Giảng viên.
Giáo dục Đại học của Trung Quốc cũng đóng góp lớn vào trong quá trình phát
triển khoa học công nghệ của Trung Quốc. Riêng trong năm 1996 có 50,6% giải th-
ởng về phát minh và 31,3% giải thởng nghiên cứu khoa và công nghệ đợc trao cho
các trờng Đại học. Trong lĩnh vực Triết học và Xã hội học 65,9% dự án xã hội đợc tài
trợ của Quỹ tài trợ xã hội trao cho các trờng Đại học.
Quan hệ hợp tác quốc tế của giáo dục Đại học Trung Quốc cũng rất phát triển.
Theo UNESCO năm 1998 thì Trung Quốc là nớc đứng đầu trong việc gửi sinh viên ra
nớc ngoài du học (năm 1998 Trung Quốc gửi 115.871 sinh viên đi du học). Và hiện
% GDP chi cho
giáo dục
% GDP chi cho GDTH và
TH từ NSGD
% GDP chi cho
GDĐHtừ NSGD
Thái Lan 3,2 81 12
Hàn Quốc 3,0 84 10
Trung Quốc 4,0 72 15
Singapore 5,0 65 31
Nguồn: Bộ Giáo dục đào tạo
2.3. Giáo dục Đại học có xu hớng hội nhập với các nớc trên thế giới, trên cơ sở
xây dựng tinh thần tự lập tự chủ của bản thân.
Trung Quốc chủ yếu xây dựng và phát triển nền giáo dục Đại học mang tính tự
chủ sáng tạo và chủ yếu lấy việc tiếp thu khoa học kỹ thuật của nớc ngoài làm con đ-
ờng phát triển. Bên cạnh đó thông qua chính sách mở cửa đối ngoại thuận theo xu thế
quốc tế hoá, tận dụng mọi thời cơ để tăng cờng hợp tác quốc tế tìm hiểu học tập
những phơng pháp mới. Căn cứ vào tình hình quốc tế và hoàn cảnh của nớc mình, các
trờng Đại học đã xây dựng cho mình những kế hoạch, chiến lợc phát triển có những
điều chỉnh nhất định để phù hợp với xu thể của thời đại.
Hiện nay trong nền kinh tế tri thức Việt Nam muốn hoà nhập với khu vực và
Quốc tế đòi hỏi phải có đội ngũ nhân lực có trình độ cao. Vì vậy phát triển giáo
dục Đại học mở rộng cả quy mô lẫn chất lợng là một tất yếu. Bên cạnh việc tự xây
dựng và tổng kết kinh nghiệm của mình trong thời gian qua Việt Nam cũng nên
tham khảo, học hỏi kinh nghiệm phát triển giáo dục Đại học của một số nớc đã
thành công để tìm ra cho mình những giải pháp riêng phù hợp với điều kiện kinh tế
đất nớc và với xu thế hội nhập của quốc tế.
Bùi Thị Thanh Huyền 24 Lớp KTPT41A
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp
Bïi ThÞ Thanh HuyÒn 25 Líp KTPT41A