Lời mở đầu
Xây dựng một đất nớc Xã hội chủ nghĩa trong điều kiện bị bao vây kinh tế mà
sự dòm ngó của các nớc T bản chủ nghĩa điều đó hoàn toàn không phải là dễ dàng
với bất cứ một quốc gia nào nói chung và Việt nam nói riêng. Việc phát triển kinh tế
song đồng thời lại phải gắn liền với đảm bảo an ninh quốc phòng lại càng trở nên khó
khăn đối với một nớc nh Việt Nam chúng ta. Trong xu thế quốc tế hoá nh hiện nay,
buộc các nớc phải hoà mình vào một thế giới hoà bình và ổn định, và để có đợc nh
vậy bản thân mỗi quốc gia phải có trách nhiệm hội nhập vì chính lợi ích của bản thân
mình và cũng vì lợi ích của thế giới. Song một thực tế đã chứng minh, một quốc gia
muốn phát triển lại đòi hỏi quốc gia đó phải có một cơ cấu kinh tế nội thân hợp lý.
Tức bố trí các ngành sản xuất một cách khoa học và đạt hiệu quả cao nhất. Nh một
nhà kinh tế đã nói Ngoại thơng là chìa khoá cho sự phát triển của một quốc gia
và điều đó đã đợc thực tế xác nhận trong quá trình phát triển của các quốc gia phát
triển. Việc xây dựng một chính sách ngoại thơng phù hợp là vô cùng cần thiết trong
xu thế hội nhập và sự biến đổi liên tục của tình hình thế giới. Ngoại thơng phát triển
thúc đẩy nền kinh tế gia tăng từ đó xác định một cơ cấu kinh tế phù hợp với sự phát
triển. Chính vì vai trò to lớn của hoạt động ngoại thơng nh vậy mà tôi lựa chọn đề tài:
Các chính sách phát triển ngoại thơng nhằm thực hiện kế hoạch chuyển dịch cơ
cấu kinh tế theo xu thế hội nhập ở Việt Nam để nghiên cứu cho đề án môn chuyên
ngành. Kết cấu bài viết gồm ba phần:
Phần I: Việt Nam với xu thế hội nhập quốc tế.
Phần II: Cơ cấu kinh tế Việt Nam trong tiến trình hội nhập
Phần III: Chính sách ngoại thơng Việt Nam trong tiến trình hội nhập.
Vì điều kiện thời gian và vốn hiểu biết có hạn nên trong bài viết còn nhiều sai
sót và không sát thực xin đợc góp ý của thầy cô giáo và các bạn. Xin chân thành cảm
ơn GS. PTS Vũ Thị Ngọc Phùng; TS Ngô Thắng Lợi đã giúp em hoàn thành bài
viết này.
phần I
1
việt nam với xu thế hội nhập quốc tế
Nh chúng ta đã biết, năm 1967 là năm đánh dấu sự ra đời của đứa con tinh thần
- Hiệp hội các quốc gia Đông Nam á và ngày nay ASEAN ngày càng có vai trò to
lớn không chỉ ở Đông Nam á, khu vực Châu á mà cả khu vực Châu á - Thái Bình D-
ơng và thế giới. Tuy rằng, sự ra đời ASEAN khởi đầu không đợc suôn xẻ cho lắm,
2
các nớc trong ASEAN đều có những tham vọng riêng của họ: Indonexia không giấu
giếm tham vọng vị trí lãnh đạo. Malaixia muốn lợi dụng ASEAN nh công cụ đối phó
với xung đột chủng tộc trong nớc và tranh chấp lãnh thổ với các quốc gia lân bang.
Philipin lo ngại xung đột với Malaixia xung quanh vấn đề Sabah. Thái Lan hoảng sợ
hội chứng cộng sản lan toả từ Đông Dơng. Singapore tìm cách khắc phục thế bị cô
lập, thù ghét trong khu vực. Chính vì những tham vọng riêng này vào thời điểm bấy
giờ mà ASEAN không thể trở thành một tổ chức chỉ đạo thống nhất siêu quốc gia,
mà chỉ là cơ quan phối hợp hoạt động dung hoà quyền lợi, chế ớc quyền lực giữa các
quốc gia thành viên. Và đặc điểm này đã chi phối quá trình hợp tác an ninh - chính
trị của ASEAN. Để thực hiện mục tiêu hợp tác an ninh - chính trị, ASEAN áp dụng
hai biện pháp:
+ Một là: Thúc đẩy quan hệ hữu nghị, tìm kiếm con đờng thơng lợng để giải
quyết các mâu thuẫn, tranh chấp giữa các hội viên.
+ Hai là: Phối hợp chính sách ngoại giao với nhau để có chiến sách lợc thống
nhất, nhằm ngăn chặn nguy cơ xâm lợc, lật đổ, can thiệp từ bên ngoài; chống tham
vọng bá quyền của các nớc lớn đồng thời lợi dụng mâu thuẫn của các nớc lớn: chủ
động tạo lập thế cân bằng an ninh chiến lợc trong khu vực.
Mục tiêu và quan điểm của ASEAN là rộng mở và liên kết toàn khu vực Hiệp
hội mở cửa cho tất cả các nớc trong khu vực Đông Nam á tán thành các mục đích,
nguyên tắc và mục tiêu đã nêu trong tuyên bố Băng Cốc 8/8/1967: Thúc đẩy tăng tr-
ởng kinh tế, tiến bộ xã hội và phát triển văn hoá, thông qua từ nỗ lực chung trên tinh
thần bình đẳng và hợp tác, thúc đẩy hoà bình và ổn định khu vực; tôn trọng công lý,
nguyên tắc pháp luật và hiến chơng Liên Hợp Quốc. Đồng thời tuyên bố cũng xác
định mối quan hệ hợp tác giữa các nớc trong khu vực trên tất cả các mặt cơ bản nh
thúc đẩy sự hợp tác và giúp đỡ lẫn nhau trong các lĩnh vực kinh tế xã hội, văn hoá,
sớm càng tốt. Ông Gôchoctông thủ tớng Singapore nói: Có đợc một ASEAN với
toàn thể 10 nớc thành viên khu vực Đông Nam á là một hãnh diện ASEAN phải v-
ơn tới đội hình lớn để giành lấy sự kính trọng của thế giới.
Và nh mong muốn năm 1999 lần lợt các nớc Mianma - Lào - Campuchia là
những thành viên cuối cùng tham gia vào một ASEAN 10 quốc gia độc lập.
Sau khi là quan sát viên của ASEAN (7/1992), Việt Nam đã tích cực tham gia
các lĩnh vực chuyên ngành trên các lĩnh vực: khoa học kỹ thuật, y tế, văn hoá, môi tr-
ờng và du lịch,... dần dần quan hệ Việt Nam - ASEAN đợc hoàn thiện vào năm 1994.
Và để đánh dấu, đặt nền móng cho sự phát triển trong quan hệ Việt Nam - ASEAN là
việc Việt Nam chính thức là thành viên thứ 7 của ASEAN vào ngày 28/7/1995.
1.2. ý nghĩa việc Việt Nam gia nhập ASEAN.
Quan hệ kinh tế ngày càng mở rộng giữa các quốc gia đó là yếu tố thúc đẩy quá
trình hoà nhập của Việt Nam vào thị trờng khu vực và thế giới. Điều này có ý nghĩa
chính trị xã hội không chỉ với Việt Nam mà cả khu vực. Đại sứ các nớc ASEAN tại
Việt Nam khi nhận định về ý nghĩa quan trọng của Việt Nam gia nhập ASEAN viết:
.... Việt Nam gia nhập ASEAN sẽ góp phần to lớn cho việc xây dựng cộng đồng
Đông Nam á đã đợc đề cập đến trong bản tuyên ngôn thành lập ASEAN tại Băng
Cốc. Có Việt Nam ở ASEAN, viễn cảnh về một Đông Nam á thống nhất rất có thể
trở thành hiện thực trong một tơng lai không xa.
... Việc kết nạp Việt Nam vào khối ASEAN sẽ đem lại lợi ích cho cả Việt Nam,
sẽ là một thành viên hữu ích chỉ trong việc thúc đẩy hợp tác và hợp nhất kinh tế giữa
các nớc ASEAN mà còn góp phần quan trọng trong việc duy trì hoà bình và thịnh v-
4
ợng trong khu vực. Với t cách là nớc thành viên ASEAN Việt Nam sẽ giữ vững đợc
mức tăng trởng kinh tế nhờ buôn bán và đầu t nớc ngoài vào nhiều hơn. Việt Nam gia
nhập ASEAN cũng sẽ mang lại sự năng động hơn cho nền kinh tế của các nớc trong
khu vực vì nguồn tài nguyên của Việt Nam phần lớn còn rất nhiều.
Ngoài ra thông qua hội nhập ASEAN Việt Nam sẽ học hỏi đợc rất nhiều ở các
nớc thành viên, nh kinh nghiệm của Thái Lan - Philipin về nông nghiệp và công
nghiệp chế biến nông sản, kinh nghiệm của Singapore về tổ chức thị trờng vốn. Kinh
mới chỉ chiếm gần 30% giá trị xuất khẩu của Việt Nam, trong khi đó hàng nhập khẩu
từ các nớc ASEAN chiếm hơn 45% giá trị nhập khẩu của Việt Nam. Trớc tình hình
5
này, đòi hỏi chính bản thân chúng ta phải khắc phục và xác định cơ cấu ngành hàng
xuất khẩu của mình ra làm sao tránh tình trạng mất cân đối.
Trong điều kiện hiện nay, khi đã là thành viên đầy đủ của ASEAN Việt Nam
phải tuân thủ theo các luật chơi mà tổ chức đề ra. Chúng ta nhất thiết phải tham gia
tổ chức mậu dịch tự do AFTA mà phải tuân thủ các qui chế Hiệp định u đãi thuế
quan có hiệu lực chung (CEPT). Đây là cơ hội và cũng đồng thời là khó khăn cho
chúng ta trong quá trình hội nhập vào mạng lới mậu dịch rộng lớn của các nớc
ASEAN. Chúng ta đặt mục tiêu vào năm 2008 tỉ lệ trao đổi nội bộ ASEAN tăng từ
18% giá trị ngoại thơng lên 50% giá trị ngoại thơng của ASEAN. Sự hội nhập, xâm
nhập thị trờng quốc tế theo cả hai chiều sẽ đặt Việt Nam vào thế cạnh tranh gay gắt
đặc biệt họ lại là những nớc có kinh nghiệm. Và một điều khiến chúng ta phải lo
nghĩ là liệu Việt Nam có thể trở thành nơi cung cấp lao động và nguyên liệu thuần
tuý cho các nớc ASEAN.
Một thiệt thòi nữa mà Việt Nam cũng phải gánh chịu đó là trong qui định của
CEPT không giảm thuế quan cho các sản phẩm nông nghiệp. Trong khi hàng nông
sản lại là sản phẩm chủ lực trong cơ cấu hàng xuất khẩu của Việt Nam hiện nay.
Điều này đòi hỏi các nhà lãnh đạo Việt Nam trong thơng lợng nội bộ ASEAN sẽ cân
nhắc trong những lần họp tới.
3. Thuận lợi và khó khăn khi Việt Nam tham gia AFTA
3.1. Hiệp định thuế quan có hiệu lực chung CEPT để thành lập khu vực mậu
dịch tự do ASEAN - AFTA.
Hiệp định thuế quan CEPT thực chất là cơ sở để ASEAN áp dụng và hình thành
khối mậu dịch tự do Đông Nam á. Vì vậy để nắm vững luật chơi khi thực hiện
AFTA chúng ta phải xem xét những nội dung mà CEPT đã thực hiện.
* Những vấn đề đ ợc đề cập trong CEPT.
- Mọi thành viên sẽ tham gia vào CEPT.
- Sử dụng mã HS 6 số để mã hoá các sản phẩm.
- Các nớc thành viên tìm kiếm thêm các biện pháp cho các lĩnh vực hợp tác
chung biên giới hoặc không chung biên giới để hỗ trợ cho tự do hoá thơng mại.
* Hợp tác về công nghiệp, khoáng sản và năng lợng.
* Hợp tác về tài chính ngân hàng.
* Hợp tác về lơng thực nông, lâm nghiệp.
thì vẫn đợc hởng những u đãi miễn trừ của Hiệp định.
b. Sản phẩm:
Hiệp định qui định những sản phẩm đợc hởng những qui chế của Hiệp định bao
gồm tất cả các sản phẩm chế tạo:
- Hàng công cụ sản xuất.
- Nông sản chế biến (với nông sản thô sẽ có qui định riêng).
c. Lịch trình giảm thuế.
7
+ Tiến hành giảm mức thuế xuất xuống còn 20% trong thời gian từ 5-8 năm và
các nớc thành viên sẽ thực hiện giảm thuế hàng năm theo công thức:
(X - 20)% / 5
X: Mức thuế xuất hiện đang áp dụng của mỗi nớc thành viên.
+ Tiếp tục giảm mức thuế xuất từ 20% hoặc dới 20% trong thời gian 5 năm. Và
mức giảm tối thiểu là 5% lợng đợc giảm.
+ Đối với những sản phẩm hiện đang có thuế xuất 20% hoặc dới 20% (vào thời
điểm 1/1/1993) thì các nớc thành viên sẽ quyết định chơng trình giảm thuế riêng và
giữa các nớc đợc phép thoả thuận giảm thuế xuống còn 0-5% đối với từng loại sản
phẩm.
+ Các sản phẩm hiện đang có mức thuế xuất 20% hoặc dới 20% vẫn đợc hởng u
đãi miễn trừ.
+ Không bắt buộc các nớc thành viên phải giảm thuế xuất ngay xuống 0-5%.
d. Những qui định khác.
- Giữa các nớc thành viên sẽ huỷ bỏ số lợng với những sản phẩm nằm trong kế
hoạch CEPT, đợc hởng u đãi miễn trừ.
- Sau khi những sản phẩm đợc hởng u đãi miễn trừ sẽ từng bớc huỷ bỏ hàng rào
chuyển giao kỹ thuật và phát triển nguồn nhân lực.
- Tăng cờng hợp tác đối thoại quốc tế nhằm mở rộng thị trờng.
- Tập chung hợp tác trong lĩnh vực bảo toàn nguồn năng lợng, không ngừng
nghiên cứu nhiên liệu thay thế.
- Tôn trọng và phát huy nguyên tắc thơng mại rộng mở tự do của GATT.
3.3. Thuận lợi khó khăn khi Việt Nam tham gia AFTA.
Với tinh thần chung của Hiệp định khung AFTA trên nguyên tắc hoạt động của
CEPT để thấy rõ thuận lợi và khó khăn trong việc thực hiện AFTA ta sẽ nghiên cứu
những lợi thế so sánh của Việt Nam với các nớc ASEAN.
Khó khăn: Đầu tiên ta phải kể đến những hậu quả nặng nề của quá khứ đem lại.
Điều này cũng có nghĩa dẫn đến sự khác nhau về thể chế kinh tế và cơ chế quản lý,
chuyển đổi từ nền kinh tế tập chung sang nền kinh tế thị trờng trong điều kiện các
quan hệ thị trờng cha thực sự trởng thành.
- Thứ đến, đó là khoảng cách về trình độ công nghệ phát triển kinh tế giữa Việt
Nam và các nớc ASEAN. Đó là bất lợi và mối lo ngại lớn trong quá trình hoà nhập.
- Cạnh tranh gay gắt trong thị trờng đầu t do sản phẩm xuất nhập khẩu của Việt
Nam và các nớc ASEAN tơng đối giống nhau mà trình độ công nghệ của Việt Nam
lại đi sau các nớc ASEAN khác từ 15 đến 20 năm.
- Vấn đề con ngời đối với Việt Nam lại là vấn đề đáng lo ngại nhất kể cả về
trình độ quản lý kinh tế của cán bộ quản lý, cha đáp ứng đợc yêu cầu đặt ra của tình
hình mới.
9
Thuận lợi: Việt Nam và các nớc ASEAN là những láng giềng lâu đời trong giao
lu kinh tế, văn hoá và chúng ta tơng đối hiểu biết lẫn nhau vì vậy chúng ta sẽ có
những lợi thế cụ thể trong việc buôn bán thơng mại.
- Có điều kiện thu hút đợc nhiều vốn đầu t từ những nớc thừa vốn, có hàm lợng
kỹ thuật cao: Singapore - Thái Lan,...
- Sử dụng lao động rẻ trong nớc bằng cách tham gia chuyển giao những công
nghệ thâm dụng lao động từ các nớc trong khối.
- Tận dụng lao động rẻ có hàm lợng chất xám cao để đẩy mạnh xuất khẩu hàng
thành viên (500 triệu dân). Điều này giúp huy động tiềm năng lao động và tài nguyên
dồi dào của Việt Nam vào phát triển xuất khẩu.
Trong những năm qua, tốc độ tăng kim ngạch buôn bán của Việt Nam với thị tr-
ờng ASEAN tăng 27%, với doanh số buôn bán 1/3 kim ngạch ngoại thơng nớc nhà,
điều này có đợc là do:
Thứ nhất: Về cán cân buôn bán nớc ta vẫn đang ở thế nhập siêu với thị trờng
ASEAN, song xuất khẩu có xu hớng gia tăng do việc chúng ta xuất khẩu dầu thô
sang Singapore tăng lên (năm 1999 ta xuất đợc 14.300 nghìn tấn), triển vọng xuất
khẩu của Việt Nam sang thị trờng ASEAN cha có nhiều hứa hẹn thay đổi mạnh, do
cơ cấu mặt hàng xuất khẩu. <Thời báo Tài chính Việt Nam - Số 130/2000>.
Thứ hai: Do cơ cấu mặt hàng xuất khẩu của ta sang thị trờng ASEAN chủ yếu
là những mặt hàng nông sản sơ chế thuộc loại nhạy cảm và nhạy cảm cao làm chậm
quá trình giảm thuế.
Số các mặt hàng nông sản đợc bổ xung thêm vào AFTA chỉ chiếm một tỉ trọng
nhỏ mà số lợng của ta lại rất lớn, đó là một thiệt thòi của chúng ta. Đối tợng chủ yếu
của CEPT là các sản phẩm công nghiệp chế biến, vì vậy trớc tình trạng công nghiệp
hiện tại chúng ta phải đối đầu không cân xứng với các nớc ASEAN có kỹ thuật cao
nh Singapore, Malaixia.
Nh vậy, với cơ cấu xuất khẩu nh hiện nay, lợi ích mà chúng ta thu đợc từ AFTA
không đáng kể, do sức cạnh tranh và u đãi với hàng hoá xuất khẩu của ta còn thấp
kém so với khu vực. Đối diện với thực tế và tơng lai thì chúng ta chỉ có thể cạnh
tranh trên thị trờng ASEAN những sản phẩm mang tính độc đáo của bản sắc Việt
Nam.
Thứ 3: Với 2/3 doanh số buôn bán của Việt Nam với ASEAN đợc vận chuyển
và lấy Singapore làm thị trờng trung gian, điều đó cũng gây tổn thất rất nhiều cho các
doanh nghiệp Việt Nam tham gia xuất khẩu. Còn với các nớc khác: Malaixia - Thái
Lan, Philipin hàng Việt Nam chủ yếu là nông sản cha chế biến và đều thuộc loại
hàng nhạy cảm vì vậy không đợc hởng quyền lợi cắt giảm thuế.
Nói tóm lại, CEPT cha cải thiện đợc thị trờng xuất khẩu của Việt Nam vào thị
trờng ASEAN mà chỉ có tác dụng sang thị trờng khác do việc hạ đợc chi phí sản xuất
Bình Dơng APEC; Tổ chức các quốc gia Đông Nam á (ASEAN) và WTO. Song vấn
đề với chúng ta là phải làm sao để đợc hởng những tối huệ quốc mà WTO đem lại
cho việc rộng mở của chúng ta. Vấn đề đầu tiên để tham gia là làm sao đàm phán
nhằm thoả thuận và đợc sự đáp ứng của các quốc gia trong việc Việt Nam gia nhập
WTO. Thực chất của vấn đề đàm phán Việt Nam WTO là vấn đề làm sao cho Mỹ
chấp nhận sự có mặt của chúng ta trong WTO, bởi lỹ Mỹ đóng vai trò lãnh đạo
trong các vấn đề của WTO: Xét về phơng diện thị trờng thì Mỹ là thị trờng hấp dẫn
nhất mà tất cả các nớc đều tìm kiếm để nâng cao lợi ích kinh tế của mình. Việc đàm
phán mở cửa thị trờng của Việt Nam - WTO thực chất là đàm phán Việt - Mỹ nhằm
đạt đợc những sự nhợng bộ của Mỹ với Việt Nam trên cơ sở có đi có lại. Hơn thế
nữa, nếu chúng ta có là thành viên của WTO đi nữa mà không đạt đợc một sự thoả
thuận nào với Mỹ thì cũng không đợc hởng qui chế MFN và GSP. Do vậy đàm phán
song phơng Việt - Mỹ có tính độc lập và then chốt với việc gia nhập WTO. <Hiện
nay, việc Việt Nam gửi đơn gia nhập WTO thì Mỹ vẫn là nớc gây trở ngại nhất: 327
câu hỏi chiếm 52.7% so với EU là 243 câu chiếm 34.46% tổng số câu hỏi mà Việt
Nam phải trả lời>. Không chỉ dừng ở đó, trở ngại còn đến Việt Nam trên con đờng
12
gia nhập WTO là Luật Jackson - Vanik, luật chống bán phá giá và đối kháng của Mỹ
(AD & CVD law) liên quan đến cơ chế quản lý giá cả và sự can thiệp của Nhà nớc
vào công nghiệp và các doanh nghiệp Nhà nớc (SOEs) vì vậy việc xem xét lại chính
sách công nghiệp và các SOEs là điều quan trọng mà chúng ta phải làm. Vì vậy điều
cơ bản với chúng ta là phải làm sao thoả hiệp nhằm đạt đợc những u đãi trong MFN
và GSP của Mỹ trớc khi là thành viên chính thức của WTO.
2. WTO - cơ chế mang lại sự tin cậy của quốc tế vào chính sách của mỗi quốc
gia.
Thành lập vào tháng 1/1995, WTO nhằm quản lý các hiệp ớc thơng mại đa biên
đợc thơng lợng bởi các thành viên của tổ chức này. Khi hiểu về WTO ta cũng có thể
có hai cách hiểu:
Thứ nhất: WTO là một cơ quan đợc gắn với hàng loạt các qui định và luật pháp
về việc sử dụng các chính sách thơng mại tác động đến luồng mậu dịch quốc tế.
cạnh tranh toàn cầu trong một thị trờng quốc tế cạnh tranh cha hoàn hảo.
Đó là ý kiến riêng của tác giả Nguyễn Hải Trờng, song thiết nghĩ trong điều
kiện hiện tại của Việt Nam thì việc chịu trách nhiệm và tiến hành đi sâu, đi sát thực
tế là yếu tố cơ bản và cần thiết. Có đi sâu, trực tiếp chịu trách nhiệm về những quyết
định của mình thì ngời thực thi mới toàn tâm, toàn lực,... Từ đó nâng cao tính cộng
đồng trong quản lý, tránh những quyết định chủ quan duy ý chí vì t lợi riêng của cá
nhân mà thiệt hại cho xã hội, nâng cao hiệu quả kinh tế xã hội.
14
phần II
cơ cấu kinh tế Việt Nam trong
tiến trình hội nhập
I-/ Vai nét về cơ cấu kinh tế Việt Nam những năm qua.
1. Cơ cấu kinh tế.
Khi bắt đầu bớc vào nghiên cứu cơ cấu kinh tế nói riêng và cơ cấu nói chung,
chúng ta có nhiều cách tiếp cận đến vấn đề này, bởi lẽ, cơ cấu theo triết học là dùng
để biểu thị cấu trúc bên trong, tỉ lệ và mối quan hệ giữa các bộ phận hợp thành của
một hệ thống. Cơ cấu còn biểu hiện nh là tập hợp những mối quan hệ liên kết hữu cơ,
các yếu tố khác nhau của một hệ thống nhất định. Chính vì vậy, khi tiếp cận khái
niệm cơ cấu kinh tế ta có thể nhìn nhận từ nhiều phía khác nhau:
* Đứng trên góc độ duy vật biện chứng và lý thuyết hệ thống có thể hiểu: Cơ
cấu kinh tế là một tổng thể hợp thành bởi nhiều yếu tố kinh tế của nền kinh tế quốc
dân, giữa chúng có mối quan hệ hữu cơ nhng tơng tác qua lại cả về số lợng và chất l-
ợng, trong những không gian và điều kiện kinh tế xã hội cụ thể, chúng vận động h-
ớng vào những mục tiêu nhất định.
* Một cách tiếp cận khác cho rằng: Cơ cấu kinh tế là tổng hợp các bộ phận hợp
thành tổng thể nền kinh tế quốc dân và mối quan hệ của các bộ phận đó với nhau
biểu hiện bằng tỉ trọng của mỗi bộ phận và vị trí của nó trong tổng thể nền kinh tế.
<Chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong xu thế hội nhập - Lê Du Phong - NXB Chính
trị Quốc gia - 2000>
Tuỳ thuộc vào mỗi cách tiếp cận và nghiên cứu mục đích khác nhau mà chúng
Nh vậy, theo bảng trên chúng ta có thể thấy rằng, xu hớng và thực tế chuyển
dịch cơ cấu ngành kinh tế của chúng ta hoàn toàn tích cực, có đợc nh vậy là do
những năm qua Nhà nớc ta có nhiều chủ trơng, chính sách phù hợp để thực hiện đờng
lối đổi mới của Đảng. Có đợc sự thành công này là do sự tiến bộ của một số ngành
rất rõ rệt trong những năm gần đây, tốc độ tăng trởng bình quân của nhóm ngành lớn
của nền kinh tế cũng khác nhau, tăng trởng nhanh nhất thuộc về nhóm ngành công
nghiệp, sau đến dịch vụ và tiếp đến là nông nghiệp. Tốc độ tăng trởng GDP bình
quân 7 năm từ 1991 - 1997 đạt 3,4%, trong khi công nghiệp 13,5% và dịch vụ là
9,3%. Đặc biệt nớc ta kể từ sau khủng hoảng tài chính tiền tệ Đông Nam á, chúng ta
vẫn luôn duy trì đợc tốc độ tăng trởng GDP khá cao: Năm 1998 là 5,8% trong đó có
sự đóng góp của công nghiệp 10,5%, nông nghiệp 2,7% và dịch vụ là 4,2%. Đến năm
1999, trong khi các nớc Đông Nam á vẫn cố gắng khắc phục mức tăng trởng âm của
nền kinh tế thì chúng ta vẫn đạt tốc độ tăng trởng 4,8% (Công nghiệp 7,7%, nông
nghiệp 5,2% và dịch vụ 2,3%). Trong sự phát triển đó có sự đóng góp không nhỏ của
ngành ngoại thơng Việt Nam. Năm 1998 với kim ngạch xuất khẩu 8,9 tỉ USD, tởng
rằng con số 10 tỉ USD đối với ta năm 1999 là hoàn toàn khó khăn song chúng ta vẫn
đạt đợc với con số 11,5 tỉ USD tăng 23% so với năm 1998, đặc biệt trong sự tăng tr-
ởng này các sản phẩm nông sản tăng mạnh: gạo tăng hơn 20%, cao su 38%, cà phê
16
27%, hồ tiên tăng 2,3 lần, chè 13% và dầu thô tăng trên 20%. Cũng trong năm nay,
nhập siêu tăng 5,2% mức nhập siêu năm 1998 - bội chi ngân sách thấp hơn 5%. Đó
là biểu hiện hoàn toàn sáng sủa đối với nền kinh tế Việt Nam, thúc đẩy sự phát triển
của chúng ta trong tơng lai (Thời báo kinh tế Việt Nam - Số 15, 16, 17, 18 -
04/02/2000 - 11/02/2000)
Xu thế biến đổi cơ cấu kinh tế của chúng ta là hoàn toàn phù hợp với xu thế
chuyển dịch của thế giới trong điều kiện hội nhập trên con đờng vơn lên một nớc
công nghiệp hùng mạnh trong tơng lai.
II. Định hớng chuyển dịch cơ cấu kinh tế giai đoạn 2001 - 2005
1. Vai trò ngoại thơng trong việc thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo h-
ớng công nghiệp hoá.